
Vào thời nhà Minh, chùa chiền trở thành trung tâm giáo dục chính. Nhiều quan lại đã đến chùa để học tập, tạo mối quan hệ với các tăng ni. Ngài Hám Sơn thường gặp gỡ quan Tư Mã Uông Bá Ngọc, một người bạn từ thuở nhỏ. Dù ngài đến dinh phủ để hội họa thảo, nhưng vẫn luôn giữ thái độ kính trọng. Một lần, khi ẩn cư tại Bàn Sơn, quan Uông Bá Ngọc đã gửi người tới thỉnh ngài trở về Bắc Kinh để trao đổi tri thức.
Tại Ngũ Đài Sơn, quan Thái thú Hồ Thuận An, trông coi ải Nhạn Môn, thường đến thăm ngài. Mặc dù ngài sống giản dị, nhưng quan này vẫn thể hiện sự tôn trọng bằng cách thay đổi khẩu vị ăn uống. Một ngày nóng nực, quan hỏi:
- Pháp sư giải nhiệt như thế nào trong ngày hè oi bức?
Chúa trả lời:
- Tâm yên thì tự nhiên lòng nhẹ nhàng, Làm sao lo lắng cho thân phận bất hạnh? Mọi điều đều do số phận và vận mệnh quyết định, Tại sao còn phải trải qua cảm giác nóng bức hoặc lạnh lẽo?
Thái thú Hồ Thuận An nói:
- Pháp sư có phẩm hạnh cao cả, không thể so sánh được với người bình thường. Nhưng người này vẫn cảm thấy nóng bức trong lòng, hy vọng Pháp sư chỉ bảo cho người thường này biết cách làm dịu bớt nhiệt độ.
Chúa cười và trả lời:
- Ở đây, suối nguồn vẫn còn đóng băng nhiều nơi. Ngay cả vào mùa hè, tuyết vẫn chưa tan. Nếu bạn muốn, hãy ở lại vài ngày để thưởng thức nước đá mát lạnh. Thực ra, khí nóng hay lạnh đều là do tâm sinh ra. Tâm của chúng ta chính là Phật, không có sự nóng lẫn lạnh. Sử dụng nước đá để làm dịu cũng là tương tự như sử dụng ma chú, vì vậy nhà Phật không nên dựa vào nó.
Thái thú Hồ Thuận An mỉm cười đáp:
- Nơi an trú của Pháp sư, thật là một thế giới kỳ lạ. Lời dạy của Pháp sư làm cho người phàm nhận ra rằng sự tranh chấp giữa danh vọng và nhục nhã đều là hão huyền. Nhiệm vụ của người phàm cũng đóng băng như nước đá.
Ngài nói:
- Nếu bạn giữ vững niệm Phật như vậy, tâm bạn sẽ không khác xa tâm của Phật.
Thái thú Hồ Thuận An ngẩng mày nói:
- Thầy sư đã chỉ bảo. Nếu sau này tôi có thể giúp được gì, xin đừng ngần ngại nói với thầy sư.
Vào mùa đông đó, trụ trì chùa Tháp Viện là thầy Đại Phương bị tố phạm luật nên bị quan quân bắt giữ. Do núi Ngũ Đài có nhiều gỗ quý, nên kẻ gian muốn đốn hạ. Họ đã nhiều lần cố gắng đốn cây, phá rừng nhưng bị thầy Đại Phương ngăn chặn. Vì vậy, họ âm mưu vu cáo thầy là kẻ tu hành không chân chính. Lúc ấy, khi thầy Đại Phương đang tu thiền tại am Long Môn, Thiền sư Triệt Không đến và kể lại việc thầy Đại Phương bị oan và gian thương muốn phá rừng xung quanh chùa viện. Thấy vậy, ông ấy nói:
- Thầy đừng lo lắng. Vấn đề này bần tăng sẽ giải quyết được.
Thiền sư Triệt Không nói tiếp:
- Quan phủ có uy lực. Con là tăng sĩ, không có quyền thế hay tài sản, chỉ có đôi bàn tay trắng thôi, làm sao có thể giúp được?
Ngài trả lời:
- Tôi sẽ nỗ lực giúp thầy Đại Phương trở về chùa.
