1. Bài mẫu số 1
2. Bài mẫu số 2
2 Bài mẫu cảm nhận về Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời
Tip Cách đánh giá một tác phẩm thơ, văn hay, gây ấn tượng
1. Đặc điểm cái tôi của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 1
Tản Đà (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ xuất sắc của văn học Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Nổi tiếng với những tác phẩm như Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Khối tình con, Tản Đà vận văn,... Ông cũng là người dịch thơ Đường xuất sắc nhất ở Việt Nam. Tản Đà thể hiện cái tôi lãng mạn, sâu sắc, buồn bã nhưng vẫn kết nối với quê hương, đất nước. Hoài Thanh gọi Tản Đà là 'người của hai thế kỷ' vì thơ ông là cầu nối giữa hai giai đoạn văn hóa của dân tộc: cổ điển và hiện đại.
Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng có thể thể hiện cái tôi của mình trên trang giấy. Cái tôi kết nối với tính cách sáng tạo của người viết. Điều này đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái tôi có giá trị thẩm mỹ cao, đóng góp tích cực cho nền văn hóa chung. Tản Đà - người nhắc đến là người 'xê dịch, ngông và đa tình'. Ba yếu tố đủ để tạo nên cái tôi riêng biệt trong thơ Việt Nam. Tuy nhiên, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong 'Hầu Trời' mang đặc điểm ngông độc đáo. 'Ngông' không chỉ là một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác biệt. Ngông ở đây ám chỉ sự tự tin dựa trên tài năng, tự tin để khẳng định mình với đời, đây mới là ngông mà mọi người chấp nhận. Người ngông tạo ra phong cách độc đáo, không giống ai nhưng để lại những ấn tượng sâu sắc.
Bài văn cảm nhận về Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời xuất sắc nhất
Tính ngông thường thấy ở các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao về tài năng và tình cảm. Bằng tài năng đó, họ không chỉ phục vụ đời mà còn để lại dấu ấn về bản thân trong thời gian. Ngông có thể xuất phát từ sự tự tin với tài năng, là nguồn hứng thú để thách thức cuộc sống và người khác. Trong cuộc sống, mỗi con người đều mang một tính cách riêng biệt, một sự phá cách không thể lẫn vào ai khác. Cái ngông đó, trong 'Hầu Trời', đã tạo nên một cái tôi độc đáo cho nhà thơ.
Nhà thơ tỏ ra ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy, tiếng ngâm thơ 'vang cả sông Ngân Hà' khiến Trời cảm thấy không yên bình.
'Đêm qua có hay không, chẳng biết
Thảng thốt mơ mòng, chẳng phải đâu
Thật hồn! Thật phách! Thật than thể
Thật sướng lạ lùng được lên tiên!'
Duyên lên hầu Trời gắn bó với câu chuyện văn thơ, liên quan đến những khoảnh khắc cảm hứng của nhà thơ. Tưởng tượng nhưng thật, có vẻ cái tôi độc đáo của Tản Đà nằm ở sự tự nhiên, hấp dẫn nhưng vẫn mang theo duyên. Việc khiến thế gian ngả mũ trước tài năng của nhà thơ đã khó, nhưng thậm chí cả Trời cũng say mê, chư tiên kính trọng, đó là điều thật kỳ lạ. Điều này làm nổi bật cái ngông của nhà thơ rõ ràng trong bài Hầu Trời. Khi có cơ hội đến Thiên đình, Tản Đà không quên 'quảng cáo' về tài năng của mình:
'Dạ bẩm lạy Trời, con xin đọc
Đọc hết văn vần, sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí, lại văn chơi
Đương cơn đắc ý, đọc đã thích
Chè Trời nhấp giọng, càng tốt hơn!'
Tác giả tỏ ra rất tự tin khi đọc thơ, khoe tài năng của mình, đọc với tinh thần cao hứng và hoàn toàn đắm chìm vào tác phẩm. Qua đó, ông thể hiện rõ cái tôi cá nhân, ý thức về tài năng của mình. Đồng thời, nhà thơ cũng giới thiệu những tác phẩm của mình:
'Bẩm con không dám man cửa Trời
Những áng văn con in đã rồi
Hai quyển Khối tình, văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng, văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu, văn vị đời
Quyển Đàn bà Tàu, lối văn dịch
Đến quyển Lên tám, nay là mười
Nhờ Trời, văn con vẫn bán chạy
Chưa biết in ra mấy mươi?'
