1. Định nghĩa viêm phổi do phế cầu khuẩn
Viêm phổi do phế cầu khuẩn là do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae gây ra. Mặc dù có nhiều loại phế cầu khuẩn, nhưng chỉ một số ít gây ra bệnh. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các biến chứng có thể xảy ra do vi khuẩn này.
- Viêm phổi, viêm tai giữa, viêm xoang, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và viêm phúc mạc là những biến chứng có thể xảy ra do phế cầu khuẩn.

Dự kiến tỷ lệ tử vong từ 10-30%
Viêm phổi do phế cầu khuẩn thường ảnh hưởng nặng nề đến trẻ em, người già và những người có bệnh mãn tính hoặc đang điều trị, làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của họ. Nguy cơ nhiễm trùng phế cầu khuẩn tăng gấp 4 ở những người có bệnh lý mạn tính như tiểu đường, bệnh phổi, bệnh tim hoặc nghiện rượu, đặc biệt là ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch do ung thư hoặc nhiễm HIV/AIDS.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 800.000 trẻ em dưới 5 tuổi mất mạng mỗi năm do nhiễm phế cầu khuẩn trên toàn thế giới. Dự kiến tỷ lệ tử vong do nhiễm phế cầu khuẩn biến đổi từ 10% đến 30% tùy theo nghiên cứu, và tăng theo tuổi và sự hiện diện của các bệnh liên quan.
2. Cách truyền nhiễm phế cầu khuẩn
Bệnh viêm phổi do phế cầu khuẩn có thể lây truyền từ người này sang người khác thông qua các chất tiết (như hôn, ho, hắt hơi, khạc nhổ, nước bọt nhiễm bệnh,...) khi tiếp xúc trực tiếp, gần gũi và kéo dài (ít nhất một giờ) với người mang vi khuẩn hoặc nhiễm bệnh. Trong mọi trường hợp, vi khuẩn không thể truyền qua nước hoặc không khí.
3. Triệu chứng của bệnh viêm phổi do phế cầu khuẩn
Triệu chứng của viêm phổi do phế cầu khuẩn thay đổi tùy thuộc vào loại nhiễm trùng mà vi khuẩn gây ra:
-
Khi mắc viêm phổi: sốt cao (39-40°C), cảm giác lạnh, ho khan hoặc ho ra đờm vàng hoặc gỉ sắt, khó thở, đau ngực dữ dội, thường chỉ một bên, cảm giác khó chịu trên toàn thân.

Các dấu hiệu có thể không giống nhau
-
Khi tai bị viêm giữa: cảm giác đau nhức, sốt trên 38°C, tai bị nghẹt, khả năng nghe giảm, tiếng ù, dịch vàng chảy qua ống tai,…
-
Khi xoang bị viêm: mũi bị nghẹt hoặc chảy dịch nhầy, đau và nặng ở hai bên mắt, đôi khi đau đầu lan tỏa, sốt và cảm giác không thoải mái,…
-
Khi màng não bị viêm: đau đầu nghiêm trọng, không chịu nổi ánh sáng và/hoặc tiếng ồn, buồn nôn, nôn, cổ cứng, da xám hoặc có đốm, đau toàn thân nghiêm trọng, mệt mỏi, lơ mơ, lú lẫn, liệt mắt, co giật,...
-
Khi bị nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm trùng huyết: đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, sốt kéo dài, rét run, tăng nhịp thở, giảm huyết áp,...
4. Xác định và cách điều trị bệnh
Nếu nghi ngờ bị viêm phổi do phế cầu khuẩn, kiểm tra nhiễm trùng và phân tích vi khuẩn dịch tiết phế quản phổi sẽ giúp xác định bệnh. Ngoài ra, kiểm tra nước tiểu có thể phát hiện nhiễm trùng từ một số vi khuẩn khác nhau.
Khi nghi ngờ mắc bệnh viêm màng não, cần phải chuyển đến bệnh viện cấp cứu và thực hiện chọc dò tủy sống (lấy mẫu dịch não tủy). Việc phân tích dịch não tủy sẽ giúp chẩn đoán xác định bệnh.

Xác định bằng xét nghiệm viêm phổi do phế cầu khuẩn
Đối với trường hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết, xét nghiệm máu sẽ giúp xác định vi khuẩn gây nhiễm trùng.
Tương tự, cách điều trị phụ thuộc vào loại nhiễm trùng:
-
Đối với viêm phổi: sử dụng kháng sinh như amoxicillin, spiramycin hoặc pristinamycin. Sử dụng kháng sinh đúng cách sẽ giảm nguy cơ kháng thuốc.
-
Đối với viêm tai giữa: sử dụng kháng sinh khi tai bị viêm và chảy mủ.
-
Đối với viêm xoang: sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm hoặc theo chỉ định của bác sĩ.
-
Đối với viêm màng não: điều trị viêm màng não cần sử dụng kháng sinh ngay từ lúc nhập viện và tiếp tục trong 1 đến 3 tuần.
-
Đối với nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm trùng huyết: việc sử dụng kháng sinh là bắt buộc, tuân thủ lựa chọn và chỉ định của bác sĩ khi cấy máu.
5. Tiêm phòng phòng tránh bệnh phế cầu khuẩn
Đề xuất tiêm phòng phòng tránh viêm phổi do phế cầu khuẩn cho trẻ em từ 6 tuần đến 5 tuổi, thanh thiếu niên và người lớn mắc các bệnh suy giảm miễn dịch hoặc mạn tính dẫn đến nhiễm phế cầu khuẩn.

Tiêm vắc-xin để ngăn chặn bệnh
Tiêm phòng được khuyến cáo cho những người trong các trường hợp sau đây:
Bệnh nhân suy giảm hệ miễn dịch, gồm có:
-
Không có bộ phận lá lách hoặc ít lá lách (bao gồm cả bệnh hồng cầu hình liềm lớn).
-
Sự thiếu hụt miễn dịch di truyền.
-
Nhiễm HIV, bất kể tình trạng miễn dịch.
-
Đang trong quá trình điều trị ung thư hoặc khối u ác tính về máu.
-
Nhận ghép hoặc đang chờ ghép tế bào gốc.
-
Điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch, liệu pháp sinh học và/hoặc liệu pháp corticosteroid cho bệnh tự miễn dịch hoặc mãn tính.
-
Hội chứng thận suy.
-
Bệnh nhân có chấn thương sọ não.
Những bệnh nhân không bị suy giảm hệ miễn dịch, mắc các bệnh tiềm ẩn có nguy cơ phát triển bệnh phế cầu khuẩn xâm lấn:
-
Bệnh tim bẩm sinh màu xanh lam, suy tim.
-
Suy hô hấp mãn tính, phế nang, tắc nghẽn phổi.
-
Hen nặng điều trị liên tục.
-
Suy thận.
-
Bệnh gan mãn tính.
-
Bệnh tiểu đường không được kiểm soát bởi chế độ ăn uống đơn giản.
