Ống kính Sony FE 50mm f/1.2 là sản phẩm đầu tiên trong dòng máy ảnh Alpha của Sony có khẩu độ f/1.2, ra mắt vào tháng ba năm nay. Một điều đáng chú ý là nhiều người cho rằng ngàm Sony E với độ dày chỉ 46.1mm có thể sẽ hơi nhỏ so với một ống kính có khẩu độ lớn. Tuy trước đó Sigma đã tung ra ống kính Sigma 35mm f/1.2 cho ngàm E, nhưng Sony vượt qua giới hạn đó là một điều vô cùng đặc biệt. Không chỉ sản xuất ống kính 50mm với khẩu độ lớn f/1.2, họ còn thể hiện khả năng của mình qua việc tạo ra một thiết kế ống kính cực kỳ nhỏ gọn so với đối thủ.Do đó, một số trang chụp ảnh đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia về quang học và cơ học của Sony, chia sẻ về quá trình thiết kế và sản xuất ống kính đặc biệt này.
Thông tin Cơ bản
FE 50mm f/1.2 thuộc dòng ống kính 'G Master' cao cấp, với thiết kế chống thấm nước và chống bụi, vỏ bằng hợp kim magiê và hệ thống gioăng cao su bên trong. Ống kính có các vòng điều chỉnh khẩu độ và lấy nét, bao gồm cả nút chuyển đổi khẩu độ yên lặng cho quay video. Có thể chuyển đổi giữa chế độ lấy nét tự động và thủ công ngay trên thân ống kính. Bên trong, Sony sử dụng 14 thấu kính chia thành 10 nhóm, bao gồm 3 thấu kính XA (phi cầu cực đại), để đảm bảo độ phân giải cao nhất và hiệu suất tối ưu với khẩu độ lớn. Công nghệ phủ lớp Nano AR II được áp dụng để kiểm soát hiện tượng Flare và Ghosting, trong khi lớp phủ Flo chống bám bụi và vân tay. Hệ thống lá khẩu 11 lá giúp tạo ra hiệu ứng Bokeh tự nhiên và mịn màng. FE 50mm f/1.2 được trang bị 4 động cơ tuyến tính XD giúp lấy nét nhanh chóng, chính xác và yên tĩnh. Kết hợp với AF Real-time và Eye-AF của Sony, ống kính này mang lại hiệu suất lấy nét hàng đầu.
Thông số Kỹ thuật
- - Ống kính E-mount Fullframe
- - Khẩu độ từ f/1.2 đến f/16
- - Sử dụng 3 thấu kính XA
- - Được phủ lớp Nano AR II và Fluorine
- - Sử dụng motor lấy nét tuyến tính, có tính năng lấy nét trong
- - Có nút giữ chức năng tùy chỉnh - Focus Hold Button, Nút chuyển AF/MF
- - Vòng điều chỉnh khẩu độ trên thân ống kính, có tính năng tắt tiếng kêu khi thay đổi khẩu độ
- - Khả năng chống bụi và ẩm mốc
- - Đường kính filter size 72mm
- - Giá bán tại Việt Nam là 47 triệu đồng
Toàn bộ cuộc phỏng vấn
- Atsuo Kikuchi: Giám đốc Nhóm Sản phẩm và Thiết kế Quang học
- Yuichiro Takata: Giám đốc Nhóm Thiết kế Cơ học

Mục tiêu khi phát triển ống kính f/1.2 đầu tiên là gì?