Nhà thơ dường như hết sức hạnh phúc với sự nhận thức về tài năng của mình. Tự khẳng định bản ngã, cái tôi tự do, nhận thức giá trị tài năng giữa cuộc sống. Trước đây, các nhà nho và tài tử thường thể hiện sự tài năng của mình mà không dám đề cập đến vẻ 'tuyệt vời' của tác phẩm thơ, đặc biệt khi nói trước mặt Trời. Rõ ràng, ý thức cá nhân của nhà thơ đã phát triển vô cùng cao. Do đó, ngay cả Trời cũng không giữ lại sự khen ngợi:
'Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong một bài cùng vỗ tay.'
'Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hung mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!'
Chính sự đam mê với văn chương khiến ông tự tin sáng tác, truyền đạt những tư tưởng và cảm xúc mới lạ qua những bản thơ của mình. Có vẻ như với ông, Hầu Trời là khoảnh khắc tuyệt vời nhất. Do đó, ông chọn đưa tài năng của mình để thể hiện trước Trời và chư Tiên. Lúc này, quan điểm sáng tạo mới của ông được thể hiện: sáng tác văn chương là một nghề. Mặc dù không thể hiện trực tiếp, nhưng đằng sau từng dòng chữ, ta vẫn cảm nhận được sự tưởng tượng độc đáo về hoạt động tinh thần đặc biệt này. Đối với Tản Đà, văn chương không chỉ là niềm đam mê mà còn là nghề kiếm sống mới, một thị trường có người bán và người mua, nhưng thị trường này lại rất phức tạp và khó chiều.
'Nhờ Trời, tác phẩm của con vẫn được người đọc chấp nhận,
Và văn của con vẫn còn một chỗ đứng trên thị trường văn chương hiện nay.'
Thật bất ngờ khi thi sĩ quyết định 'quảng cáo' văn của mình lên Trời để bán.
'Chư tiên thèm khao khát tranh thủ dặn nhau:
Anh mang lên đây, bán trên chợ Thiên đàng!'
Gây sốc cho thiên cung bằng những dòng văn phong phú và lối kể độc đáo, nhà thơ không chỉ muốn tác phẩm của mình được biết đến trong cung trời mà còn mong muốn lan tỏa ra cả cung đình trần thế. Điều này mới làm nổi bật cái tôi mạnh mẽ của ông đến mức độ tối đa.
Thông qua bài thơ 'Hầu Trời', không chỉ dừng lại ở đó, Tản Đà còn phác họa hình ảnh thực tế khắc nghiệt: tài năng không phải lúc nào cũng được công nhận nhưng số phận lại thường không công bằng. Trong cuộc sống, nhà thơ thiếu đi sự may mắn, đối mặt với sự bất công và không hòa hợp với quỹ đạo của đời:
'Văn chương ở tầm thấp như bèo,
Thu nhập ít ỏi, mài mòn vất vả.
Thời gian biến đổi, ít có dư thừa,
Lao động chăm chỉ, chẳng đủ chi phí.'
Do đó, ông ấp ủ ước mơ lên Thiên đình, nơi có thể đọc thơ và tìm kiếm những tâm hồn tri âm. Chỉ có Trời và chư tiên mới có thể hiểu được cái đẹp và sự tuyệt vời trong tác phẩm thơ của ông. Và sự khen ngợi từ Trời như một lời đánh giá chất lượng không thể phủ nhận, không nghi ngờ. Đúng là lối tự tin và ngạo mạn của nhà thơ đã thể hiện rõ trong đây.
Để Trời hiểu và đánh giá thơ, Tản Đà không ngần ngại bộc lộ mình, chia sẻ về bản thân mình một cách rõ ràng, hoàn toàn phản ánh đúng cốt truyện:
'Dạ bẩm lạy Trời con hân hoan
Tên con Khắc Hiếu, họ Nguyễn truyền.
Quê con ở châu Á, Địa Cầu
Sông Đà, núi Tản, non Nam Việt.'