Nói xong, ngài liền bước qua tuyết đến tận ải Nhạn Môn tại núi Sùng Sơn. Lúc đó, Thái thú Hồ Thuận An đang nghỉ ngơi trong doanh trại, nghe báo cáo có một tăng sĩ đến tìm, thấy khá lạ lùng, vì giữa thời tiết lạnh giá như vậy, ai lại tìm đến? Mặc dù nghĩ như vậy, ông vẫn ra ngoài doanh trại xem thì ngạc nhiên phát hiện người tìm mình chính là Hám Sơn. Ông vui mừng rất, lấy áo bào che cho ngài, sau đó dẫn ngài vào doanh trại.
- Bạch thầy, người này vẫn muốn lên núi tham vấn bạn, nhưng mấy ngày qua tuyết rơi nhiều, che lấp đường đi, nên không thuận tiện. Nhưng hôm nay, khi Pháp sư đến thăm, thật là phước lành cho người này.
Ngài cũng đáp lễ, sau đó nói:
- Hôm nay tôi vượt tuyết đến đây chỉ vì một việc, mong quan Thái thú giúp đỡ.
Thái thú Hồ Thuận An bất ngờ hỏi:
- Có việc gì quan trọng mà Pháp sư phải vất vả đến đây?
Ngài trả lời:
- Nếu Thái thú đồng ý, bần tăng sẽ trình bày sự việc.
Thái thú Hồ Thuận An nói:
- Pháp sư hãy yên tâm kể chi tiết sự việc. Nếu có thể giúp, người này không ngại khó khăn gì.
Ngài nói:
- Cách đây vài ngày, thủ hạ của Thái thú đã giam giữ thầy Đại Phương, người trụ trì tại núi Ngũ Đài. Mong Thái thú có lòng từ bi tha thứ cho thầy.
Nghe vậy, Thái thú Hồ Thuận An bất chợt nhớ lại việc bắt giam thầy Đại Phương về tội mượn áo tu hành làm điều không tốt. Nếu ông thả thầy Đại Phương theo ý ngài, thì ông sẽ mất uy tín với bộ hạ vì không tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt. Nhưng nếu từ chối, làm sao ông nói chuyện với ngài. Trong lúc ông suy nghĩ, ngài đã nhắc lại việc các gian thương đốn gỗ phá rừng và vu oan thầy Đại Phương. Ngài nói:
- Núi Ngũ Đài có rất nhiều cây cổ thụ đã tồn tại hàng ngàn năm. Nếu để cho các gian thương chỉ vì lợi ích nhỏ mà phá hủy, thì khu vực đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù sẽ không còn là một vùng đất thơ mộng, xanh tươi nữa. Thế mà Thái thú không can thiệp để bảo vệ rừng cây này vì lợi ích của con cháu hậu thế?
Thái thú Hồ Thuận An nghe xong ngay lập tức đáp lại:
- Lúc trước, khi nghe báo cáo về việc thầy Đại Phương giả danh tu hành để làm những việc không tốt, nên bản chức mới tạm thời bắt giam để đợi xét xử. Bảo vệ rừng cây trên núi Ngũ Đài là việc cần thiết. Có lẽ vì thuộc hạ của kẻ này quá bất trọng nên đã bị oan cho người lương thiện. Pháp sư đừng lo, ông ta sẽ thả thầy Đại Phương ngay lập tức.
Ngài gật đầu và nói:
- Thật là may mắn! Thật là may mắn! Thái thú thật là sáng suốt. Dân chúng đều kỳ vọng vào Thái thú để được hưởng phước lành. Nếu Thái thú có thể ban bố lệnh cấm chặt cây phá rừng, thì công đức sẽ vô cùng to lớn. Từ nay về sau, rừng cây sẽ được bảo tồn, đạo tràng Đức Văn Thù sẽ được bảo vệ, các tăng ni sẽ có nơi yên bình tu tập và truyền bá pháp, dân chúng sẽ được dạy dỗ để sống một cuộc sống lương thiện, và tội phạm sẽ giảm bớt.
Thái thú Hồ Thuận An ngay lập tức ra lệnh thả thầy Đại Phương và ban hành một công điện, cấm chặt cây đốn phá rừng trên núi Ngũ Đài. Khi quan Thái thú đích thân đi điều tra, những kẻ gian thương trên núi đã nhanh chóng lẩn trốn. Sau khi giải quyết vấn đề, quan Thái thú mời ngài ở lại doanh trại để thảo luận về Phật pháp trong mùa đông. Không thể từ chối, ngài phải ở lại đó cho đến năm mới.

