
Trong truyền thống dân gian Việt Nam, có một câu đối nổi tiếng:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối rực rỡ,
Cây nêu, pháo hoa, bánh chưng xanh tươi.
Những câu đối trên đã phản ánh một phần của cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Việt Nam trong các ngày Tết xưa. Theo thời gian, với sự thay đổi của xã hội, cuộc sống vật chất và tinh thần trong ngày Tết cũng dần thay đổi, những thú vui truyền thống đó dần trở nên ít phổ biến, được thay thế bằng những thú vui mới phản ánh đời sống hiện đại hơn.
Phong tục viết câu đối nói chung và câu đối Tết nói riêng đã tồn tại từ rất lâu trong văn hóa của các nước Á Đông sử dụng chữ Hán, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Điều này cho thấy sự đặc biệt và sâu sắc của truyền thống câu đối Tết trong văn hóa Á Đông.
Câu đối, còn được gọi là đối liễn, là một loại hình văn biện ngẫu thuật, bao gồm hai câu có ý nghĩa tương đương về từ ngữ và ngữ pháp, thường được sử dụng để thể hiện ý chí, quan điểm hoặc tình cảm của tác giả.
Theo truyền thống, người đầu tiên viết câu đối Tết được cho là Mạnh Sưởng, một vị quan nhà Hậu Thục (934 - 965):
Đầu xuân gửi lời chúc
Gia tiết tươi vui đón xuân sang
Nghĩa là: Năm mới đón nhận niềm vui dồi dào/ Tiết đẹp báo hiệu xuân sum vầy mãi mãi.
Theo truyền thuyết, đêm giao thừa, Vương Hy Chi viết một đôi câu đối và nhờ người nhà dán ở Cổng. Tuy nhiên, sau một lúc, câu đối đã biến mất. Ông viết lại và lại bị mất. Điều này lặp đi lặp lại vài lần. Cuối cùng, ông viết một đôi khá đơn giản, chỉ để trống vài chữ:
Họa vô đơn chí...
Phúc không chút nơi nao...
Sáng sớm mùng Một Tết, ra khám thấy vẫn còn nguyên vẹn, ông quyết định ghi tiếp:
Khi gặp khó khăn, đừng nản lòng sớm,
Hạnh phúc không phải lúc nào cũng trùng lặp.
Nghĩa là: Không may không đến một lần, nhưng phúc lạ thường lại đến.
Vương Hy Chi, danh nhân về văn học thời kỳ Tấn của Trung Quốc, nên nhiều người say mê chữ nghệ của ông, muốn 'chiếm hữu', gây ra những sự việc như vậy.
Những cặp câu đối Tết ở Việt Nam
Việc xác định nguồn gốc của tục trưng câu đối Tết ở nước ta là một vấn đề khá phức tạp. Trong lịch sử, câu đối Tết thường được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Ngày nay, người ta cũng sử dụng chữ Quốc ngữ. Mỗi năm, các tờ báo thường đăng hoặc tổ chức các cuộc thi sáng tác câu đối.
Câu đối màu đỏ, theo quan niệm phương Đông, được cho là mang lại không khí ấm áp, tinh thần phấn chấn, hạnh phúc gia đình, cuộc sống sung túc, và sự hiểu biết văn học theo tinh thần “nhất sĩ nhì nông” cùng tinh thần nhân văn cao cả.
Theo truyền thống, thời kỳ Lê sơ, Hoàng đế Lê Thánh Tông thường mặc trang phục dân dụ, thăm viếng nhân dân vào mỗi dịp Tết. Vị vua anh minh này thường đến để quan sát cuộc sống của dân chúng, đặc biệt là những người nghèo khổ. Khi ông thăm thợ rèn, người dệt vải, người bán hàng rong, ông thường tặng họ câu đối để ủng hộ.
Thiên hạ thanh hoàng, cuộc sống êm đềm
Mỗi thứ màu sắc trong triều đình đều do chúng ta thống trị.
Nghĩa là: Mọi thứ màu xanh và vàng trong xã hội đều là thành tựu của chúng ta, còn mọi thứ màu đỏ và tía trong triều đình đều bắt nguồn từ gia đình chúng ta.