Khác với người xưa, Tản Đà không ngần ngại tiết lộ tên, họ của mình theo một cách rất hiện đại, với sự tự hào về quê hương và lòng yêu nước sâu sắc. Bằng cách này, ông không chỉ giới thiệu bản thân mình mà còn thể hiện tình cảm đặc biệt đối với quê hương. Bản thân cái tên - một tên thật, không phải là biệt danh - đã là một giá trị có ý nghĩa lớn mà nhà thơ tự tin giữ gìn và khoe với thế gian. Tản Đà, một con người kiêu kỳ, luôn khẳng định tài năng và tính cách độc đáo của mình, không ngần ngại thể hiện sự ngông cuồng trước chư tiên.
Từ đầu đến cuối, nhà thơ tỏ ra mạnh mẽ với tài năng của mình, và một lần nữa, ông khẳng định tính 'ngông' của mình. Tản Đà tự tin và ngạo mạn khi công bố mình là 'trích tiên' bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Ông khẳng định rằng tài năng và địa vị của mình là 'khác thường'.
Điều đặc biệt là nhà thơ được công nhận là một người có liên kết với Trời, được chỉ định xuống hạ giới để thực hiện một sứ mệnh cao cả 'về việc thiên lương của nhân loại'. Trong lời thơ, Tản Đà một lần nữa khẳng định tính 'ngông' của mình, nhưng lần này là để đối lập với sự bất công của xã hội. Ông phải làm một công việc thường dân để tìm lại thiên lương đang bị mất mát của con người:
'Hai từ thiên lương Hiếu ghi nhớ
Chẳng ngần ngại xin trời hy vọng.'
Nhà thơ nhận ra giá trị về nhân cách, một nhân cách vượt lên trên mọi ràng buộc về danh lợi. Đối lập với xã hội bất công, theo đuổi lợi ích và danh lợi.
Cuối cùng, nhà thơ vẫn muốn khẳng định và tự khen tác phẩm của mình. Thơ của thi nhân không chỉ đẹp mà còn chứa đựng những tư tưởng cao quý về cuộc sống, thiên lương, nhân sinh và thế giới quan... Tóm lại, đó là những gì nhân loại cần để tiến tới hướng chân thiện mỹ. Thách thức quan điểm 'thi dĩ ngôn chí', Tản Đà thực sự bùng nổ trong thế giới nghệ thuật, tỏ ra một cá nhân tự do mới và độc đáo.
Kế thừa tinh thần ngông ngang từ truyền thống, nhưng trong ngông của Tản Đà, không có sự dùng ngông để thể hiện thú vui và sự sung túc như Nguyễn Công Trứ. Cũng không thấy ngông trong việc tìm kiếm một phong cách, một cách thể hiện đặc trưng như Nguyễn Tuân. Ngông của Tản Đà là ngông của một người sống trong mơ: mơ về cuộc đời, mơ về sự thay đổi, đắm chìm trong giấc mơ và ngông ngạo đối diện với thế giới xung quanh. Tuy nhiên, điều quan trọng là họ gặp nhau ở một điểm cơ bản - cái tài, cái tình và ý thức về bản thân và cái tôi của mình. Họ tạo ra những phong cách nghệ thuật độc đáo, ấn tượng và khó lẫn lộn với ngông của bất kỳ nhà thơ nào khác.
Bài thơ 'Hầu Trời' là bức tranh tâm huyết của Tản Đà, là nơi khắc họa rõ nét cái tôi của ông. Không chỉ là nội dung, những chi tiết độc đáo và sáng tạo còn làm nổi bật cái tôi nghệ sĩ. Dù 'Hầu Trời' có chiều dài khá lớn, nhưng chính điều đó tạo nên sự phong phú về tự sự. Nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên, cuộc sống của cảm xúc cá nhân, giúp nhà thơ thoải mái thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên, được sáng tác một cách tự do và phóng túng theo cá tính đặc trưng của Tản Đà.
'Hầu Trời' còn đặc biệt với hiện tượng chia khổ, các khổ thơ đa dạng về độ dài, tạo nên sự tự do và sáng tạo mới trong nghệ thuật thơ văn. Tản Đà không ngần ngại phá vỡ những giới hạn nghệ thuật và nội dung, một sự đổi mới rõ ràng trong tác phẩm của ông.