Năm mới đến, quan quân tại ải Nhạn Môn rộn ràng chuẩn bị đón giao thừa. Tuy nhiên, cảnh tượng ấy không phù hợp với tâm trạng thanh tịnh của người tu hành, nên ngài chỉ ngồi thiền trong doanh trại mà không đi đâu, chỉ khi nào quan Thái thú đến thì mới bắt đầu giao tiếp. Lúc đó, quan khai phủ Cao Công, trấn nhậm thành Đại Quách gần đó nghe tin ngài ở trong doanh trại của Thái thú Hồ Thuận An liền đến gặp và năn nỉ:
- Trong nhà của tôi có treo nhiều tấm thiếp. Nay tôi muốn xin cao nhân viết một bài thơ để ăn Tết, xin hỏi ông có thể giúp không?
Quan Thái thú đồng ý và nói với ngài về yêu cầu đó. Ngài trả lời:
- Học thức của tôi cạn kiệt. Đầu óc trống rỗng, làm sao viết được thi kệ.
Dù tôi từ chối, nhưng Cao Công vẫn nài nỉ, vì thế Hồ Thuận An buộc tôi viết kệ. Cuối cùng, vì lòng kính trọng, tôi nhờ ông ta lấy các bài thi kệ cũ ra để tôi xem lại, hy vọng kích thích tư duy. Khi mở ra và đọc, từ ngữ của kệ bắt đầu tuôn trào theo dòng tư tưởng không kiềm chế được. Khi Hồ Thuận An rời đi, tôi đã viết xong khoảng ba mươi bài kệ chỉ trong một thoáng chốc.
Nhận ra điều đó, tôi tự nhủ: “Rủi ro, chỉ cần một chút sa sút trong tu hành mà tư duy không kiềm chế được. Đây chắc chắn là tác động của tà văn”. Tôi ngừng viết ngay lập tức, kiềm chế tư duy, không nghĩ về việc viết kệ nữa. Tôi chỉ đưa cho Cao Công một bài kệ để ông ta an lòng, không cho những bài kệ khác. Sau đó, tôi đi vào phòng riêng để nghỉ, nhưng bài kệ đã từng viết lại bắt đầu tuôn trào không kiềm chế được.
Lúc đó, cảm giác lưu luyến tràn ngập, cảm xúc trong tôi rối bời khiến tôi không biết tâm trí ở đâu, chỉ cảm thấy như muốn bay lên không gian và để tư duy tự do tuôn ra. Hôm sau, tôi suy ngẫm: “Đây chính là căn bệnh tâm lý mà Thiền sư Pháp Quang đã từng nói. Lúc này, không ai có thể giúp tôi thoát khỏi nó. Vậy, chỉ còn cách là ngồi thiền để làm dịu bệnh tình”.
Tôi đóng cửa phòng, ngồi thiền để làm tĩnh tâm và nhập vào trạng thái thâm sâu mà không nhận ra. Khi Hồ Thuận An nghe tin tôi không xuống ăn uống trong ba ngày, ông ta tìm đến hỏi, và người hầu đáp lại.
- Thưa quan Thái thú, đã ba ngày nay Pháp sư vẫn chưa xuống giường thiền.
Thái thú Hồ Thuận An nói:
- Vậy ngươi đã gõ cửa chưa?
Đồng tử trả lời:
- Tiện nhân đã gõ cửa mấy lần, nhưng không thấy ai trả lời.
Hồ Thuận An đến phòng, qua cửa sổ thấy Pháp sư đang yên bình ngồi thiền, mặt vẫn rạng rỡ như bình thường. Ông nói:
- Pháp sư đã nhảy định. Các người đừng làm phiền ngài. Khi đến lúc thích hợp, ngài sẽ kết thúc thiền.
Hai ngày sau, thấy Pháp sư vẫn chưa kết thúc thiền, Hồ Thuận An lo sợ sai lầm, vì thế gia nhân trèo qua cửa sổ, kêu Pháp sư kết thúc thiền. Mọi người huyên náo, nhưng Pháp sư vẫn yên tĩnh, mặt không vui vẻ, hơi thở êm đềm. Quan Thái thú bối rối, thì thấy một cây khánh trên bàn thờ Phật. Ông nhớ rằng trước đây đã được giải thích về việc sử dụng cây khánh này. Ngài nắm lấy nó, đặt vào tai Pháp sư và nhẹ nhàng đánh vài tiếng.
Kết quả, Pháp sư dần dần kết thúc thiền. Thấy điều này, Hồ Thuận An mừng rỡ nói:
- Thật may mắn, Pháp sư đã kết thúc thiền! Chỉ cần một chút nữa là người này sẽ hoảng sợ tới nỗi ngất xỉu vì Pháp sư rồi.
