
Tôi tin vào thiên đường của lời nói. Tôi tin rằng để trở thành một nhà thơ, bạn phải tự nguyện để mình rối ren với thế giới, tự nguyện bước vào những vương quốc hoàn toàn lạ lẫm, rồi tự nộp mình cho những vương quốc ấy để có thể tìm thấy con đường dẫn đến một loại tri thức mà chỉ có những người dâng hiến cuộc đời mình cho lời nói mới có thể thấu hiểu một cách trọn vẹn. Để trở thành một nhà thơ, bạn phải là một người mạnh mẽ. Tình bạn văn học trong mấy chục năm qua với Việt Nam và với những nhà văn Việt Nam đã cho tôi nhiều lợi thế hơn hầu hết những nhà văn thuộc thế hệ tôi. Nếu không có những trải nghiệm ở Việt Nam, nếu không có sự giúp đỡ của rất nhiều người bạn và nhà văn từ khắp nơi trên đất nước Việt Nam, chắc chắn tôi không được khai sáng theo nhiều cách khác nhau đến thế.
Tất cả chúng ta đã gặp nhau lần đầu tiên trong cuộc chiến, khi đó hầu hết chúng ta là những chàng trai trẻ tuổi. Trong một số trường hợp, chúng ta đã chiến đấu trực tiếp, đối mặt với nhau, nhưng trong mỗi trường hợp, chúng ta đã tránh được việc giết chết nhau. Tôi biết rằng tôi không phải là một tay súng giỏi. Vào thời điểm đó, chúng ta chỉ muốn đuổi nhau đi; bạn muốn chúng tôi rời xa đất nước của bạn, và chúng tôi muốn về nhà. Chúng tôi chưa bao giờ hiểu rõ hơn về lý do tại sao chúng tôi lại đến Việt Nam.
Mấy chục năm trước, chúng ta đã gặp nhau lần thứ hai - một cuộc gặp gỡ lịch sử đầu tiên của chúng ta, lần này trong vai trò của những nhà văn, tại Hà Nội. Trong số rất nhiều kết quả, kết quả quan trọng nhất của hội nghị đầu tiên vào năm 1991 chính là việc mở ra những cánh cửa, để lần đầu tiên trong lịch sử của hai nước chúng ta, đã có sự trao đổi phi thường và làm thay đổi cuộc sống của những ý tưởng đặt giữa trung tâm của tất cả những gì chúng ta nâng niu nhất như gia đình, đất nước, thơ ca, ẩm thực và sự quan trọng cấp bách của việc học cách sống trong một thế giới toàn cầu nơi chúng ta phải giúp đỡ và lệ thuộc vào nhau. Chúng ta đã lúng túng trong cuộc gặp đầu tiên đó, và có lẽ thậm chí còn hơi cảnh giác với nhau và động cơ của nhau, nhưng bất kể sự nghi ngờ nào về lòng tin hoặc sự chân thành nhanh chóng biến mất vì hội nghị đầu tiên đã cho phép chúng ta dành thời gian cho nhau ngoài những cuộc thảo luận và gặp mặt chính thức, để chúng ta có thể tìm hiểu về nhau và nhận ra rằng chúng ta giống nhau đến đâu.
Trong bối cảnh chính trị giữa hai bên vào thời điểm đó, việc tổ chức và tài trợ buổi hội thảo đã là một hành động can đảm và mạo hiểm của Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhờ vào thời gian ở Việt Nam dưới vai trò là một du khách và một người bạn, tôi đã có cơ hội trải nghiệm hai hệ thống giáo dục thơ ca: một ở các trường đại học Mỹ (không tệ) và một trong văn hóa thơ ca và văn hóa Việt, thực sự là đời sống Việt, bởi vì ở đây chúng thực sự là một.
Cuộc gặp gỡ giữa chúng ta mấy chục năm trước đã mở ra nhiều cơ hội quý báu cho sự giao lưu giữa các nhà văn, nhà văn và các nhà xuất bản ở cả hai bên. Các giao lưu này đã dẫn đến sự đa dạng về thể loại văn học Việt Nam không chỉ được dịch sang tiếng Anh - thường là do các nhà văn Mỹ cùng với đồng nghiệp Việt Nam - mà còn được sử dụng trong giáo dục ở các trường cấp ba, cao đẳng và đại học ở Mỹ, giúp các thế hệ trẻ Mỹ hiểu sâu hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Điều này chưa từng xảy ra ở Mỹ.
Những nỗ lực của chúng ta vẫn chưa đủ. Khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở quê hương chúng tôi đã khiến nguồn tài trợ cho các dự án xuất bản quốc tế trở nên cạn kiệt, cộng với việc chi phí in ấn và lao động ngày càng tăng, các nhà xuất bản văn học uy tín và thành công nhất cũng đang phải giảm sản xuất các tác phẩm của các nhà văn Mỹ nổi tiếng. Hiện tại, tôi biết ít nhất mười bản dịch tiểu thuyết và thơ của Việt Nam đang chờ sự hỗ trợ từ các nhà xuất bản Mỹ, nhưng điều này gặp khó khăn do thiếu nguồn tài chính.
