- Xem các ý nghĩa khác của từ Viking tại trang Viking (định hướng)
Thời kỳ Viking là một thời kỳ trong lịch sử Bắc Âu từ khoảng năm 793 đến năm 1066. Thời kỳ này nổi tiếng với vô số cuộc viễn chinh cướp bóc của người Viking, tiếp theo là các cuộc chiếm đóng với quy mô lớn. Người Viking Đan Mạch đã phá hoại, cướp bóc nước Anh, Ireland và 'vương quốc Francia'; trong khi người Viking Na Uy viễn hành tới Scotland, quần đảo Orkney, quần đảo Faroe, Iceland và đảo Greenland; người Viking Thụy Điển đi về phía đông, tới Nga và tới tận đế chế Byzantin.
Trong thời kỳ này, các nhóm người Viking đã tham gia buôn bán, cướp phá trên rộng lớn châu Âu, phía tây nam châu Á và khám phá các vùng Bắc Đại Tây Dương, đông bắc châu Mỹ. Ngoài việc buôn bán và cướp phá, họ cũng tham gia vào việc đánh thuê, bắt nô lệ và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của chế độ phong kiến ở châu Âu.
Xã hội người Viking trong thời kỳ này chưa hình thành các quốc gia, mà chỉ tồn tại dưới dạng các đơn vị nhỏ như làng xã độc lập. Việc hình thành các quốc gia ở Bắc Âu xảy ra trong thời kỳ trung cổ.
Đặc điểm nổi bật
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của thời kỳ này là kỹ thuật đóng tàu, thuyền. Những chiếc tàu buôn có khả năng vượt biển rộng lớn cũng như những thuyền chiến nhẹ nhanh, di chuyển bằng buồm và chèo, cũng như có thể ra khơi. Ngoài ra, theo nhiều nhà nghiên cứu, yếu tố khí hậu ấm áp tương đối cũng giúp người Viking chiếm đóng các thuộc địa trên Đại Tây Dương.
Trong thời kỳ Viking, các nền văn hóa của nhiều vùng châu Âu cùng với Kitô giáo đã lan đến Bắc Âu, gây ra những thay đổi đáng kể trong xã hội Bắc Âu. Khi các biện pháp phòng thủ ngày càng hiệu quả hơn, các cuộc viễn chinh của người Viking cũng dần giảm sút.
Thời kỳ
Mặc dù theo Biên niên sử Anglo-Saxon, người Viking đã tấn công đảo Portland (ở biển Manche) từ năm 787, nhưng theo truyền thuyết, thời kỳ Viking bắt đầu từ năm 793 sau Công Nguyên, khi người Viking xông vào cướp phá tu viện trên đảo Lindisfarne, còn được gọi là đảo Thánh (Holy island) ở đông bắc Anh.
Cuối thế kỷ 8, vua Charles đại đế (Charlemagne) trở thành vị vua thống trị vương quốc Francia (còn được gọi là Frankia) và chinh phục các vùng đất của người Sachsen ở phía bắc sông Elbe. Dân chúng đã nổi dậy, với sự trợ giúp từ tổ tiên của người Đan Mạch và từ năm 804 đến 810, Charles đại đế đã gặp phải nhiều khó khăn với vua Đan Mạch Godfred khi Godfred tiến hành phản công và chinh phục người Obotrites (cư trú ở vùng Mecklenburg, Bắc Đức ngày nay). Năm 810, Godfred lên kế hoạch thành lập một hạm đội lớn để tấn công trực tiếp 'vương quốc Francia', nhưng lại bị một trong các cận thần giết chết. Trong vòng 5 năm sau đó, Đan Mạch rơi vào cuộc nội chiến tranh quyền lực, và con trai của Godfred cuối cùng đã lên nắm quyền.