Tuy nhiên, lúc ấy ngài vẫn mê man không biết tâm trí hiện đang ở đâu, bèn hỏi:
- Ở đây là đâu vậy? Tôi nhớ chỉ mới bắt đầu hơi thở đầu tiên mà thôi.
Hồ Thuận An đáp:
- Khi ông Cao Công vừa rời đi, Pháp sư đã bắt đầu thiền và đã làm như vậy liên tục trong năm ngày đêm.
Nghe thế, ngài im lặng quan sát những điều vừa xảy ra. Ngài mới đây còn ở trên núi Ngũ Đài tu thiền, giờ lại ở trong trấn lính, từ trong lòng, mọi việc từ quá khứ đến hiện tại hiện lên như trong một giấc mơ. Hư không yên bình như mây trôi, không gì có thể làm phiền. Mọi thứ đều yên bình, không hình dung. Tâm không còn bị ảnh hưởng, cảm giác an lạc vô cùng, khiến ngài hứng khởi và viết kệ:
“Hiểu biết sâu rộng đến tận cùng
Tâm trí thong thả, không gắn bó với gì cả
Nhìn xem thế giới xung quanh
Như một cảnh trong giấc mơ.
Những lời dạy của các Phật thánh
Không hề cảm thấy mong manh
Nhìn lại nửa cuộc đời
Lang thang khắp bốn phương trời,
Chỉ như trong giấc mộng.
Biết bao suy nghĩ tràn ngập
Trong lòng tan như khói.”
Sau khi hoàn tất xả định, ngài quay về núi Ngũ Đài. Vài ngày sau, thầy Đại Phương được thả về cùng với đoàn quân địa phương, ra thông báo cấm chặt cây đốn rừng. Từ đó, tăng chúng trên núi Ngũ Đài rất kính trọng và biết ơn ngài. Mặc dù được mời ở trong ngôi chùa chính trên Ngũ Đài, nhưng ngài từ chối và vẫn ở lại am Long Môn tu khổ hạnh cùng với thầy Triệt Không.
Một ngày nọ, một trận bão tuyết đổ về Ngũ Đài. Tuyết trắng phủ khắp mọi nơi, biến nơi đây thành một thế giới bạt ngàn. Am của ngài tại Long Môn bị tuyết lấp kín, nhưng ngài và thầy Triệt Không vẫn bình tĩnh ngồi thiền. Tuyết rơi ngày càng dày, khiến tăng chúng trên núi lo lắng, vì họ ở trong chùa được xây dựng kỹ lưỡng, trong khi am của ngài chỉ là một cơ ngơi sơ sài, không thể chịu được giá lạnh.
Vì thế, hơn ba trăm tăng chúng từ Bắc Đài, Trung Đài và chùa Bạch Mã mang theo cuốc xẻng đến am Long Môn. Con đường đến Long Môn trơn trượt, gập ghề, tuyết phủ kín. Nếu không cẩn thận, dễ dàng trượt chân xuống vực sâu. Khi đến Long Môn, họ phát hiện am của ngài đã bị tuyết phủ kín, không còn thấy am tranh. Hơn ba trăm tăng chúng phải đào xới suốt cả hai ngày mới tìm thấy am tranh của ngài bị chôn vùi dưới đám tuyết sâu. Khi bước vào am, họ thấy hai ngài vẫn bình thản ngồi thiền gần lò bếp. Thấy họ, ngài cảm ơn và nói:
- Người tu hành phải vượt qua những thử thách này. Nước đá ngoài cửa đã được đun nóng lên. Quý vị đã phải chịu đựng nhiều ngày để giúp chúng tôi. Xin mời các vị ngồi xuống và uống trà.
Trước sự sống chết trên sợi tơ của cuộc đời, gương mặt ngài vẫn bình tĩnh tự tại, khiến tăng chúng ngỡ ngàng. Tin ngài sống sót sau bao ngày bị tuyết vùi lấp khiến toàn bộ tăng chúng trên núi Ngũ Đài kính trọng. Họ tin rằng ngài được sự bảo hộ của chư Phật.
Hôm sau, người dân trong vùng, khi nghe tin hai ngài thoát chết, mang đến am Long Môn bánh trái, rau củ để cúng dường. Số lượng người đến thăm viếng càng ngày càng đông đúc, không đủ chỗ đứng trong am. Trong những trận bão tuyết sau này, ngài và thầy Diệu Phong thường nhập định tại am Long Môn, và việc tu thiền trong tuyết lạnh đã trở nên quen thuộc với họ.