Khi Nguyễn Công Trứ vẫn còn đang chờ cơ hội, và kỳ thi cử vẫn chưa bắt đầu, trong một dịp Tết, ông đã viết một bài câu đối để thể hiện sự quyết tâm và niềm tin vào một năm mới tốt đẹp hơn.
Buổi chiều ngày ba mươi, khi những khoản nợ còn chưa được trả, đành phải đạp thẳng thùng Bần ra khỏi cửa.
Sáng mùng Một, với cảm xúc say sưa, cầm tay ông Phúc ra khỏi nhà.
Người học thức sâu rộng, Nguyễn Khuyến, tiếc rằng số phận ông gặp phải khó khăn của đất nước không cho phép ông có thể giúp đỡ nhiều hơn. Tác phẩm thơ văn của ông thường phản ánh tâm trạng trầm lặng, thất vọng và buồn bã. Ông viết nhiều câu đối Tết để thể hiện ý chí và tình cảm của mình, thường mang nét buồn bã.
Đêm ba mươi, tiếng pháo nổ vang lên, đánh dấu sự đến của mùa Tết.
Sáng mồng Một, tiếng chạm nêu đánh cộc vang lên, đón chào mùa Xuân.
Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương với tâm hồn trẻ trung và ham muốn tình yêu, đã viết những câu đối như sau:
Đêm ba mươi kết thúc, đóng cánh cửa kỹ lại để tránh Ma Vương đưa quỷ tới.
Sáng mùng Một, thiên nhiên hòa quyện, mở lòng đón thiếu nữ rước xuân vào.
Dù đã gặp nhiều thất bại trong kỳ thi, nhưng Tết đến, Tú Xương vẫn tự động viên bản thân phấn đấu học tập, dựa vào đèn sách hy vọng cho tương lai sáng sủa hơn. Ông viết câu đối:
Vui xuân, ngập tràn niềm vui, có thể ở mọi nơi, mọi lúc,
Ai học, hãy học hết lòng, vui thế thì tuyệt vời nhất.
Những câu chuyện của những người 'văn nhân' xuất sắc không thể nào kể hết. Mỗi cá nhân mang một phong cách riêng, làm cho tinh thần người dân trong mùa xuân Tết trở nên phong phú, đa dạng và nhân văn hơn.
Kỷ niệm về câu đối Tết, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết trong tác phẩm Xuân đón hương, anh đã viết:
Nhà hàng xóm treo câu đối cao lên,
Em đọc trên giấy đỏ cũng giống như thế. [1]
Bút và thơ nhẹ nhàng khai Xuân mới
Phong tục khai bút đầu năm mới ở Việt Nam đã tồn tại từ lâu. Hành động này thể hiện tinh thần học vấn, trí óc thông minh, cũng như sự phát triển văn hóa trong xã hội. Trong cuốn Sổ lề quê của Việt Nam, Nhất Thanh đã ghi lại: “...các nhà hiền tri thức, những nhà giáo dục và đặc biệt là những người nắm quyền, đều coi việc khai bút là việc trọng đại. Việc khai bút cũng phải chọn ngày tốt. Thói quen phổ biến là viết một dòng chữ: Xuân đến, nắng đầu năm... ngày khai bút lành lợi (Trong tháng đầu Xuân, ngày mồng... khai bút tốt lành), trên giấy hồng được dán ở chỗ ngồi. Nhiều ông đã viết thơ trên giấy hồng hoặc giấy hoa để làm lễ khai bút...”[2]
Trong dân gian vẫn truyền bá bài thơ chữ Hán về việc khai bút đầu năm mới, cũng như ước mong cho một năm mới phát đạt:
Năm mới khai bút, bút mở hoa,
Muôn việc thành công, phú quý nhiều lời.
Nhiều sự thành tựu, nhiều may mắn phát lộc,
Thành công về tài lộc, vang danh đến muôn phương.
Nghĩa là: Đầu năm mới mở bút, bút nở hoa / Mọi việc đều thành công,
phú quý dồi dào / Nhiều con cháu, nhiều may mắn phát tài/ Thành công về tài lộc, tiếng tăm vang xa.
Cảnh viết chữ trong mùa xuân Tết, Đoàn Văn Cừ cũng biến đổi tích cực khi viết trong tác phẩm Chợ Xuân với tâm trạng hân hoan:
Một thầy mài gò lưng trên cánh phản,
Tay nghiên mài mò viết thơ đón Xuân.