Kikuchi: Mặc dù đã tung ra nhiều ống kính prime với khẩu độ lớn, nhưng chúng tôi nhận thức rõ rằng khách hàng trên toàn cầu mong muốn một ống kính khẩu độ lớn có tốc độ nhanh hơn. Sản phẩm có nhu cầu cao nhất là một ống kính G Master tiêu chuẩn 50 mm F1.2.Khi phát triển ống kính F1.2 khẩu độ lớn, chúng tôi hiểu rằng cần duy trì độ phân giải và chất lượng hiệu ứng bokeh cao của dòng G Master, đồng thời đảm bảo ống kính vẫn dễ sử dụng. Nếu chúng tôi chỉ tập trung vào kích thước khẩu độ và làm cho ống kính quá to và nặng, chúng tôi sẽ mất đi ưu điểm chính của hệ thống E-mount, đó là sự kết hợp nhỏ gọn và nhẹ giữa ống kính và thân máy. Dù có đặc tính quang học xuất sắc nhưng nếu ống kính không thể tối ưu hóa hiệu suất từ hệ thống lấy nét tự động vượt trội của thân máy ảnh, hoặc không thể sử dụng lấy nét tự động, thì cũng chỉ là một thất bại trong việc làm hài lòng khách hàng.Để có ống kính tự động với chỉ số F nhanh nhất trong lịch sử Alpha mà không làm mất hiệu suất tự động, duy trì khả năng thao tác dễ dàng và di động, chúng tôi cần sử dụng công nghệ hiện đại nhất của Sony. Bên cạnh hiệu suất quang học xuất sắc, tôi tin rằng người dùng sẽ bất ngờ trước sự nhẹ nhàng, nhanh chóng và mịn màng của lấy nét tự động trên ống kính F1.2 này.Tôi tin rằng việc thêm ống kính F1.2 này vào dòng máy Alpha sẽ mở rộng khả năng ghi hình cho những người sáng tạo. Đây là ống kính mà cả chuyên gia và người mới bắt đầu có thể sử dụng trong nhiều tình huống, từ chụp chân dung và đám cưới đến phong cảnh và chụp nhanh.Dòng máy Alpha đã có ống kính Planar T* FE 50 mm F1.4 ZA từ trước. Mặc dù khác biệt giữa khẩu độ tối đa F1.4 và F1.2 của ống kính FE 50 mm F1.2 GM có vẻ không lớn, nhưng thực tế là một bước đáng kể, vì khả năng thu ánh sáng của ống kính F1.2 đòi hỏi khẩu độ hiệu dụng lớn hơn khoảng 17%, hoặc diện tích khẩu độ lớn hơn gần 40%, tạo ra những thách thức đáng kể trong thiết kế và sản xuất ống kính F1.2 nhỏ gọn.Để vượt qua vấn đề này, chúng tôi phải đối mặt với nhiều thách thức mới.
Một trong những biện pháp làm điều đó là giảm kích thước phần tử thấu kính trước, dù ống kính có khẩu độ F1.2, bằng cách sử dụng nhiều thấu kính XA (phi cầu cực đại), một công nghệ độc quyền chỉ có trên các sản phẩm của Sony. Phương pháp này giúp tránh việc phải tăng kích thước ống kính trước và cho phép chúng tôi xử lý kỹ lưỡng việc bù quang sai phát sinh ở các ống kính có đường kính lớn.Để giảm thiểu hiện tượng quang sai, hệ thống lấy nét động có hai nhóm lấy nét được truyền động độc lập, được sử dụng để bù quang sai tối ưu trong toàn bộ phạm vi lấy nét, kể cả ở khoảng cách lấy nét tối thiểu.Hệ thống truyền động lấy nét sử dụng Mô-tơ tuyến tính XD (cực động) độc quyền của Sony, kết hợp lực đẩy mạnh mẽ và độ mượt mà. Bốn bộ truyền động nhỏ gọn này điều khiển chính xác, cho phép thiết kế nhóm lấy nét với nhiều phần tử, cung cấp khả năng bù quang sai vượt trội.Kết quả là một ống kính với độ phân giải đỉnh cao của dòng G Master, tận dụng tốc độ tối đa, độ chính xác và hiệu suất theo dõi từ chế độ lấy nét tự động của máy ảnh. Và tất cả đều được gói gọn trong thân ống kính chỉ dài 108 mm và nặng 778 g — một sự đồng nhất với ống kính Planar hiện tại. Chúng tôi tự hào về chiếc ống kính F1.2 này, hy vọng nó sẽ mang lại giá trị lớn cho cả những chuyên gia và người đam mê nhiếp ảnh.