Người Viking tại Anh và Ireland

Những chuyến đi đầu tiên của người Viking
Khi người Viking đến cướp đảo Lindisfarne, họ thu được nhiều tài sản chiến lợi phẩm và bắt đầu quan sát nước Anh. Trước năm 760, nước này đã được chia thành nhiều vương quốc nhỏ, nhưng mọi thứ đã thay đổi khi Offa trở thành vua Mercia vào năm 757. Trong thời gian ông nắm quyền lâu dài, ông đã chinh phục phần lớn lãnh thổ Anh và khi ông qua đời, ông cũng đã làm vua của Kent, Sussex, Wessex và East Anglia. Sau khi Offa qua đời, các vị vua kế nhiệm liên tiếp nhau nhưng đều yếu kém và không ai thống trị được lâu dài.
Sau cuộc tấn công đầu tiên vào đảo Lindisfarne vào năm 793, người Viking bắt đầu tấn công các tu viện của Anh, nơi mà có nhiều kho báu. Offa cũng là vị vua Anh đầu tiên đúc tiền bạc mà người Viking cho là có giá trị lớn.
Quá trình chinh phục và rút lui
Từ năm 793 đến khoảng năm 850, người Viking đã tấn công và chiếm đóng Anh. Năm 870, người Viking đã chiếm được East Anglia, Northumbria và Mercia. Vương quốc Wessex lúc đó do vua trẻ Alfred cai trị (sau này được gọi là Alfred Đại Đế). Ban đầu, người Viking chiếm lĩnh và giữ phần lớn Wessex, nhưng dù đối mặt với áp lực lớn, Alfred vẫn không đầu hàng. Cuối cùng, ông đã đánh bại người Viking trong trận Cannington (nay là Edington ở Wiltshire), sau đó hai bên đã ký thỏa thuận chia đôi Anh. Khu vực mà người Viking chiếm được được gọi là Danelaw, bao gồm East Anglia, Northumbria, một nửa phía đông của Mercia và phần lớn Essex. Alfred chiếm được nửa phía tây của Mercia, Kent, Sussex, Wessex và Wales.
Dần dần người Viking hợp thành các đội hạm lớn, chiếm giữ các căn cứ địa phương và có thể cướp phá các vùng lân cận. Đôi khi các đội hạm này quá mạnh đến mức họ có thể yêu cầu cư dân đóng góp tiền cải, được gọi là Danegæld (tiền nợ người Đan), để tránh bị cướp.
Người Viking tấn công các tu viện trên bờ biển phía tây Ireland vào năm 795. Trong 40 năm tiếp theo, họ liên tục cướp phá các vùng bờ biển phía bắc và phía đông. Từ năm 840, họ đặt các căn cứ cố định tại bờ biển Ireland. Năm 888, đội hạm Viking xâm nhập sông Liffey ở đông Ireland và xây dựng một căn cứ mà người Ireland gọi là Longphort, từ đó thành phố Dublin ra đời. Người Viking cũng lập các căn cứ tại Cork, Limerick, Waterford và Wexford. Trận Contarf ngày 23.4.1014 là một trong những trận đánh lớn cuối cùng mà người Viking tham gia ở Ireland, giúp vua Leinster Máel Morda mac Murchada nhưng kết quả không thuận lợi. Sau đó, họ buộc phải rút về Anh và Scotland.
Trong thế kỷ 10, Đan Mạch trở thành một vương quốc mạnh mẽ với quyền lực trung ương. Vua Đan Mạch Svend Tveskæg chinh phục nước Anh vào năm 1013 và đặt nền móng cho một đế quốc vùng Bắc Hải bao gồm Đan Mạch, Anh, Na Uy và một phần Thụy Điển, tồn tại đến khi con trai ông, Knud đại đế (Canute Đại Đế, khoảng 995 - 1035) kế nghiệp từ năm 1016 và qua đời năm 1035.
Năm 1066, nước Anh bị quý tộc Norman William Đế (William the Conqueror, cũng là hậu duệ của người Viking Đan Mạch) xâm chiếm. Sau trận chiến Stamford Bridge ngày 25.9.1066, thời kỳ Viking kết thúc.
