
Thu nhập trung bình của mỗi cá nhân của một nhóm người có thể hiểu là tổng thu nhập cá nhân chia cho tổng số dân. Thông thường được tính theo đơn vị tiền tệ hàng năm.
Thu nhập trung bình của mỗi cá nhân có nghĩa là thu nhập trung bình của cá nhân, hoặc thu nhập trung bình của hộ gia đình trên mỗi cá nhân. Không nên nhầm lẫn với GDP trung bình đầu người (Tổng sản phẩm quốc nội trung bình đầu người) hay Thu nhập quốc gia trung bình đầu người hay Tổng sản phẩm quốc gia trung bình đầu người (GNI trung bình đầu người hay GNP trung bình đầu người).
GDP trung bình đầu người hay GRDP trung bình đầu người (GDP của địa phương hay tổng thể khu vực) không phản ánh mức sống của người dân mà Thu nhập trung bình của mỗi cá nhân mới phản ánh mức sống của người dân, nó không chỉ phụ thuộc vào GDP mà còn vào GNI/GNP, NDI, các mối quan hệ kinh tế, phân phối thu nhập...
Để nhận thấy sự khác biệt giữa các chỉ số, hãy xem ví dụ cụ thể về Hàn Quốc vào năm 2021.
Năm 2021, Tổng sản phẩm nội địa (GRDP) của cả nước đạt 2.076 nghìn tỷ won, tăng 132 nghìn tỷ won (tăng 6,8%) so với năm 2020. GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) của cả nước đạt 40,12 triệu won, tăng 2,61 triệu won (7,0%) so với năm 2020. GRDP thực tế (theo giá năm 2015) trên toàn quốc tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiêu dùng cuối cùng của cả nước (theo giá năm 2015) tăng 4,3% so với năm 2020 do tăng trong tiêu dùng cá nhân và chính phủ. Tổng hình thành vốn cố định trên toàn quốc tăng 2,6% so với năm 2020. Tổng thu nhập khu vực trên toàn quốc đạt 2.099 nghìn tỷ won, tăng 138 nghìn tỷ won (7,0%) từ năm 2020. Thu nhập cá nhân bình quân đầu người trên toàn quốc là 22,22 triệu won (theo giá hiện hành).
Do đó, các con số cụ thể như sau (theo giá hiện hành):
GDP là 2,076.3 nghìn tỷ won, GDP bình quân đầu người là 40,12 triệu won
GRI (tức GNI) là 2,099.3 nghìn tỷ won, GNI bình quân đầu người là 40,57 triệu won
Tổng thu nhập cá nhân là 1.149,8 nghìn tỷ won, Thu nhập trung bình của mỗi cá nhân là 22,22 triệu won.
Chi tiêu cá nhân trung bình là 18,44 triệu won.
Cụ thể về khu vực Seoul:
GRDP (GDP): 471,7 nghìn tỷ won, GDP/người: 4.965 triệu won, tương đương 123,7% so với toàn quốc
GRI (GNI): 515,1 nghìn tỷ won, GNI/người: 5.421 triệu won, tương đương 133,6% so với toàn quốc
PI: 240,0 nghìn tỷ won, Thu nhập trung bình của mỗi cá nhân là 25,26 triệu won, tương đương 113,7% so với toàn quốc
Chi tiêu cá nhân trung bình là 22,61 triệu won, tương đương 122,7% so với toàn quốc.
Thông thường, thu nhập trung bình của mỗi cá nhân sẽ thấp hơn GDP trung bình của đơn vị hành chính tương ứng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngược lại như huyện Hải Hậu, Nam Định, Việt Nam, tổng sản phẩm trung bình đầu người đạt 52 triệu đồng vào năm 2020; thu nhập trung bình của mỗi cá nhân đạt 70 triệu đồng.
Thu nhập hộ gia đình hàng năm trên đầu người của Hàn Quốc đạt 18.350,936 USD vào tháng 12 năm 2022, so với giá trị trước đó là 19.081,079 USD vào tháng 12 năm 2021. Trong khi đó của Việt Nam là 2.178,776 USD năm 2021, của Việt Nam năm 2019 là 2.235,955 USD (năm 1994 là 183,956 USD). Số liệu Việt Nam tăng liên tục kể từ 1994, nhưng giảm hai năm liên tiếp năm 2020 và 2021.
