

Malacca (Malay: Bandaraya Melaka hoặc Kota Melaka) là thành phố lớn nhất và đồng thời là thủ đô của tiểu bang Malacca, Malaysia. Theo thống kê năm 2010, dân số thành phố đạt 484.885 người. Đây là thành phố cổ nhất của Malaysia nằm bên Eo biển Malacca, đã trở thành một trung tâm giao thương quan trọng trong thời kỳ Vương quốc Malacca. Thành phố được thành lập bởi vua Parameswara, một hoàng tử Sumatra đã trốn đến bán đảo Mã Lai khi Vương quốc Srivijaya tiêu diệt Majapahit. Sau khi Vương quốc Hồi giáo Malacca được thành lập, thành phố đã thu hút sự chú ý của các thương nhân từ Trung Đông, Nam Á và Đông Á, cũng như người Bồ Đào Nha, những người tìm cách kiểm soát tuyến đường thương mại ở châu Á. Sau khi bị Bồ Đào Nha chinh phục, Malacca trở thành điểm nóng xung đột khi các tiểu vương quốc Aceh và Johor nỗ lực giành lại quyền kiểm soát từ tay người Bồ Đào Nha.
Sau một loạt các cuộc chiến giữa các vương quốc, Aceh suy yếu trong khi Johor tồn tại và mở rộng ảnh hưởng đối với các vùng đất trước đây thuộc Aceh ở Sumatra khi Johor hợp tác với người Hà Lan để thiết lập quyền thống trị ở quần đảo Java và Maluku. Tuy nhiên, xung đột nội bộ giữa các nhóm Malay và Bugis dẫn đến sự phân chia của đế chế Johor-Riau thành các vương quốc Johor và Riau-Lingga. Sự phân chia này trở nên vĩnh viễn khi người Anh đến và thiết lập sự hiện diện ở bán đảo Mã Lai. Người Hà Lan nhận thấy sự đe dọa từ sự hiện diện của người Anh và bắt đầu chinh phục Vương quốc Hồi giáo Riau-Lingga cùng với phần lãnh thổ Sumatra còn lại, trong khi Johor bị ảnh hưởng bởi Anh qua việc ký Hiệp ước Anh-Hà Lan năm 1824.
Khi người Anh mở rộng ảnh hưởng của mình trên bán đảo Mã Lai, thành phố này nhanh chóng phát triển như một phần của Các khu định cư Eo biển dưới sự cai trị của Đế quốc Anh. Tuy nhiên, sự phát triển và thịnh vượng bị ngừng lại khi người Nhật xâm lược trong Chiến tranh thế giới thứ hai và chiếm đóng thành phố từ năm 1942 đến 1945. Trong thời gian chiếm đóng, nhiều cư dân bị bắt và đưa đến xây dựng Tuyến đường sắt Chết ở Miến Điện (Myanmar hiện nay). Sau chiến tranh, thành phố được trả lại cho người Anh và tiếp tục là thủ đô của Malacca cho đến khi Malaysia được thành lập vào năm 1963. Năm 2008, thành phố cùng với George Town của Penang được UNESCO công nhận là Di sản thế giới nhờ lịch sử phong phú của nó.
Kinh tế của Malacca chủ yếu phụ thuộc vào du lịch. Là trung tâm kinh tế của bang Malacca, thành phố cũng tổ chức nhiều hội nghị và hội chợ thương mại quốc tế. Thành phố nằm dọc theo Con đường tơ lụa trên biển, đã được Trung Quốc đề xuất công nhận là Di sản thế giới vào năm 2013. Các điểm du lịch nổi bật ở Malacca bao gồm A Famosa, Phố đi bộ Jonker, Tiểu Ấn, Khu định cư Bồ Đào Nha, Stadthuys, Bảo tàng Hàng hải, Nhà thờ Chúa Kitô, Bảo tàng Cung điện Vương quốc Malacca, và Tháp Taming Sari.