Cái tôi của Tản Đà được thể hiện qua sự hòa quyện của nhiều yếu tố độc đáo. Tổng hợp tất cả tạo nên hình ảnh của một nhà thơ Nho tài tử, đa tình, ngông ngả và phiêu lưu. Sự kết hợp giữa cũ và mới, xưa và nay tạo nên một Tản Đà kết nối hai thời đại thơ ca, trở thành một ngôi sao sáng rực trên bảng văn học Việt Nam.
"""" KẾT THÚC BÀI 1 """"
Sau khi tham khảo bài viết cảm nhận về cái tôi độc đáo của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, có thể xem thêm các bài văn mẫu hoặc liên quan đến bài Hầu Trời trên Mytour như Cảm nghĩ về bài thơ Hầu trời của Tản Đà, Soạn văn lớp 11 - Hầu trời, Cái tôi phóng túng, ngông nghênh và khát khao khẳng định chính mình giữa cuộc đời của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, v.v.
2. Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 2
Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét rằng: 'Tản Đà là thi sĩ mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại, là người đầu tiên có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi'. Tản Đà, với bản lĩnh của mình, mang đến một luồng sinh khí mới cho văn học Việt Nam. Ông thể hiện cái tôi bản ngã một cách độc đáo và mới mẻ trong bài thơ 'Hầu Trời'.
Tản Đà không ngần ngại thể hiện cái tôi cá nhân - một cái tôi ngông nghênh, phóng túng lạ kỳ! Đây là cách ông thể hiện ý thức về tài năng, giá trị thực sự của bản thân và khao khát được khẳng định giữa cuộc sống. Tóm tắt nội dung bài thơ: Đêm khuya thanh vắng, thi sĩ buồn nên đun nước pha trà uống và cất tiếng ngâm văn. Tiếng ngâm vang vọng tới trời cao. Hai tiên nữ xuống truyền lệnh Trời đòi thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ được đón tiếp trọng vọng, được mời đọc văn thơ. Trời và chư tiên hết lời khen ngợi, tán thưởng. Trời truyền hỏi danh tính, thi sĩ kể về khó khăn của người theo đuổi nghề văn dưới hạ giới. Trời an ủi, khuyên nhủ, thi sĩ cảm kích lạy tạ và về. Cuối cùng là cuộc chia tay xúc động của thi sĩ với Trời và chư tiên.
Cách Tản Đà mở đề bài thơ rất thú vị, tạo cảm giác về sự tài năng sáng tạo và lối hướng dẫn độc đáo:
Đêm qua có điều gì kỳ bí không biết, Không phải là giật mình, không phải là mơ mộng. Thực hồn! Thực phách! Thực thân thể! Thực sự được lên tiên - hạnh phúc kỳ lạ.
Giấc mơ đêm qua, người thơ không rõ nó có thực sự hay không, nếu là mơ thì chắc chắn không có sự thật; nhưng mọi chi tiết và hình ảnh vẫn hiện lên một cách rõ ràng, khiến ta không thể không tin. Do đó, ở ba câu tiếp theo, thi sĩ quyết định khẳng định như đang nói chuyện với người nghe. Ngôn ngữ mạnh mẽ nhấn mạnh vào yếu tố thực tế: Thực hồn! Thực phách! Thực thân thể! Thực sự được lên tiên - hạnh phúc kỳ lạ. Tất cả đều kích thích sự tò mò và lôi cuốn người nghe.
Phân tích đặc điểm độc đáo của cái tôi trong bài Hầu Trời của Tản Đà để nhận thức được tính cách và ý thức tự thân về tài năng của tác giả.
