Thượng thọ hay Lễ mừng thượng thọ hay Lễ khao thượng thọ là lễ mừng thọ các cụ già có độ tuổi từ 80 tuổi trở lên (những người được xem là sống lâu) do con cháu của họ tổ chức đồng thời cũng là lễ mừng của con cháu, vì theo quan niệm đạo đức và tôn giáo, cha mẹ có sống lâu thì con cháu mới được phụng dưỡng, thể hiện đạo hiếu. Thượng thọ được coi là một trong những nét truyền thống của người Việt Nam, thể hiện đạo lý làm người 'uống nước nhớ nguồn', 'kính trọng người già cả' và đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của bậc ông bà, cha mẹ và là một nét đẹp của văn hoá Việt Nam.
Việc tổ chức thượng thọ có thể có nhiều hình thức, quy mô từ lớn đến nhỏ, tùy vào điều kiện và lòng thành của con cháu, việc chủ trì trượng thọ cho các cụ cao tuổi có thể do con cháu trong nhà tự tổ chức hoặc làng xóm hay thậm chí là Nhà nước, các tổ chức xã hội, tôn giáo đứng ra tổ chức đối với những cụ có đóng góp, cống hiến cho đất nước hoặc đức cao vọng trọng. Theo Kinh Thánh, cách ăn ở tốt nhất với cha mẹ mình là hiếu kính, phụng dưỡng, nghe lời cha mẹ khi các vị còn sống, theo đạo Phật thì việc mừng Thượng thọ cũng thể hiện tấm lòng hiếu thảo đối với các bậc sinh thành
Về độ tuổi
Theo quan niệm phổ biến, thuật ngữ 'thọ' dùng để chỉ những người già tuổi cao (tức là sống lâu), và trong gia đình hoặc cộng đồng thường tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ già. Thuật ngữ 'thọ' có thể được phân loại thành nhiều bậc, từ thọ thấp đến thọ cao, từ thọ ít tuổi đến thọ nhiều tuổi. Theo đó, khi chúc 'Mừng Thọ' hay 'Chúc Thọ', thường ám chỉ đối với những người từ 60 tuổi trở lên. 'Trung Thọ' dành cho những người từ 70 tuổi trở lên, 'Thượng Thọ' từ 80 tuổi trở lên, 'Đại Thọ' từ 90 tuổi trở lên. Các thuật ngữ như 'Vạn Thọ', 'Trường Thọ' thường chỉ đến những người đã sống lâu đến từ trăm tuổi trở lên. Hoặc có những lời chúc như 'Phúc Thọ', ám chỉ đến những người có phước lộc nhiều ('Phước Như Đông Hải, Thọ tỷ Nam Sơn'). 'Đạo Thọ' thường dành cho những người tu hành lâu năm, có công đức cao ('Đạo Thọ Miên Trường'). Hoặc cũng có thể dùng thuật ngữ 'Khánh Tuế' hoặc 'Khánh Thọ' để tôn kính các người đã thượng thọ hay đại thọ một cách trang trọng, long trọng.
Độ tuổi mừng thọ có thể chia thành 4 bậc:
- Hạ thọ: từ 60 tuổi đến 69 tuổi.
- Trung thọ: từ 70 tuổi đến 79 tuổi.
- Thượng thọ: từ 80 tuổi đến 89 tuổi.
- Đại thọ: từ 90 tuổi trở lên.
Theo giáo sư Đào Duy Anh trong tác phẩm Hán Việt Từ điển, 60 tuổi được gọi là Hạ thọ, 70 tuổi được gọi là Trung thọ, 80 tuổi được gọi là Thượng thọ.
Ở Việt Nam thời xưa, khi người đủ bốn mươi tuổi đã được coi như lão trong làng, trong dòng họ. Ở các làng xóm, khi đạt tuổi 50, họ được coi như lão già. Dù không phải là các quan lớn trong xã hội, nhưng vào những dịp hội hè đình đám, các cụ già thường ngồi lại chốn đình làng, trên chiếu cạp điều. Ngày nay, khi có ông bà, cha mẹ già đến 70, 80, 90 tuổi, con cháu thường tổ chức lễ mừng thọ, thường vào dịp sinh nhật hoặc ngày xuân (Tết Nguyên đán). Đây là dịp con cháu bày tỏ lòng hiếu với ông bà, cha mẹ.