Ảnh hưởng của người Viking tại Anh và Ireland
Việc xâm chiếm Anh và Ireland của người Viking để lại dấu ấn sâu sắc trong văn hóa của hai nước này. Mặc dù họ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng địa phương, nhưng họ cũng mang theo những đặc trưng văn hóa riêng và tác động của chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay, đặc biệt là trong lĩnh vực ngôn ngữ. Nhiều từ tiếng Anh có nguồn gốc từ ngôn ngữ Bắc Âu, như có thể thấy rõ trong các tên địa danh. Có hơn 15.000 địa danh gốc Scandinavia, đặc biệt là ở Yorkshire và Lincolnshire. Ở York, thủ đô cổ của người Viking, nhiều con đường có tên kết thúc bằng -gate (gốc từ tiếng Đan gade = con đường). Ở miền bắc Anh, nhiều thị trấn nhỏ và làng quê có tên kết thúc bằng -dale, -ness, -beck, -thorpe, -toft và vv..., đặc biệt là từ -by có hơn 600 địa danh như Grimsby, Naseby... Nhiều từ khác cũng có nguồn gốc từ tiếng Đan như skirt, sky, skin, score, landing, beck, fellow, birth, cake, fog, gasp, law, neck, sister, seat, smile, window...
Nhiều tên người có nguồn gốc từ tiếng Scandinavia như Crystal, David...
Tại Tây Âu
Các cuộc viễn chinh cướp bóc của người Viking đã đến xa tận vùng Địa Trung Hải. Năm 808, vua Đan Mạch Godfred tấn công thương trấn Reric của người Sachsen, khiến vua Charlemagne phải huy động lực lượng lớn để đáp trả, sau đó Godfred rút lui. Năm 810, Godfred gửi 200 chiến thuyền tấn công Friesland (nay là Hà Lan), nhưng sau đó bị giết và Hemming, người kế nhiệm, ký hiệp ước hòa với Charlemagne và rút quân về. Năm 845, người Francs cố gắng lôi kéo người Obotrites vào phe mình, vua Đan Mạch Horik đáp trả bằng việc phá hủy thành phố Hamburg và sai Regnar Lodbrog dẫn đội quân 5.000 người dọc sông Seine, tiến vào cướp bóc Paris. Trong những năm 860, họ tiến hành cướp bóc Paris ba lần. Ngày 25.7.864, Charles II, được biết đến với biệt danh Charles đầu hói, được xem là vua Pháp đầu tiên, phải ban hành chỉ thị tại Pistres (Edict of Pistres) để xây dựng các cầu thủy tại đây (nay là Pitres) và hai cầu tại Paris (île de la Cité) để phòng thủ, ngăn chiến thuyền Viking đi qua. Năm 885, Sigfred, lãnh đạo người Viking Đan Mạch, yêu cầu Charles nộp tiền cống, nhưng bị từ chối. Sigfred sau đó dẫn 700 chiến thuyền, với hơn 30.000 người, theo sông Seine để bao vây Paris trong 11 tháng và tấn công các vùng lân cận, nhưng không thể chiếm được Paris và cuối cùng phải rút lui. Năm 911, thủ lĩnh Viking Rollo đến và đe dọa tàn phá nặng nề, khiến vua Charles III phải nhượng khu vực quanh sông Seine (sau này là vùng Normandie) cho Rollo, người đã chấp nhận theo đạo Công giáo, cam kết chống lại các thế lực Viking khác và thành lập thủ đô tại Rouen. Các thế hệ kế nhiệm Rollo mở rộng lãnh thổ gấp đôi. Năm 1050, người Viking định cư tại Normandie, Roger, dẫn quân xuống miền Nam Ý và Sicilia, đánh bại quân Hồi giáo và lên ngôi vua của vùng này. Năm 1066, Wilhelm Đế, người chinh phục từ Normandie (cũng là hậu duệ của người Viking Đan Mạch), dẫn quân sang Anh, đánh bại vua Anh Harold Godwinson (Harold II) và lên ngôi vua nước Anh. Năm này đánh dấu sự kết thúc thời đại Viking.