Địa lý
Thành phố nằm hai bên bờ sông Malacca, gần cửa sông nơi nó chảy ra eo biển Malacca. Các di tích cổ của thành phố tập trung ở trung tâm, trên các bờ biển như đồi Thánh Paul, nơi có tàn tích của các pháo đài Bồ Đào Nha. Ngày nay, thành phố Malacca phát triển từ nền tảng cổ xưa và mở rộng ra hai bên bờ của sông Malacca, con sông uốn khúc qua các khu phố cổ trung tâm thành phố.
Khí hậu
| Dữ liệu khí hậu của Malacca (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 31.4 (88.5) |
32.6 (90.7) |
32.6 (90.7) |
32.4 (90.3) |
31.8 (89.2) |
31.4 (88.5) |
31.0 (87.8) |
30.9 (87.6) |
31.0 (87.8) |
31.3 (88.3) |
31.0 (87.8) |
30.9 (87.6) |
31.5 (88.7) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 22.5 (72.5) |
22.9 (73.2) |
23.1 (73.6) |
23.4 (74.1) |
23.4 (74.1) |
23.0 (73.4) |
22.7 (72.9) |
22.7 (72.9) |
22.7 (72.9) |
22.9 (73.2) |
22.9 (73.2) |
22.6 (72.7) |
22.9 (73.2) |
| Lượng mưa trung bình mm (inches) | 73.3 (2.89) |
90.9 (3.58) |
144.1 (5.67) |
197.5 (7.78) |
172.0 (6.77) |
165.8 (6.53) |
164.2 (6.46) |
164.1 (6.46) |
210.2 (8.28) |
212.9 (8.38) |
231.5 (9.11) |
123.8 (4.87) |
1.950,3 (76.78) |
| Số ngày mưa trung bình (≥ 1.0 mm) | 7 | 7 | 10 | 13 | 12 | 10 | 12 | 12 | 13 | 14 | 17 | 11 | 138 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 193.0 | 202.5 | 214.8 | 207.5 | 210.5 | 193.9 | 201.3 | 191.2 | 171.5 | 179.6 | 156.9 | 166.8 | 2.289,5 |
| Nguồn: NOAA | |||||||||||||
Chú giải
Đường liên kết
- Điểm tham quan tại Malacca
Thành phố ở Malaysia |
|---|




| Thành phố lớn nhất của Malaysia Sở Thống kê, Malaysia (2010) | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng | Tên | Bang | Dân số | Hạng | Tên | Bang | Dân số | ||
Kuala Lumpur Seberang Perai |
1 | Kuala Lumpur | Lãnh thổ Liên bang | 1.588.750 | 11 | Iskandar Puteri | Johor | 529.074 | Kajang Klang |
| 2 | Seberang Perai | Penang | 818.197 | 12 | Seremban | Negeri Sembilan | 515.490 | ||
| 3 | Kajang | Selangor | 795.522 | 13 | Johor Bahru | Johor | 497.067 | ||
| 4 | Klang | Selangor | 744.062 | 14 | Malacca | Melaka | 484.855 | ||
| 5 | Subang Jaya | Selangor | 708.296 | 15 | Ampang Jaya | Selangor | 468.961 | ||
| 6 | George Town | Penang | 708.127 | 16 | Kota Kinabalu | Sabah | 452.058 | ||
| 7 | Ipoh | Perak | 657.892 | 17 | Sungai Petani | Kedah | 443.488 | ||
| 8 | Petaling Jaya | Selangor | 613.977 | 18 | Kuantan | Pahang | 427.515 | ||
| 9 | Selayang | Selangor | 542.409 | 19 | Alor Setar | Kedah | 405.523 | ||
| 10 | Shah Alam | Selangor | 541.306 | 20 | Tawau | Sabah | 397.673 | ||
| Tiêu đề chuẩn |
|
|---|