Chúng ta vẫn chưa giải quyết được vấn đề về cách trao đổi nền văn hóa văn học của chúng ta một cách hiệu quả và chuyên nghiệp, đảm bảo chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt được chất lượng và phân phối rộng rãi của các tác phẩm. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề này có lẽ không quá khó khăn như chúng ta nghĩ, đặc biệt là với những thành tựu đã đạt được trong mấy chục năm qua, trong việc kết nối hai nền văn hóa hoàn toàn khác biệt và sự tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong việc hiểu biết lẫn nhau. Hiện nay, Hội Nhà văn Việt Nam đang nỗ lực thực hiện một dự án truyền bá văn học Việt Nam ra thế giới. Điều còn lại là các đại diện chuyên nghiệp của các nhà văn và nhà xuất bản của cả hai bên sẽ cần phải ngồi lại với nhau và quyết định ai sẽ thực hiện công việc nào trong quá trình đó một cách hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất và chia sẻ công việc một cách công bằng. Bằng cách này, chúng ta có thể thành lập một thư viện độc đáo với những tác phẩm văn học Việt Nam dịch được phân phối rộng rãi ở cả Mỹ và Việt Nam, và sau đó là các quốc gia khác.
Ba mươi năm trước khi chúng ta gặp nhau lần đầu tiên như những đồng nghiệp văn chương, chúng ta đã là những người đàn ông và phụ nữ trong thời kỳ thanh xuân với niềm tin rằng điều duy nhất chúng ta chia sẻ chung là chiến tranh. Chúng ta cũng đã gặp nhau như những người anh chị trong cuộc chiến đấu vì sự công bằng qua việc trao đổi ý tưởng và ước mơ tự do và mở cửa. Mười ngày tại cuộc hội nghị ba mươi năm trước đã thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi và không thể quay ngược lại, đặt tôi trên con đường tiến bộ của tri thức thế giới - con đường mà tôi vẫn đang đứng ở đó, vào thời điểm này, bên cạnh các bạn. Bây giờ tôi hiểu rõ nhất hậu quả lâu dài mà chiến tranh mang lại cho con người và quốc gia.
Bây giờ chúng ta không còn trẻ nữa, nhưng tôi hy vọng thời gian đã làm chúng ta trở nên thông thái hơn. Chúng ta bây giờ là những nhà văn, những người bạn và đồng nghiệp văn chương trong suốt ba mươi năm qua. Tôi biết ơn mọi cơ hội được ở bên cạnh các bạn. Tất cả bạn bè của tôi đều biết rằng tôi yêu Việt Nam, tôi yêu văn hóa và văn học Việt Nam như thế nào, và họ cũng biết rằng mỗi khi ở Việt Nam, tôi được hồi sinh từ những vấn đề về sức khỏe để rồi trở nên mạnh mẽ và tỉnh táo. Điều này phải có ý nghĩa gì đó.
Những gì tôi học được trong ba mươi năm làm bạn với các nhà văn Việt Nam là một món quà quý giá của cuộc sống, và một niềm tin vào sức mạnh của những giọng nói hàng ngày đến từ những góc khuất của cuộc sống và kể những câu chuyện không bao giờ cũ, những câu chuyện có thể cứu rỗi chúng ta. Tôi tin vào thiên đường của từ ngữ. Tôi tin rằng chỉ có thơ mới có thể nuôi dưỡng và chăm sóc những từ ngữ cần thiết cho hạnh phúc của chúng ta. Đó là bài học của ba mươi năm, mặc dù bây giờ có vẻ như là bài học xa xôi so với bạn bè hiện tại, đó là bài học mà xa lạ với thời chiến tranh và ít nhất là kết quả của sự hiểu lầm và mất mát nghiêm trọng giữa chúng ta. Nghịch lý của cuộc đời tôi luôn là việc chiến tranh đã lấy đi tuổi trẻ của tôi, làm tổn thương tâm hồn tôi vĩnh viễn, nhưng đồng thời cũng đã ban tặng Việt Nam cho tôi với tất cả sự bí ẩn và huy hoàng. Tôi không hiểu tại sao tôi không phải là người Việt Nam. Đôi khi tôi cảm thấy như mình là người Việt, hoặc tôi đã từng trải qua cuộc sống của một người Việt. Trong cuộc sống đó, tôi nhớ mình đã chạy qua những cánh đồng lúa, xanh mướt dưới ánh nắng chói chang, cùng với bạn bè của tôi, giữa những giai điệu thơ mộng từ sau lưng con đê làng, những bài hát về lao động và tình yêu, về quả khế và cái giếng sâu đầy nước mát. Những bài hát như những lời kinh nguyện, giúp công việc trở nên nhẹ nhàng hơn, nhưng nếu bạn lắng nghe kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng chúng là những bài hát đơn giản nhưng tuyệt vời nhất về hạnh phúc trong cuộc sống này, với một tiếng nói tự do và cơ hội để nói lên điều gì đó khiến người nghe xúc động và có thể dẫn tất cả chúng ta về phía ánh sáng.
Oberlin, Ohio
Nguyễn Phan Quế Mai chuyển ngữ
Nguồn Văn nghệ số 27/2021
