Thất ngôn bát cú (七言八句) là dạng thơ gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ. Tổng cộng, mỗi bài thơ có 56 chữ.
Nguồn gốc
Thể thơ thất ngôn bát cú là một dạng thơ cổ, xuất phát từ Trung Quốc và đã được quy định rõ ràng từ đời nhà Đường, phổ biến trong chế độ phong kiến. Thể thơ này được sử dụng trong các kỳ thi và tuyển dụng nhân tài tại Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt là thời Bắc thuộc.
Mặc dù thể thơ thất ngôn bát cú có luật lệ nghiêm ngặt, từ những năm 1925, trong phong trào thơ mới tại Việt Nam, các nhà thơ đã sáng tạo để giảm bớt sự gò bó của luật lệ, cho phép tâm hồn lãng mạn bay bổng hơn trong từng câu thơ.
Luật bằng trắc
Luật thơ
Thông thường, thơ thất ngôn bát cú có thể làm theo 2 cách thông dụng:
- Thất ngôn bát cú theo Đường luật: Có quy luật nghiêm khắc về Luật, Niêm và Vần thường có bố cục rõ ràng.
- Thất ngôn bát cú theo Cổ phong: Không theo quy luật rõ ràng, có thể dùng một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhưng vần vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh, có nhịp bằng trắc xen nhau cho dễ đọc.
Cách khác là theo Hán luật. Những bài thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm thường được gọi là thơ Hán luật.
Một bài thơ thất ngôn bát cú theo Luật Hán (hay chính xác hơn là Luật Nôm) nổi bật:
'Qua đèo Ngang' của Bà Huyện Thanh Quan
(Chú ý cách gieo vần: Các tiếng cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 hiệp vần bằng với nhau).
- Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
- Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
- Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
- Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
- Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
- Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
- Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
- Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Trong đó:
- Hai câu đầu tiên (1 và 2) là 2 câu Đề dùng để: Mở Đề và Vào Đề (mở bài, giới thiệu...)
- Hai câu tiếp theo (3 và 4) là hai câu Thực dùng để:(miêu tả), yêu cầu của 2 câu này là đối nhau cả về thanh (bằng đối trắc hoặc ngược lại) và về nghĩa (Lom khom — Lác Đác, Dưới núi — Bên sông, Tiều vài chú — rợ mấy nhà)
- Hai câu 5 và 6 là hai câu Luận (suy luận), yêu cầu cũng đối nhau cả về thanh và nghĩa, tương tự như hai câu Thực ở trên
- Hai câu cuối cùng (7 và 8) là hai câu Kết (kết luận), không yêu cầu đối nhau.
Cách ngắt nhịp: 2/2/3 hoặc 4/3, 3/4
