Hiệp hội ung thư Mỹ mới công bố dữ liệu về số người tử vong do ung thư tại Mỹ, chỉ ra rằng tỷ lệ này liên tục giảm trong vòng 3 thập kỷ, giảm đến 33% nếu tính từ năm 1991, tương đương với khoảng 3.8 triệu người không bị chết do ung thư. Các yếu tố chính bao gồm tiến bộ y học, phát hiện sớm, và giảm tỷ lệ hút thuốc.
Thay đổi đáng kể: Dữ liệu báo cáo chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong do ung thư tại Mỹ tăng trong thế kỷ trước, đặc biệt là ung thư phổi. Nhờ các biện pháp can thiệp, tỷ lệ sống sót sau 5 năm tăng từ 49% (1970) lên 68% (2012-2018). Các dạng ung thư tuyến giáp, tuyến tiền liệt, tinh hoàn, và hắc tố da có tỷ lệ sống sót cao nhất.
Tuy tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư nói chung đang giảm đều, nhưng báo cáo cũng đồng thời nhấn mạnh rằng có sự tăng lên đáng kể ở một số loại ung thư khác. Các trường hợp mắc ung thư vú, tử cung, và tuyến tiền liệt đang tăng đều và có thể làm tăng tỷ lệ tử vong trong thời gian tới. Ví dụ, ung thư vú tăng mỗi năm 0.5% từ những năm 2000. Tương tự, ung thư tử cung tăng 1%. Sau 2 thập kỷ suy giảm, tỷ lệ tăng của ung thư tuyến tiền liệt là 3% mỗi năm từ 2014 đến 2019.
Dự báo của Mỹ cho năm 2023 là sẽ có gần 2 triệu ca mắc ung thư mới, tương đương với khoảng 5 nghìn ca phát hiện mỗi ngày và hơn 600 nghìn ca tử vong do căn bệnh này.
Tình hình ở Việt Nam đang lo ngại: Trong năm 2020, tỷ lệ mắc ung thư tại Việt Nam đã tăng lên 9 bậc (xếp thứ 90/185 quốc gia), trong đó tỷ lệ tử vong do ung thư tăng 6 bậc (xếp thứ 50/185 quốc gia) so với năm 2018. Dự kiến có hơn 182 nghìn ca mắc mới và hơn 122 nghìn ca tử vong do ung thư. Tính trên tỷ lệ dân số, mỗi 100 nghìn người sẽ có 159 người được chẩn đoán mắc ung thư và 106 người tử vong do ung thư. Thách thức hiện nay là việc triển khai chương trình tầm soát để phát hiện sớm các loại ung thư và việc thúc đẩy phòng ngừa thông qua việc tiêm vaccine hay thay đổi lối sống vẫn chưa được nhiều người chú ý và thực hiện. Do đó, cần phải dành nhiều thời gian và công sức hơn để giảm bớt các con số này ở Việt Nam.