Thu nhập khả dụng của hộ gia đình trung bình mỗi cá nhân theo PPP (sức mua tương đương) một số nước như Hoa Kỳ là 62.300 USD, Luxembourg là 51.500 USD, năm 2021 (OECD).
Năm 2022, thu nhập khả dụng trung bình của người dân Trung Quốc là 36.883 nhân dân tệ, tăng 5,0% danh nghĩa và 2,9% thực tế sau khi điều chỉnh cho yếu tố giá cả. Ở thành thị, thu nhập khả dụng trung bình của người dân là 49.283 nhân dân tệ, tăng 3,9% danh nghĩa và 1,9% thực tế sau khi điều chỉnh cho yếu tố giá cả; ở nông thôn, thu nhập khả dụng trung bình của người dân là 20.133 nhân dân tệ, tăng 6,3% danh nghĩa và 4,2% thực tế sau khi điều chỉnh cho yếu tố giá cả.
Việt Nam hiện có số liệu về GDP và GNI bình quân đầu người, cũng như thu nhập bình quân đầu người. Thu nhập trung bình mỗi người mỗi tháng vào năm 2022 theo giá hiện tại đạt 4,67 triệu VNĐ, tăng 11,1% so với năm 2021 (tăng âm trong năm 2020 và 2021 theo giá hiện tại, có thể giảm sâu hơn nếu xét theo giá so sánh). Hiện tại chưa có số liệu theo giá so sánh. Việt Nam vẫn chưa có số liệu về GNI bình quân đầu người của các cấp địa phương (năm 2020 có số liệu GRDP chuyển đổi từ GNI bình quân đầu người các tỉnh thành theo PPP để tính chỉ số HDI, vì vậy so sánh bị hạn chế; công bố cao nhất của các địa phương là Bà Rịa - Vũng Tàu với 31.866,4 USD/người/năm). Theo công bố năm 2022, Bình Dương là địa phương có thu nhập trung bình cao nhất cả nước, đạt 8,076 triệu đồng/người/tháng; Hà Nội đứng thứ hai với 6,423 triệu đồng/người/tháng; TP. HCM đứng thứ ba với 6,392 triệu đồng/người/tháng. Các tỉnh có thu nhập trên 5 triệu đồng/người/tháng gồm Đồng Nai (6,346 triệu đồng/người/tháng), Hải Phòng (5,897 triệu đồng/người/tháng), Đà Nẵng (5,807 triệu đồng/người/tháng), Bắc Ninh (5,470 triệu đồng/người/tháng), Cần Thơ và Vĩnh Phúc, Nam Định. Các tỉnh có thu nhập thấp nhất là Hà Giang (2,062 triệu đồng/người/tháng), Điện Biên (2,080 triệu đồng/người/tháng), Sơn La (2,141 triệu đồng/người/tháng). Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xếp đầu về GRDP bình quân đầu người nhưng xếp thứ 13 về thu nhập bình quân đầu người, đạt 4,815 triệu đồng/người/tháng, xếp ngay sau Hải Dương thứ 11 và Ninh Bình thứ 12.
Các số liệu như GDP, GDP bình quân đầu người, GNI và GNI bình quân đầu người cũng như thu nhập bình quân đầu người chỉ là ước tính. Chỉ số lạm phát cũng chỉ mang tính tương đối. Dữ liệu dân số cũng là tương đối và cách phân chia ở mỗi nước có thể khác nhau (đặc biệt liên quan đến dân số di dân). Số liệu sức mua tương đương cũng chỉ tương đối vì tính phức tạp của giá cả và giỏ hàng tham chiếu của mỗi tổ chức là khác nhau... Số liệu GDP và GRDP địa phương ở mỗi nước có thể không trùng khớp do hạn chế trong công tác thống kê...
- Sức mua tương đương (PPP)