Ở các khổ thơ tiếp theo, tác giả tả về tình huống khi bản thân được Trời mời lên Thiên đình:
Khi buổi tối vắng lặng một mình, Bóng chân uốn dưới ánh đèn xanh. Nằm buồn, dậy đun nước uống, Uống xong, nằm ngâm văn thơ. Chơi văn ngâm chán, quay lại trò đùa với ánh trăng. Ra sân, bóng tối đèn đi tung tăng. Bất ngờ trên trời xuất hiện hai tiên nữ, Miệng cười tươi tắn và nói rằng:
- 'Trời dưới hạ giới có ai ngâm nga, Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà! Làm Trời mất ngủ, Trời đang mắng Có hay đọc lên, Trời đang nghe'. Ước mãi đến giờ mới gặp tiên! Người tiên nghe tiếng như quen! Văn chương nào cũng có hay lắm, Trời đã gọi lên thì phải lên. Theo hai tiên nữ trên đường mây, Vù vù, không cánh như đang bay. Cổng son đỏ chói, oai rực rỡ, Thiên môn đỉnh cao như là đây! Bước vào thấy Trời, sụp xuống lạy, Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy. Ghế bành trắng như tuyết, vân như mây, Truyền cho văn sĩ ngồi chơi ấy.
Tình huống câu chuyện bắt đầu từ tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà của thi sĩ dưới hạ giới khiến Trời mất ngủ. Rõ ràng, cái duyên may được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cao hứng của thi sĩ. Dường như tác giả muốn nói rằng câu chuyện tuy không có thật nhưng lại rất thật về tâm sự và nỗi niềm của mình. Chuyện bịa mười mươi mà xem ra rất tự nhiên, hấp dẫn.
Khi bầy tiên đã tụ tập đông đủ, Thiên đình cất tiếng: 'Gửi ngay cho 'nhà văn đọc văn nghe!''. Nghe lời như mở rộng tấm lòng, nhà văn nhanh chóng cúi đầu kính phục: 'Dạ con tuân lệnh Trời, con sẽ đọc'. Nhà văn đọc văn thơ của mình với toàn bộ sự hứng khởi và say mê của trí tưởng tượng. Có lẽ chưa bao giờ nhà văn lại phải lòng như vậy. Không để mất một khoảnh khắc nào của thời gian, nhà văn đọc liên tục một mạch:
Đọc hết văn vận chuyển sang văn ngữ
Hết văn giảng lý lại văn chơi
Đúng thú vị đọc đã thích thú
Chèo trời nhấp giọng càng tốt hơn.
Nhà văn cao hứng và tự hào vì đây là dịp hiếm có để Thiên đình và các tiên nhân thưởng thức thơ của nhà văn sông Đà, núi Tản. Người nghe thơ cổ động nhiệt tình. Các tiên nhân đồng thanh tán dương và tỏ ra sùng bái qua biểu hiện khuôn mặt, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ... Điều đó làm cho cảm xúc trong lòng nhà văn mỗi lúc một trỗi dậy:
Văn dài hơi tốt đẹp như cung mây!
Thiên đình nghe, Thiên đình cũng thấy hay.
Tâm hồn nở rộ, Lưỡi Cơ lè
Hằng Nga, Chức Nữ nhíu mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng đồng lòng vỗ tay.
Nhà văn cao hứng tự nhận:
Văn đã phong phú thay đổi, lại nhiều chiều sâu
Thiên đình nghe cũng không giữ được nụ cười!
Cuộc đọc văn đã khép lại nhưng ấn tượng sâu sắc vẫn đọng lại, khiến cho:
Chư tiên mong mỏi tranh nhau nói rằng:
'Anh hãy đeo lên đây chợ trời của mình!'
Thi sĩ đọc văn, Trời không tiếc lời khen và những lời khen ấy là minh chứng cho khả năng thẩm văn, thẩm thơ tinh tế của Trời:
Trời còn thêm: 'Văn thật tuyệt
Văn trần chắc chắn là độc nhất.
Ngôn từ văn chuốt như ánh sao băng!
Bản lĩnh văn hóa mạnh mẽ như đám mây chuyển động!
Diệu kỳ như cơn gió thoảng, tinh tế như hạt sương!
Bền vững như mưa sa, lạnh lùng như tuyết.
Đây là đoạn thơ rất đặc sắc, duy nhất trong bài. Tác giả khéo léo mượn lời của Thiên đình để tôn vinh tác phẩm văn của mình. Rõ ràng nhận thức về cái tôi cá nhân của Tản Đà rất cao, và không có gì lạ khi thi sĩ tự hào như vậy: Văn đã trở nên phong phú, đa dạng. Lời văn và tinh thần văn được so sánh với những đẹp tự nhiên: như sao băng, mây chuyển, gió thoảng, sương, mưa sa, tuyết... Đúng như tinh hoa của núi Tản sông Đà đã được chứa đựng đầy trong tâm hồn thơ thi sĩ. Đoạn thơ trên đã khai thác triệt hạng các biện pháp tu từ để thể hiện mọi tầng cảm xúc, từ trầm bổng đến mạnh mẽ, tinh tế và linh diệu.