Tại Bắc Đại Tây Dương và Đông Bắc Châu Mỹ
Các Viking Na Uy chinh phục vùng phía tây bắc, khám phá và chiếm đoạt quần đảo Shetland, Orkney, quần đảo Faroe, đảo Iceland và đảo Greenland
Vào khoảng năm 986, Bjarni Herjólfsson khám phá Bắc Mỹ và Leif Ericson (970 - 1020) đổ bộ vào một nơi trên lãnh thổ Bắc Mỹ được gọi là Vinland (đất của vườn nho), nay là l'Anse aux Meadows, cực bắc đảo Newfoundland (Canada)
Trong vùng Đông và Nam châu Âu
Các Viking Thụy Điển (còn được gọi là Varjag trong tiếng Thụy Điển và Varyag trong tiếng Nga) đã mở rộng về phía Đông và sau đó về phía Nam, đi qua các khu vực ngày nay là Nga và Ukraina vào thế kỷ 9 và 10, chủ yếu là để buôn bán và làm lính đánh thuê. Họ đi qua hệ thống sông Gardanki, đến Biển Caspi và Constantinople. Họ định cư tại Aldeigja gần hồ Ladoga trong những năm 750.
Từ năm 839, các Varjag đã làm lính đánh thuê, phục vụ cho Đế quốc Byzantine, đặc biệt là vua Na Uy Harald Hardrada (Harald II Sigurdsson 1015 - 1066) đã tham gia chiến đấu tại Bắc Phi, Jerusalem và nhiều nơi khác ở Trung Đông.
Năm 862, các bộ tộc Fennic và người Slav nổi lên chống lại người Varjag, đuổi họ quay về Scandinavia, sau đó hai bộ tộc này xung đột với nhau và phải mời người Varjag trở lại để hòa giải và thiết lập lại trật tự. Người Varjag do Rurik và hai người em Truvor và Sineus đến đóng quân tại Holmgard gần Novgorod (Nga). Thế kỷ 9, người Viking Thụy Điển mở đường buôn bán dọc sông Volga, nối miền bắc Nga với vùng Trung Đông.
Năm 882, Oleg Helge (biệt danh Oleg Novgorod) - người kế vị Rurik - chiếm Kiev và thành lập vương quốc Kiev.
Triều đại Rurik thống trị phần lớn nước Nga suốt 750 năm, từ năm 862 đến năm 1598.
- Người Viking
Liên kết bên ngoài
- Vikings - Lịch sử BBC (bộ sưu tập các bài viết ngắn dưới các tiêu đề Tổng quan, Cướp bóc và Định cư, Văn hóa Viking, Bằng chứng)
- Vikings: Cuộc phiêu lưu Bắc Đại Tây Dương - Trang web Smithsonian cho triển lãm du lịch, 2000-2003.
- Thời đại Viking của Đan Mạch
- Văn học Norse cổ từ 'Kulturformidlingen norrøne tekster og kvad' Na Uy.
- Aksel E. Christensen: 'Giữa thời Viking và thời Valdemar. Một cố gắng tìm hiểu tổng hợp' (Tạp chí Lịch sử, dòng 12, Tập 2; 1966)
- Aksel E. Christensen: 'Ai (vua) Svend đã bao vây Hedeby? I. Các khả năng nhận dạng lịch sử' (Tạp chí Lịch sử, dòng 12, Tập 5; 1971)
- Aksel E. Christensen: 'Fyrkat. Một thành trì Viking Jutland. Trong: Thành trì và cư dân của Olaf Olsen và Holger Schmidt. II: Các di tích cũ và nghĩa trang của Else Roesdahl. Các di tích tiền sử Bắc Âu, loạt B in quarto bd. 3-4, xuất bản từ Hội Khảo cổ học Bắc Âu Hoàng gia, Copenhagen 1977. 282 + 233 trang. minh họa: 165 + 135 đô la' (Tạp chí Lịch sử, dòng 13, Tập 6; 1979)
- Olaf Olsen (đánh giá): 'Aksel E. Christensen: Đan Mạch thời Viking dựa trên nền tảng lịch sử cổ. Xuất bản bởi Quỹ Đại học Copenhagen để cung cấp tài liệu giảng dạy. Được phân phối bởi Gyldendal. Copenhagen 1969. 308 trang.' (Tạp chí Lịch sử, dòng 12, Tập 5; 1971)