Vào mùa xuân năm sau, ngài Hám Sơn quyết định báo đáp lòng biết ơn sâu sắc của cha mẹ. Ngài nhớ đến truyền thống của các vị cao tăng đã từng trích máu viết kinh, và quyết định viết kinh Hoa Nghiêm bằng máu, nhằm kết duyên cùng trí tuệ Bát Nhã để đền đáp ân huệ của cha mẹ. Tin tức về việc này lan truyền khắp nơi, thậm chí Lý Thái hậu ở Bắc Kinh cũng gửi giấy bằng bột vàng đến cúng dường, mở đầu cho mối quan hệ phức tạp giữa ngài và hoàng gia sau này.
Năm ba mươi ba tuổi, vào niên hiệu Vạn Lịch thứ sáu (1579), ngài tập trung vào việc viết kinh bằng máu. Kỹ thuật thư pháp của ngài rất xuất sắc, nhờ đã được huấn luyện từ nhỏ bởi các vương gia. Với tinh thần tu thiền, mỗi khi viết chữ, ngài đều tập trung niệm Phật. Ngày chư tăng đến viếng thăm, ngài vừa viết vừa trò chuyện, không dừng tay, không quên lời, không ngừng niệm Phật, và không mắc phải lỗi chính tả nào.
Do đó, các nhà phê bình thư pháp đến để thảo luận với ngài mà không làm gián đoạn việc viết kinh. Khi xem xét lại, họ kinh ngạc vì không tìm thấy bất kỳ lỗi chính tả nào trong bài viết của ngài. Các vị cao niên trong giới thư pháp cũng rất kinh ngạc, và thường đến thử thách ngài, thậm chí cố ý gây rối để phân tâm, nhưng ngài vẫn không mắc phải bất kỳ lỗi nào. Khi được hỏi về điều này, thầy Diệu Phong đã trả lời: “Vì sư đệ của tôi đã đạt đến đỉnh cao của thiền định, nên trí tuệ mới phát triển được như vậy”.
Danh tiếng đạo đức tu hành của ngài ngày càng được biết đến rộng rãi, thu hút nhiều người đến núi Ngũ Đài tìm kiếm sự chỉ dạy của ngài. Từ khi sinh sống tại Ngũ Đài đến khi bắt đầu viết kinh bằng máu, ngài thường trải qua những giấc mộng thiêng liêng.
Một đêm, trong giấc mơ, ngài thấy mình nhập vào động Kim Cang. Trước mặt là chùa Đại Bát Nhã. Bước vào, ngài thấy chùa rộng lớn như mơ màng, trang nghiêm và thanh tịnh. Trong chánh điện, chỉ có một sàng thiền lớn. Quốc sư Thanh Lương nằm trên sàng, còn thầy Diệu Phong đứng bên trái. Ngài lập tức quỳ xuống đảnh lễ và đứng bên phải.
Quốc sư Thanh Lương khai thị: “Bước vào cõi Phật, gọi là sự hỗ nhập của cảnh giới, chủ khách và tướng khách đều tương giao mà không động đậy”. Theo lời giảng của Quốc sư Thanh Lương, các cảnh giới hiện ra rõ ràng và ngài cảm thấy hòa mình với chúng. Thầy Diệu Phong hỏi Quốc sư Thanh Lương: “Thưa bạch Quốc sư, đây là những cảnh giới nào?”. Quốc sư Thanh Lương cười và đáp: “Vô cảnh giới của cảnh giới”.
Khi tỉnh giấc, ngài thấy thân tâm và môi trường xung quanh hòa quện hoàn toàn, không còn sự nghi ngờ làm phiền nữa.
Trong một đêm khác, ngài mơ thấy mình bay lên cao, xa tận vô cùng. Sau đó, hạ xuống, ngài thấy mười phương thế giới yên bình, vắng vẻ, chỉ còn đất bằng như gương, chiếu sáng rực rỡ. Trong tòa lâu các rộng lớn, hiện ra tất cả sự vật trên thế gian, từ con người, động vật đến thành phố, làng mạc; mọi thứ đều tự nhiên tồn tại, tự do di chuyển.