Độ phân giải ấn tượng dù ở khẩu độ F1.2
Kikuchi: Để đạt hiệu suất quang học cao và giữ kích thước nhỏ cho ống kính F1.2, chúng tôi áp dụng thấu kính XA độc quyền của Sony và các công nghệ mô phỏng để tối ưu hóa độ phân giải, hiệu ứng bokeh và quang sai màu. Tăng hiệu suất quang học chủ yếu đến từ việc giảm quang sai. Trước đây, các ống kính 50 mm thường sử dụng bố cục kiểu Gauss. Loại bố cục này phân bố các nhóm thấu kính đối xứng ở hai bên khẩu độ trung tâm, giúp loại bỏ quang sai từ mỗi bên. Phương pháp này rất phù hợp với góc nhìn của ống kính 50 mm, vì vậy hầu hết các ống kính 50 mm trước đây đều áp dụng bố cục này. Tuy nhiên, cấu trúc đối xứng này chỉ bù cho độ biến dạng và cong của quang sai trường ảnh mà không thể bù hiệu quả cho quang sai cầu hay chói dọc. Tóm lại, việc lựa chọn thiết kế quang học này không đảm bảo hiệu suất bù quang sai cao như mong đợi. Các nhiếp ảnh gia kinh nghiệm đều biết rằng thiếu khả năng bù quang sai đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh phân giải của toàn bộ bức ảnh. Các nguồn sáng nhỏ như ngôi sao trên bầu trời thường cần được lấy nét chính xác, nhưng nếu quang sai không được bù đủ, chúng có thể xuất hiện như chim vỗ cánh hoặc tạo hiện tượng tản màu. Để giải quyết vấn đề này, người ta thường phải giảm khẩu độ, nhưng điều này có thể làm mất đi ưu điểm của ống kính có khẩu độ lớn. Mục tiêu của chúng tôi với ống kính này là cung cấp hiệu suất quang học tốt nhất để người dùng có thể chụp ảnh một cách tự tin ở khẩu độ tối đa. Để đạt được điều đó, cách bố trí quang học của chúng tôi đã thay đổi một phần thiết kế đối xứng và giảm thiểu các quang sai khó chịu khi sử dụng ống kính đối xứng.
Thường thì, để điều chỉnh quang sai cầu và hiện tượng chói dọc, ống kính kiểu đối xứng sẽ có phần trước lớn và bao gồm nhiều phần tử quang học.
Cách bố trí quang học mới của chúng tôi chỉ sử dụng ba thấu kính XA (phi cầu cực đại) để tránh làm tăng đường kính của phần trước và duy trì số lượng thấu kính ở mức tối thiểu để giữ kích thước tổng thể nhỏ gọn.
Đúng như từ ‘phi cầu’ trong tên gọi, hình dạng bề mặt của thấu kính XA không cố định; nó thay đổi từ trung tâm đến viền của thấu kính. Hình dạng của ba thấu kính XA được sử dụng trong ống kính này đã được tối ưu hóa thông qua việc áp dụng công nghệ mô phỏng quang học độc quyền của Sony.
Có thể bạn đã biết, độ chính xác của bề mặt thấu kính XA trong dòng G Master đã được điều chỉnh lên mức siêu hiển vi. Khẩu độ lớn F1.2 và đường kính phần tử bên ngoài lớn của ống kính này đòi hỏi sự gia tăng đáng kể độ chính xác trong từng bước sản xuất ba thấu kính XA được sử dụng, để nâng cao độ chính xác bề mặt cần thiết. Điều này là thách thức lớn nhất mà chúng tôi gặp phải trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, việc tích hợp quy trình thiết kế và sản xuất đã được cải thiện từng bước, đồng thời việc đối mặt với các thách thức công nghệ mới đã giúp chúng tôi đạt được cả đường kính lớn và độ chính xác cao.