Cụ già ngồi im vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài dòng câu đối đỏ. [1]
Ngày nay, ít người còn có niềm vui như thế này, chỉ có những người theo đuổi nghệ thuật thư pháp. Ngoài ra, chữ Hán, chữ Nôm không còn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày nữa. Người viết chữ đầu năm thường được gọi là ông đồ, mặc dù nguyên nghĩa của từ này là người dạy chữ Hán trong quá khứ. Trong bài thơ Người Viết Chữ của Vũ Đình Liên, có một dòng thơ:
Mỗi Xuân, hoa đào nở rộ
Nhìn thấy ông đồ già đi
Viết bút Tàu, giấy đỏ
Trên phố đông người qua... [1]
Trong những năm đầu của thế kỷ 20, trước sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội, với sự phát triển của phong trào Âu hóa và việc bãi bỏ hệ thống giáo dục cổ truyền, Hoài Thanh đã viết: “Một cơn gió mạnh bất ngờ thổi từ xa đến. Cả nền văn minh truyền thống bị lay động và đảo lộn. Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây là một trong những biến cố lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ hàng chục thế kỷ”. [3] Trước tình hình đó, mỗi người có phản ứng khác nhau. Các nhà văn, nhà thơ cũng mỗi người một cách, có người theo đuổi văn hóa phương Tây, có người buồn vì những gì đã từng tồn tại “vào một thời”. Trong môi trường này, họ cũng sáng tác ra những tác phẩm thể hiện tâm trạng khác nhau. Nguyễn Tuân viết Chữ của người tù, đề thương cho những người tài hoa, nhưng chỉ sáng mai, điều tốt lành ấy đã phải chấm dứt. Vũ Đình Liên thì tiếc nuối cho một ông đồ, không còn học trò, nên ông không thể kiếm sống được nữa, phải bán chữ trên vỉa hè, nhưng rồi cũng đến một ngày “Những người từng xưa/ Hồn ở đâu nay?”[1]
Trong những năm gần đây, tại các thành phố trong nước, đặc biệt là Hà Nội, sở thích viết chữ đang dần được khôi phục. Tại Văn Miếu, phố Ông Đồ mang lại nhiều trải nghiệm mới mẻ cho ngày Tết đầu xuân hiện đại. Người viết chữ ở đây được biết đến là ông đồ. Tuy nhiên, những lợi ích và nhược điểm cũng đã được truyền thông đề cập nhiều.
Việc viết chữ trong nhà, ngoài việc trang trí kiến trúc, còn là điều mong ước cho cuộc sống, thể hiện niềm vui của ngày Tết đầu xuân: mừng cho người già Phúc Thọ, hy vọng cho con trẻ An Khang, Hiếu Thuận, học hành Tiến Đức, cầu cho gia đình Phát Đạt, mong muốn cho sự thành công nghề nghiệp, cho cuộc sống Hanh Thông, cho tiền tài Quảng Tiến... Hoặc mọi người cũng có thể viết một bài thơ xuân, một câu đối, hoặc một tấm bìa tự viết, với “lời hay ý tốt chữ đẹp” … tùy ý.
Hy vọng rằng, ngoài việc tiếp tục phát triển truyền thống văn hóa, chúng ta cũng cần giữ gìn những giá trị cốt lõi của dân tộc. Bên cạnh sự hiện đại hóa và toàn cầu hóa, cần phải duy trì một cuộc sống tinh thần phong phú, đậm chất nhân văn.
Tài liệu tham khảo:
- Thơ mới từ 1932 đến 1945: Tác giả và tác phẩm, Tập đoàn tác giả đa dạng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004.
- Việt Nam qua ống kính của Nhất Thanh: Phong tục và truyền thống dân dụ, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, 2016.
- Tác phẩm văn học của Hoài Thanh: Cuộc đời và sự nghiệp, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2007.
- Tú Xương và câu chuyện về tác phẩm của ông, Hội Văn hóa - Nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986.
Nhận xét của Nhà thư pháp Nguyễn Quang Thắng được trích từ cuốn sách Tết Đoàn Viên phát hành bởi Sống