Trong tòa lâu này, có một tháp vàng rực sáng. Người ta gọi đó là Kim Cang. Sự trang nghiêm của nơi này là không thể phủ nhận. Tôi muốn tiến gần hơn, nhưng tâm tôi chợt nghĩ rằng trong cảnh này, có thể có những ẩn nguy hiểm. Khi tôi nhận ra điều này, thì tòa lâu tự nhiên trở nên xa xôi. Tôi tỉnh giấc và nhận ra rằng cảnh giới này phản ánh tâm hồn của tôi. Tôi nghĩ về điều này và tòa lâu lại xuất hiện trước mắt tôi. Trong cảnh này, tôi nhìn thấy nhiều vị cao tăng, họ có hình dáng cao lớn và vẻ ngoài trang nghiêm và thanh lịch. Trong lúc tôi đi, tôi gặp một người trẻ em cầm một cuốn kinh, và đưa cho tôi.
Hòa thượng đang giảng kinh, nên tôi mang đến cho bạn.
Tôi nhận cuốn kinh, mở ra và đọc, nhưng chỉ thấy những dòng chữ Phạn bằng vàng mà không hiểu nổi. Tôi đặt cuốn kinh vào túi và hỏi người trẻ em:
Xin hỏi người, Hòa thượng nào đang giảng kinh ấy?
Người trẻ em trả lời:
Ngài chính là Bồ Tát Di Lặc.
Ngài vui vẻ theo người trẻ lên tầng lầu của lâu các. Khi đó, ngài đóng mắt và tập trung vào chánh niệm cho đến khi nghe thấy tiếng chuông vang lên. Ngài mở mắt và thấy Bồ Tát Di Lặc đã ngồi trên ngai. Ngài kính phục và cúi đầu. Nhìn lên, ngài thấy vẻ đẹp của Bồ Tát Di Lặc không gì sánh được trên thế gian này.
Sau khi kính lễ Bồ Tát Di Lặc, ngài quỳ xuống trước Bồ Tát và mở sách kinh. Nghe Bồ Tát nói: “Phân biệt là sự thức. Không phân biệt là trí. Theo thức là bị lụy. Theo trí là thanh tịnh. Bởi vì lụy nên sinh tử. Bởi vì thanh tịnh nên có chư Phật”. Nghe điều này, ngài cảm thấy tâm trí sáng sủa, tiếng nói của Bồ Tát Di Lặc rõ ràng, mở mang tâm hồn của ngài.
Khi ngài tỉnh giấc, tiếng nói của Đức Di Lặc vẫn còn vang vọng trong tai, không mất đi một từ nào. Từ đó, ngài hiểu sự khác biệt giữa trí và thức, và nhận ra cõi nước mà ngài đang ở, lâu của Bồ Tát Di Lặc tại nội viện của cõi trời Đâu Suất.
Một đêm khác, ngài mơ thấy một vị tăng đến nói:
Bồ Tát Văn Thù trên đỉnh Bắc Đài có lễ tẩy tịnh. Nay thỉnh ngài đến.
Ngài đi theo một vị tăng đến một điện đường rộng lớn, mùi hương lạ bay đầy khắp nơi. Mọi người đều là Phạm tăng. Ngài được dẫn vào buồng tắm. Ngài cởi y và tắm, nhưng thấy có một người nữ đã ở trong bồn tắm. Nhìn kỹ, đó là một người nam. Khi đó, ngài mới dám bước vào cùng tắm chung. Người kia múc nước xối lên đầu ngài. Nước thấm vào mình ngài như tẩy rửa tất cả. Năm tạng trong người không còn nữa, chỉ còn lại bọc da, trong trắng như lưu ly. Người kia đưa trà đến, với một vị Phạm tăng cầm sọ nửa đầu người.
Ngài nhìn vào sọ, thấy máu mủ tủy não trong đó, khiến tâm nhờn ớn. Vị tăng kia quẹt lấy tủy não và đưa vào miệng ngài. Ngài nuốt xuống và cảm nhận vị ngọt như mật. Người trong bồn tắm bảo đưa nốt cho ngài. Ngài uống và cảm nhận vị ngọt chảy đến từng làn da. Vị Phạm tăng vỗ tay khiến ngài giật mình thức giấc.
Ngài thấy mình đổ mồ hôi như tắm, nhưng năm tạng trong người như được tẩy tịnh. Thân tâm ngài cảm thấy an lạc, ung dung, nhẹ nhàng.
Từ đó, trong những giấc mộng, ngài thấy chư hiền thánh Bồ Tát. Hầu hết là điềm lành. Đức Phật nói: “Thường mộng điềm lành”, đó là những điềm quý báu.
Mytour trích đăng | Ảnh được lấy từ bộ sưu tập của chúng tôi