Cụ thể, thấu kính XA được đặt ở vị trí thứ hai từ mặt trước trong sơ đồ cấu hình ống kính, góp phần quan trọng vào việc giảm số lượng phần tử thấu kính cần thiết trong cụm trước, cũng như kích thước và trọng lượng của cụm. Ở vị trí này, việc sử dụng thấu kính phi cầu đường kính lớn với độ chính xác sản xuất chỉ có thể được thực hiện bởi Sony là một điểm mạnh lớn hỗ trợ cho toàn bộ thiết kế quang học của ống kính F1.2 nhỏ gọn.
Sony sử dụng công nghệ mô phỏng quang sai màu độc quyền để tối ưu hóa việc kết hợp các chất liệu thủy tinh, giảm thiểu quang sai màu và hiện tượng tản màu một cách đáng kể, đồng thời đạt được mức độ cao nhất về độ phân giải và độ tương phản, bất kể khẩu độ lớn, phù hợp với danh hiệu ống kính G Master.
Khi nhìn vào sơ đồ cấu hình ống kính, kỹ sư quang học đôi khi có thể nghĩ 'phần tử này không đóng góp nhiều vào việc hiệu chỉnh quang sai' (cười). Với tư cách là một kỹ sư, mục tiêu của tôi là đạt được khả năng hiệu chỉnh quang sai hiệu quả nhất từ số lượng phần tử thấu kính ít nhất -- nói cách khác là tìm ra giải pháp giữ cho tổng thể ống kính nhẹ nhàng mà vẫn duy trì hiệu suất quang học. Như bạn đã thấy từ sơ đồ cấu hình của FE 50 mm F1.2 GM, thiết kế này không để bất kỳ yếu tố nào bị lãng phí hoặc ảnh hưởng, độ cong của tất cả các phần tử thấu kính được cân nhắc tỉ mỉ để giảm thiểu quang sai. Tôi hy vọng các nhà sáng tạo sẽ trải nghiệm và tận hưởng sự kết hợp giữa kích thước nhỏ gọn và hiệu suất quang học mà thiết kế quang học tối ưu mang lại.
Mỹ phẩm bokeh hoàn hảo với ống kính G Master F1.2
Kikuchi: Hiệu ứng bokeh của ống kính F1.2 không chỉ là phong phú mà còn vô cùng mượt mà và mịn màng, phản ánh rõ danh tiếng của ống kính G Master. Đặc biệt, trong chụp chân dung, hiệu ứng bokeh đóng vai trò không thể phủ nhận trong việc làm nổi bật chủ thể một cách tự nhiên. Hiệu ứng bokeh là một yếu tố rất cảm tính, thách thức đối với các kỹ sư, nhưng chúng tôi cam kết đạt được thành công để đáp ứng sự mong đợi của khách hàng đối với ống kính G Master F1.2. Từ giai đoạn thiết kế ban đầu, chúng tôi đã liên tục thực hiện mô phỏng và điều chỉnh hiệu ứng bokeh để chọn mức quang sai cầu lý tưởng, tối ưu hóa đồng thời hiệu ứng bokeh và độ phân giải mà không để yếu tố nào bị ảnh hưởng. Trong quá trình sản xuất, chúng tôi cũng điều chỉnh khoảng cách giữa các phần tử cho từng thấu kính để kiểm soát tốt quang sai cầu, đồng thời nắm bắt tốt độ cân bằng khó đạt được giữa tiền cảnh và hiệu ứng bokeh nền, từ đó tạo ra hiệu ứng tổng thể trung tính đẹp mắt. Đã nói qua về độ phân giải khi sản xuất thấu kính XA, nhưng việc quản lý độ chính xác bề mặt đến cấp độ siêu hiển vi cũng giảm thiểu hiệu ứng sọc hoặc “dạng vân hành” trong hiệu ứng bokeh hình cầu.