Sự kiện Hầu Trời không ngờ đã mở ra cơ hội tuyệt vời để Tản Đà khoe sự tài năng văn chương trước mọi người. Thú vị khi mọi nhân vật trong câu chuyện đều tràn đầy hứng khởi, từ thi sĩ đến chư tiên, đặc biệt là Trời - một ông Trời khá bình dân trong cách cư xử và giao tiếp. Chú ý rằng thi sĩ chỉ tỏ ra cao hứng như vậy khi gặp được người hiểu và đồng cảm với mình. Dưới thế giới loài người, chẳng dễ tìm thấy người tri âm tri kỉ như vậy! Lời khen của Trời chắc chắn là sự đánh giá, thẩm định chính xác nhất, không có ai có thể nghi ngờ hay phủ nhận. Một sự khẳng định đầy kiêu hãnh, rất Tản Đà, chưa từng có trong lịch sử!
Đọc giả cảm thấy như thi sĩ vô cùng tự hào khi đánh giá và ca tụng sự tài năng văn chương của mình. Chưa có tác giả nào dám tỏ ra mạnh mẽ và công khai như thế. Có lẽ đây là một cuộc cách mạng trong thơ ca, mà Tản Đà - người được coi là 'cây cầu nối' giữa thơ cổ và thơ mới, đã khởi xướng.
Tuân theo yêu cầu của Trời, thi sĩ tự giới thiệu về tên và bản dạng của mình:
'Dạ con kính Trời xin báo cáo
Tên con là Minh Tâm họ Lê
Sống ở Á Đông, thế giới lớn
Sông Mê Kông, núi Ba Na Viện'.
Trời ngợ một lúc, rồi sai Thiên sứ kiểm tra lại:
Thiên sứ mở sổ, xét xử lưu loát
Đệ sổ trình lên Chúa Trời đọc
'Đúng rồi, tên là Lê Minh Tâm
Chúa quyết định cho con hạ giới'.
Lúc ấy, Chúa Trời mới phán rằng:
Chúa bảo: 'Không phải do Trời quyết định,
Chúa chỉ gửi con để thử thách này
Là thử thách 'thiên lương' cho loài người,
Để con mang ơn đời cùng khắc khoải'.
Được lời như mở rộng lòng tấm, Tản Đà trình bày liền những trăn trở thấu hiểu của mình suốt thời gian dài. Thông qua lời Trời, Tản Đà nói về trách nhiệm truyền bá lương thiện mà Trời giao phó, (làm rõ rằng lòng tốt là bản năng của con người). Điều này chứng tỏ Tản Đà, mặc dù lãng mạn và kiêu kỳ, vẫn không quên hiện thực và luôn nhận thức trách nhiệm với cuộc sống, khao khát được chịu trách nhiệm với đời.
Chủ đề chính của bài thơ là tình cảm lãng mạn, nhưng trong đoạn văn dưới đây, nhà thơ sử dụng phong cách mô tả chi tiết, tỉ mỉ đến từng khía cạnh:
'Dạ Trời, bức tranh nghèo đó
Trên thế gian mảnh đất nhỏ bé
Do Trời năm xưa kiến thức ít ỏi
Vốn hiểu biết chỉ một dạy đó.
Giấy người, mực người, thuê người in
Mướn cửa hàng, người bán phố xá.
Văn chương dưới đất rẻ như bèo
Kiếm nguồn thu nhập thực khó khăn.
Kiếm được ít thì tiêu thời nhiều
Làm cả năm chẳng đủ tiêu xài.
Lo nghĩa lo việc suốt ngày tháng
Học mà kém, ngày càng già cao.
Sức trẻ yếu đuối, già thêm ganh tị
Một cây đơn độc chống bốn phía.
Trời lại giao cho việc quá khó
Biết làm được mà dám theo đuổi'.
