
Tình yêu không tuổi và thơ tình vẫn hấp dẫn qua bao năm tháng. Với Nguyễn Thụy Kha, cảm xúc khi đứng giữa hai nơi yêu thương: hiện tại và quá khứ đã tạo ra những vần thơ được ghi vào lưu bút ngày hôm qua: “Mang người yêu đi qua nhà người yêu cũ/ Rơi mưa trưa/ Bỗng thấy mình chia làm hai nửa/ Nửa ướt giờ, nửa ướt xa xưa”.
Nguyễn Thụy Kha (sinh năm 1949) là một nghệ sĩ tài năng: viết thơ, viết báo, soạn nhạc và nghiên cứu âm nhạc. Trong lĩnh vực thơ, ông thường viết về chiến tranh vì ông từng là lính thông tin tại mặt trận Quảng Trị. Ngoài bài thơ Không tiêu đề (1977), gần đây ông đã chuyển sang viết về tình yêu với tập: Hiền (2015); Nàng (2018) và vào những ngày cuối năm 2020, độc giả đã bị cuốn hút bởi sự xuất hiện đồng hành của Mây và Cưng. Tình yêu nồng nàn, mãnh liệt trong thơ của Nguyễn Thụy Kha hiện diện rõ trong những vần thơ ông dành cho người vợ yêu thương: “Nếu được ở bên em/ Anh sẽ/ nghiêng bàn tay chứa đầy nỗi nhớ/ đổ tràn tóc em” (Hiền - tr.32).
Trong người đàn ông yêu lúc tuổi xế chiều đó, chúng ta tìm thấy một quan niệm, một cách suy nghĩ về tình yêu rất đặc biệt: “Yêu là sinh, yêu là sống đến cùng”, “Chỉ có tình yêu là bất diệt đời đời/ Chỉ có tình yêu là mãi mãi sống sôi” (Mây - tr.41). Cách nhìn của Nguyễn Thụy Kha khiến ta nghĩ đến những bài thơ của ông hoàng tình yêu Xuân Diệu: “Yêu là chết trong lòng một chút/ Vì hiếm khi yêu mà chắc chắn được yêu”. Hai nhà thơ, hai thế hệ, hai vũ trụ tình yêu khác biệt; với Nguyễn Thụy Kha - người thơ của thế kỷ 21, tình yêu mang sức mạnh tái sinh tâm hồn, con người sẽ “rất người” khi yêu. Xuất phát từ quan niệm tình yêu làm trẻ hóa tâm hồn và thân xác; người thơ ấy hiểu được giá trị của tình yêu: “Chỉ tình yêu khiến con người trở lại tuổi thơ/ Khiến con người tìm ra mọi cách ngắn nhất/ Khiến thời gian dài lại gần gũi/ Không có thời gian và không không gian” (Cưng - tr.74). Thực sự, tình yêu có sức phục hồi, giảm bớt khoảng cách, giúp con người gần nhau hơn.
Trang thơ của Nguyễn Thụy Kha tôn vinh yêu thương con người, yêu cuộc sống đến mức say mê, lan tỏa niềm hy vọng vào Cái Đẹp, cái Thiện vẫn tồn tại giữa những bon chen, xô bồ của cuộc sống. Nhà thơ trân trọng mỗi khoảnh khắc trôi qua trong cuộc sống, khao khát được yêu để tận hiến: “Ôi cuộc đời chúng ta yêu đến mê muội/ Hơn tất cả những thứ cao quý giả dối bần tiện” (Mây - tr.62). Đọc thơ tình của Nguyễn Thụy Kha, ta phát hiện một quan niệm mới về cuộc sống, coi trần thế như một bữa tiệc, coi vẻ đẹp của con người là thước đo của mọi vẻ đẹp. Để thực hiện điều đó, nhà thơ phải là chính mình với tình yêu, chân thành với lòng mình và không ngần ngại khi thể hiện những cảm xúc đắm say đến mức mãnh liệt, mạnh mẽ: “Ta rời bỏ thân xác bay lên trong tình yêu/ No lên trong cuộc tiệc này lại thèm khát tiệc sau” (Mây - tr.70).