Về hệ thống lá khẩu 11 lá
Takata: Hiệu ứng bokeh tinh tế và đẹp mắt cũng được tạo ra nhờ khẩu độ tròn với 11 lá. Khẩu độ này đã được phát triển đặc biệt để duy trì hình dạng gần như hoàn hảo, ngay cả khi mở hoàn toàn. Với khẩu độ F1.2 lớn, trong thiết kế thông thường, lá khẩu tự nhiên sẽ có kích thước lớn. Khi mở khẩu, các lá khẩu lớn cần phải di chuyển ra ngoài không gian quang học và vượt qua đường kính hiệu dụng, làm tăng kích thước bên ngoài của ống kính. Để giảm kích thước bộ phận khẩu độ, chúng tôi đã phải thực hiện một thiết kế từ đầu, bao gồm cả hình dạng của các lá khẩu và cơ chế truyền động. Bộ phận khẩu độ đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh ánh sáng và khẩu độ. Việc thu nhỏ bộ phận này đòi hỏi độ chính xác cao hơn trong sản xuất và lắp ráp. Nhờ vào quá trình sản xuất và lắp ráp cẩn thận, chúng tôi đã giảm kích thước mà vẫn duy trì được độ chính xác.
Về hệ thống lấy nét bằng động cơ tuyến tính
Takata: Để đảm bảo hiệu suất quang học cao khi sử dụng chế độ lấy nét tự động, việc tích hợp giữa thiết kế cơ học và điều khiển phần mềm là rất quan trọng. Như đã đề cập ở trên, việc duy trì hiệu suất cao trong quá trình lấy nét đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa thiết kế cơ học và điều khiển phần mềm. Đặc biệt, với đường kính lớn của ống kính F1.2, việc tăng trọng lượng của các nhóm lấy nét tạo ra nhiều thách thức về tốc độ và tiếng ồn trong quá trình vận hành. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để duy trì độ phân giải và hiệu ứng bokeh tốt mà không ảnh hưởng đến tốc độ lấy nét tự động. Giải pháp cho vấn đề này nằm ở việc sử dụng Mô-tơ tuyến tính XD truyền động trực tiếp độc quyền của Sony.
Lấy nét tự động nhanh chóng, chính xác — ngay cả ở khẩu độ F1.2
Takata: Thách thức lớn nhất để có khả năng lấy nét tự động hiệu quả trên ống kính F1.2 là đạt độ chính xác lấy nét cực cao ở độ sâu trường ảnh hẹp. Dù có khẩu độ tối đa là F1.2, một ống kính không thể được coi là 'dễ sử dụng' nếu không cung cấp khả năng lấy nét tự động và hiệu suất theo dõi đáng tin cậy. Điều này đòi hỏi nhiều công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để đạt được, đặc biệt là khi xử lý độ sâu trường ảnh cực hẹp ở khẩu độ F1.2. Ống kính này tích hợp nhiều công nghệ và kỹ thuật để đảm bảo hiệu suất lấy nét tự động nhanh chóng và chính xác, đặc biệt ở độ sâu trường ảnh hẹp. Cơ cấu lấy nét động không chỉ cải thiện hiệu suất quang học mà việc chia thành hai nhóm lấy nét còn giảm trọng lượng của mỗi nhóm, giúp lấy nét tự động nhanh và chính xác hơn. Một yếu tố quan trọng khác là độ chính xác tuyệt đối trong việc lấy nét tự động để đạt được hiệu suất phân giải tối ưu ở khẩu độ F1.2. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ chính xác trong chuyển động của hai nhóm thấu kính lấy nét, mặc dù chúng vẫn có kích thước và trọng lượng khá lớn. Mô-tơ tuyến tính XD độc quyền của Sony đã giải quyết vấn đề này, cung cấp lực đẩy mạnh mẽ mặc dù kích thước nhỏ. Không thể chấp nhận bất kỳ sai sót nào về độ sâu trường ảnh ở khẩu độ F1.2. Vì vậy, bốn cảm biến vị trí được sử dụng để theo dõi chính xác vị trí của các nhóm thấu kính lấy nét, đảm bảo rằng chúng luôn ở đúng vị trí. Cuối cùng, để tận dụng hiệu quả lực đẩy từ Mô-tơ tuyến tính XD và cân bằng tâm trọng lực của hai nhóm lấy nét, một nhóm quang học cố định được chèn vào giữa hai nhóm lấy nét. Phương pháp này giúp căn điểm đẩy của mô-tơ phù hợp với tâm trọng lực của mỗi nhóm lấy nét, tối ưu hóa hiệu suất truyền năng lượng và không gây lãng phí lực đẩy, đồng thời cải thiện khả năng lấy nét tự động tốc độ cao, chính xác và mượt mà.