Tản Đà không trực tiếp thể hiện quan điểm cá nhân về văn chương và nghệ văn, tuy nhiên người đọc vẫn có thể ảo tưởng về bản chất của hoạt động tinh thần đặc biệt này. Đối với Tản Đà, văn chương không chỉ là khái niệm tinh thần cao cả mà còn là một nghề nghiệp kiếm sống như bất kỳ nghề nào khác, với người mua và người bán cùng một thị trường văn chương phức tạp. Điều này khiến cho việc đạt thành công trong nghệ văn trở nên khó khăn đối với những nhà văn, nhà thơ.
Tản Đà đã vẽ lên bức tranh thực tế, đau lòng về nghề văn bằng ngôn ngữ đời thường. Đó là cảnh sống khốn khó: Trần gian hạn chế đất đai, người thơ phải mưu sinh bằng việc viết và sáng tác thơ, đồng thời phải tự làm thủ tục xuất bản khi vốn liếng chẳng có gì ngoài ngòi bút: Giấy người, mực người, thuê người in, Mướn cửa hàng, người bán phố xá. Nghệ sĩ phải chấp nhận cảnh: Văn chương hạ giới rẻ như bèo, Kiếm lời thực sự khó khăn. Kiếm được ít mà tiêu nhiều, Lo ăn lo mặc suốt ngày tháng... Khiến cho tâm trạng của thi sĩ trở nên ngậm ngùi, chua chát, khác biệt hoàn toàn so với cảm xúc trữ tình bay bổng, đắc ý khi trình bày thơ cho Trời nghe.
Tất cả những điều đó đã lặp lại nhiều lần trong thơ văn của Tản Đà, một thi sĩ tài năng vượt trội mà cuộc đời phải sống trong cảnh đau khổ, nghèo đói:
Hôm qua chưa có tiền thuê nhà,
Thức trắng đêm, thơ chẳng tìm ra chữ nào.
Bước ra khỏi cửa lại bước vào,
Quẩn quanh chỉ biết hút thuốc lá vì thơ.
Cuối đời, ông đã bắt buộc phải chuyển sang nghề xem tướng số để kiếm sống qua ngày; sau đó mở lớp dạy Hán văn, quốc văn mà không có học trò. Cuối cùng, ông kết thúc cuộc đời trong hoàn cảnh túng bấn, cực khổ đầy thương tâm!
Giấc mộng của Hầu Trời có lẽ là sự thể hiện mạnh mẽ, mãnh liệt của mong muốn thi sĩ được công nhận về tài năng trong thế giới văn chương hạng thấp và trước thân phận bị xã hội coi thường, chê trách. Điều duy nhất có thể đạt được ước mơ đó là khi lên thiên đình, nơi mà thi sĩ mới có thể tìm được người tri âm tri kỉ, và chuyện này chỉ có thể xảy ra trong giấc mơ! Có vẻ như Trời cũng hiểu rõ nỗi lòng bức xúc của thi sĩ, nên Chúa trình bày lòng khuyên nhủ chân thành:
Rằng: 'Con không cần nói, Trời đã biết
Trời dù ngồi cao, nhưng Trời thấu hết
Hãy về và làm ăn, con ơi
Lòng rộng mở, đừng ngại chi sương tuyết!'.
Cuộc chia ly giữa thi sĩ và Trời cùng chư tiên diễn ra đầy quan trọng và cảm động. Bình minh đã đến, tiếng gà rộn ràng. Thi sĩ tỉnh giấc nhưng ký ức về cuộc hầu Trời vẫn ngập tràn, làm cho thi sĩ lưu luyến và ao ước mỗi đêm đều có thể lên thiên đình để hầu Trời.
Câu chuyện về cuộc đọc văn Hầu Trời và các chư tiên đã phản ánh rõ tâm hồn và tính cách của Tản Đà - một thi sĩ ngông và đậm chất sầu mộng. Tản Đà tự tin khoe tài năng của mình một cách công khai, không ngần ngại tự khen và thậm chí mượn lời khen từ Trời và các chư tiên để tôn vinh thơ văn của mình. Tất cả đều bắt nguồn từ lòng tự hào của một hồn thơ đã hấp thụ linh khí của sông Đà và núi Tản. Trong một bài tự vịnh, Tản Đà đã kiêu hãnh viết:
Vùng đất Sơn Tây nảy một ông,
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng.