Khác biệt với quan niệm tình yêu lý tưởng và có phần trừu tượng, tình yêu trong thơ của Nguyễn Thụy Kha rất thực tế, gần gũi với mọi người bởi là sự kết hợp của khoái cảm thân thể và động lực tinh thần. Đó là cách nhìn đánh giá cao từng chi tiết trong cơ thể người yêu và niềm say mê, đắm chìm trong vẻ đẹp ấy: “Ở đây, uống đi để hết đôi chân dài/ Ở đây, say mê để ngực căng đầy/ Ở đây, đắm đuối trong đám lửa bùng cháy/ Ở đây, say mê thở hương tình” (Cưng - tr.33). Bằng lòng ham muốn yêu đến nỗi cháy bỏng, nhà thơ đã tạo ra hình ảnh khỏa thân của người yêu bằng từ ngữ và có thể thảo luận như F. Engels: đây là cảm xúc chân thành của một “nhục cảm lành mạnh”.
Cảm giác yêu thương trong thơ của Nguyễn Thụy Kha đầy đủ, toàn diện, bởi đó là một tình yêu hiến dâng không điều kiện, không tính toán; không chán nản dù mọi mối tình đều có tất cả các giai đoạn: nhớ nhung, cô đơn khi chia xa; hạnh phúc, phấn khích khi gặp lại và kết cục không được lý tưởng là điều không thể tránh khỏi. Nhưng ở Nguyễn Thụy Kha, những kết cục không hoàn hảo của mỗi mối tình đi qua đều được dự báo, ông sẵn sàng chấp nhận với tâm trạng nhân ái, tha thứ và lúc đó thơ là người bạn đồng hành chân thành nhất: “Chỉ có những câu thơ mới đứng vững anh chịu được/ Bão táp nơi ưu phiền/ Chỉ có những câu thơ mới giúp anh thoát ra khỏi ảo ảnh/ Tạo dựng anh lên từ sự tha thứ” (Mây - tr.118). Ý thơ cao quý giá trị của nghệ thuật chân chính; thơ đích thực sẽ là điểm tựa cho tâm hồn con người giữa vòng xoáy của sự tha hóa đang vây quanh.
Đến với những vần thơ “đam mê” của Nguyễn Thụy Kha, tâm hồn con người như được tái sinh, để hiểu rõ hơn về tình yêu trong cuộc sống này. Để truyền niềm tin vào tình yêu cho người đọc, Nguyễn Thụy Kha đã áp dụng một số kỹ thuật để làm mới một chủ đề dường như đã cũ. Tần suất của những động từ mạnh mẽ mang màu sắc nhục cảm đậm trong thơ ông: khao khát, muốn, ham muốn, uống, đánh thức, say, thở, cháy bỏng, thắt lại… Cùng với hàng loạt từ vựng giàu hình ảnh vừa tượng thanh vừa gợi hình: đỏ rực, hôi hổi, nhiệt huyết, nhấp nhô, hỗn loạn, sáng chói, rực rỡ… Mỗi từ ngữ xuất hiện trong thơ của ông đều giàu biểu cảm, tự nhiên như hơi thở, nhịp đập của một trái tim yêu và say đến tận cùng: “Anh đốt lên nỗi nhớ bùng cháy từng từng chữ/ Hy vọng câu thơ dịu dàng giảm bớt nỗi đau của em”. Nghệ thuật phối thanh, tạo ra những vần thơ mới mẻ, cùng với việc ẩn dụ, so sánh để thay đổi cảm giác thường xuyên xuất hiện trong hai tập thơ tình của Nguyễn Thụy Kha truyền cho người đọc niềm biết ơn và tôn trọng những hạnh phúc giản dị từ tình yêu nhỏ bé, bình dị: “Mùa thu sẽ tàn, nhưng tình yêu vẫn rực cháy/ Soi sáng thế gian qua các thời kỳ sau này' (Mây - tr.79)…
Theo Báo Thanh Niên