Nghi lễ
Trong văn hóa truyền thống của người Việt (người Kinh), vào dịp đầu năm, đón chào năm mới, thường có lễ khao thượng thọ (thường là vào ngày Tết Nguyên đán - khoảng mồng hai Tết). Lễ khao thượng thọ được tổ chức trong gia đình, chủ yếu mang tính gia đình (hoặc tộc, dòng), khác với lễ lên lão (còn gọi là lễ ra nhiêu), diễn ra ở đình làng, chủ yếu mang tính xã hội.
Cỗ bàn
Ngoài việc tổ chức lễ để tôn vinh tổ tiên, con cháu còn chuẩn bị lễ cúng tại đình làng. Bàn cỗ có thể được sắm sửa sang trọng hoặc đơn giản tùy vào lòng thành và điều kiện của con cháu, nhưng tương tự như các nghi lễ cúng giỗ của người Việt, bàn cỗ phải bao gồm các thành phần như xôi, chè, trà, rượu, hoa quả như chuối, cau, trầu cùng với các món như gà, thịt heo, chả... hoặc heo quay nguyên con, bánh sinh nhật, đào (nếu có điều kiện). Cũng có ý kiến cho rằng, khi cha mẹ già yếu, con cái nên cố gắng tổ chức một buổi lễ mừng thọ để tôn vinh cha mẹ, và không nên quá lớn, mà cần thể hiện là một buổi tiệc thân mật trong gia đình và tộc họ.
Sự thể
Trong lễ thượng thọ, cha mẹ mặc y phục trang trọng, thường là y phục khăn đống, hài (trang phục có màu đồng nhất, màu đỏ hoặc màu vàng), ngồi trên sập kê giữa nhà hoặc ngồi trước bàn thờ, linh vị, hay nơi sang trọng nhất trong căn nhà như gian chính. Con cháu lần lượt đến kính cẩn dâng rượu (thọ) và đào (tiên), sau đó lễ bái cha mẹ, rồi mời các cụ dự tiệc mừng. Lễ này không chỉ có con cháu trong gia đình mà còn có họ hàng nội ngoại xa gần, lân gia và khách mời đến chúc mừng, chứng kiến niềm hạnh phúc của các cụ và con cháu. Sau đó là màn con cháu và khách mời dâng quà tặng thượng thọ cho các cụ. Phúc như đông hải thọ tỷ nam sơn.
Ở một số vùng
Ở mỗi làng quê Việt Nam, lễ thượng thọ cho các cụ cao niên trong làng thường được tổ chức vào những ngày đầu năm, đó là một nét đẹp của văn hóa người dân Việt Nam. Một số nơi như thôn Thọ Sơn, xã Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, lễ thượng thọ cho các cụ được tổ chức hàng năm, và năm Canh Dần ngày lễ thượng thọ được tổ chức vào mùng 2 Tết. Ngay từ 6h sáng, bắt đầu nghi lễ múa lân.
Người Việt Nam quan niệm ông bà cha mẹ sống lâu là niềm hạnh phúc, là phúc đức cho con cháu. Lễ thượng thọ ở các làng quê là ngày hội đầu năm, ngày hội của truyền thống 'uống nước nhớ nguồn cao đẹp'. Một số nhân vật đặc biệt cũng được xã hội quan tâm làm thượng thọ như Võ Chí Công, đại tướng Võ Nguyên Giáp , giáo sư Trần Văn Giàu , Trần Văn Khê , Nguyễn Thiện Thành . Việc tổ chức thượng thọ cho các cụ chủ yếu bằng tấm lòng của con cháu, tuy vậy ở một số nơi, việc tổ chức thượng thọ tại làng xã được cho là linh đình, tốn kém và gây ra nhiều phiền phức cho thực khách .
Hình ảnh
- Lễ tục trong gia đình người Việt - Chương IV: Về già, Bùi Xuân Mỹ, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2007
- Nghệ thuật nói chuyện và xã giao hàng ngày, biên soạn: Kỳ Anh – Ngọc Đức, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2004
Chú thích mới
- Cổng thông tin Việt Nam