Núi Tản sông Đà ai hun đúc,
Bút thánh câu thần sớm vãi vung...
'Cái tôi' của Tản Đà thật ngông nghênh khi anh ta dám đưa tài năng của mình lên thiên đình, khẳng định trước các chư tiên và Ngọc Hoàng thượng đế!
Thái độ ngông trong văn chương là phản ứng của những nghệ sĩ tài năng, có tính cách mạnh mẽ, không chấp nhận bị hạn chế trong khuôn khổ chật hẹp. Ngông cũng là thái độ của những người trí thức có nhân cách kiên cường, đối diện với một xã hội bất công và rối ren mà họ không thể chấp nhận. Tản Đà không phải là một trường hợp lạ lẫm trong văn học Việt Nam. Trước ông, đã có Nguyễn Công Trứ khi ông đứng ngựa vàng tự hào: Trong triều ai ngựa vàng như ông? Tú Xương thậm chí chửi thẳng vào mặt xã hội thối nát: Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo, Nhân tình trắng thế lại bôi vôi...và quyết định đi buôn lọng: Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.
Tuy nhiên, sự ngông của Tản Đà mang những đặc điểm độc đáo do ảnh hưởng từ thời kỳ hỗn hợp văn hóa Đông - Tây. Tản Đà đối mặt với xã hội bằng thái độ ngông mạnh mẽ của một nghệ sĩ tài năng. Thái độ tự tin và kiêu hãnh của thi sĩ có vẻ được đẩy lên cực độ trong bài Hầu Trời để tạo ấn tượng sâu sắc. Nhà thơ đánh giá cao văn chương của mình đến mức Trời và các chư tiên cũng phải tán thưởng. Điều này ngụ ý rằng dưới thế giới phàm trần, không ai xứng đáng là người tri âm tri kỉ với Tản Đà. Ngay cả khi tự nhận mình là trí thức bị đày xuống hạ giới vì tính ngông, Tản Đà vẫn nhận được nhiệm vụ cao cả từ Trời, đó là truyền bá thiên lương cho loài người.
Chuyện Hầu Trời của Tản Đà đặt ra thách thức đối với cái nhìn hạn hẹp về giá trị con người trong xã hội mà coi thường giá trị tinh thần. Ngông của Tản Đà chia sẻ nhiều đặc điểm với ngông của Nguyễn Công Trứ trong bài Bài ca ngất ngưởng: Ý thức cao về tài năng, dám nói lớn về những đối tượng như Trời, Tiên, Bụt; dám khẳng định 'cái tôi cá nhân' vượt lên trên luân lý và đạo đức của Nho giáo.
Sự khác biệt giữa hai nhà thơ là Nguyễn Công Trứ, mặc dù ngất ngưởng, vẫn giữ : Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, trong khi Tản Đà không đặt nặng vấn đề đó. Hơn nữa, tài năng mà Tản Đà muốn khoe khoang thuộc về lĩnh vực văn chương chứ không phải là tài năng 'kinh bang tế thế' như của Nguyễn Công Trứ. Rõ ràng, thi sĩ Tản Đà đã gạt bỏ nhiều gánh nặng trách nhiệm mà các nhà Nho truyền thống thường tự gánh (Vũ trụ nội mạc phi phận sự) để sống nhẹ nhàng hơn với quyền tự do cá nhân mới mẻ mà thời đại mang lại.
Bài thơ Hầu Trời được viết theo thể thất ngôn trường thiên, tự do về số lượng câu; cấu trúc tự sự, diễn biến theo thời gian. Với tác giả là nhân vật chính, cảm xúc tự nhiên, thoải mái và lối kể chuyện hóm hỉnh, duyên dáng. Ngôn ngữ bình dân và giọng điệu hài hước tương thích, hỗ trợ nhau để thể hiện một thái độ hào hứng trước một đối tượng đặc biệt đang say mê nghe văn, thơ. Mối quan hệ giữa thi sĩ với Trời và chư tiên dường như cũng đơn giản, thân thiết như giữa những người đồng mình cùng hưởng ứng.