Mizuno: Tôi sẽ thêm một số chi tiết về bộ truyền động lấy nét.
Đầu tiên, ống kính này tích hợp tổng cộng bốn Mô-tơ tuyến tính XD truyền động trực tiếp, trong đó mỗi nhóm thấu kính lấy nét được trang bị hai mô-tơ.
Mỗi mô-tơ được xây dựng dựa trên dữ liệu từ việc mô phỏng thiết kế mô-tơ độc quyền của Sony. Sự tiến bộ trong công nghệ mô phỏng giúp chúng tôi tạo ra mô-tơ hiệu suất cao, mạnh mẽ và đáng tin cậy, vượt qua các rào cản về kích thước và hoạt động ổn định trong mọi điều kiện. Thiết kế mô-tơ được tối ưu hóa về kỹ thuật và kích thước để đảm bảo ống kính nhẹ nhàng và hiệu quả.
Thường thì, bộ truyền động xoay được sử dụng cho các nhóm lấy nét nặng, nhưng các chuyển đổi từ chuyển động xoay sang chuyển động tuyến tính thường gây lãng phí năng lượng. Sử dụng nhiều bộ phận cơ học cũng có thể tạo ra tiếng ồn và rung.
Phương pháp này không phù hợp với ống kính F1.2 hiệu suất cao mà chúng tôi đang phát triển, vì vậy chúng tôi quyết định sử dụng một mô-tơ nhỏ nhưng mạnh mẽ để truyền động nhóm lấy nét một cách trực tiếp và tuyến tính, sử dụng Mô-tơ tuyến tính XD có tốc độ cao, ít tiếng ồn và rung.
Tuy nhiên, do mô-tơ tuyến tính không có cơ chế giảm tốc độ, việc lấy nét tự động ở tốc độ cao và chính xác đòi hỏi sự điều khiển cực kỳ nhạy cảm.
Cụ thể, bốn cảm biến mà tôi đã đề cập giúp xác định vị trí của nhóm lấy nét một cách chính xác và cung cấp dữ liệu vị trí cho hệ thống điều khiển trong chu trình phản hồi siêu nhanh, tăng cường độ nhạy. Hệ thống này cũng sử dụng công nghệ mô phỏng điều khiển độc quyền của Sony. Nhiều mô hình chuyển động và dừng thấu kính được mô phỏng kỹ lưỡng và liên tục, được thử nghiệm trên phần cứng thực tế và phân tích. Cuối cùng, việc điều chỉnh được thực hiện để chuyển động bộ truyền động mượt mà, tối ưu với ống kính này, từ tăng tốc đến hãm lại.
Khả năng điều khiển Mytour này giảm tiếng ồn và rung đến mức khiến người ta phải tự hỏi liệu ống kính đang chuyển động hay không. Mô-tơ tuyến tính XD được điều khiển bằng phần mềm mang lại độ nhạy và tốc độ lấy nét tự động tối đa, giúp chúng tôi tạo ra ống kính nhỏ gọn với hiệu suất quang học vượt trội.
