
Ở biển Bắc có con cá kình, thân dài không biết mấy ngàn dặm. Cá kình hóa thành chim bằng, cánh rộng không biết mấy ngàn dặm. Khi chim bằng bay lên, cánh như đám mây khổng lồ trên trời. Biển Bắc động, chim bằng bay về biển Nam, biển Nam là Ao trời.
...
Ve sầu và chim cưu cười chim bằng rằng: 'Chúng ta bay lên cây du, cây phượng, có khi không tới được mà rớt xuống đất. Sao phải bay cao chín vạn dặm để về phương Nam?'
...
Chim sẻ trong đầm nhỏ cười chim bằng: 'Ngươi bay đi đâu vậy? Ta bay lên cao vài nhẫn rồi xuống, bay lượn trong đám cỏ bồng, cỏ cảo, vậy là đủ rồi. Ngươi bay đi đâu thế?'
Trích thiên Tiêu dao du – Nam hoa kinh, Trang Tử
Không giống như những truyện ngắn hay tiểu thuyết của các tác giả trẻ hiện nay, Cầm Thư quán không tập trung vào mối quan hệ nam nữ giữa Lê Thánh Tông và Ngọc Cầm, cũng không 'ngôn tình hóa' các sự kiện lịch sử. Trong Cầm Thư quán, nhân vật và lịch sử chỉ là phương tiện để tác giả truyền tải thông điệp riêng: Cả Ngọc Cầm, Ngọc Thư, Lê Thánh Tông, chàng thư sinh và nhà sư vô danh đều đang trên hành trình truy cầu điều gì đó khác thường, thậm chí phi thường.
Ban đầu, Ngọc Cầm miệt mài theo đuổi khúc Hải du. Tiếng đàn của nàng vang vọng trong đêm, len lỏi trong ý nghĩ, rồi đi theo nàng đến cuối con đường. Khúc Hải du ban đầu thể hiện khát khao vượt khỏi cuộc sống nhàm chán, thoát khỏi những chuẩn mực của tam tòng, tứ đức, đồng thời là khát vọng vươn tới sự vô cùng, bất tận. Nhưng cuối cùng, khúc Hải du không chỉ là tiếng đàn ngang tàng, bất tận mà còn là tấu khúc tìm kiếm tri âm, tri kỷ, kéo gần hai con người 'tưởng chừng xa vạn dặm nhưng duyên nợ đã quấn quít tự thuở nào'.

Ngọc Thư miệt mài theo đuổi lời Phật dạy, ngày ngày gõ mõ tụng kinh, lên chùa thỉnh Phật. Nàng không mê đắm Phật pháp đến quên ăn quên ngủ, cũng không sẵn sàng cắt tóc đi tu. Nàng chỉ đơn giản tìm kiếm câu trả lời cho hàng ngàn vạn câu hỏi trong tâm trí. Ngọc Thư không có sự ngang tàng của Ngọc Cầm, nhưng ở nàng và Ngọc Cầm luôn có một suy nghĩ chung:
Nhiều khi nàng tự hỏi chúng ta sẽ ra sao nếu chỉ là những cô gái bình thường. Cần gì mang trong mình một bồ kinh sử, cần gì có ngón đàn đắm đuối lòng người, và cũng chẳng cần nhan sắc diễm lệ này... Cuối cùng họ hay chúng ta rồi cũng sẽ chết!
Ngọc Thư và Ngọc Cầm, một mặt theo đuổi lý tưởng của riêng mình, nhưng mặt khác luôn đối mặt với khát vọng về một “cuộc sống bình thường”. “Người bình thường” thời đó phải tuân thủ tam tòng tứ đức, luân thường đạo lý, chỉ cần có một gia đình yên ấm hoặc được vua ban ân huệ. Họ phải cúi đầu tuân lệnh, không biết đến tự do, vẻ đẹp, hay đặt câu hỏi tìm câu trả lời, giống như loài chim sẻ, ve sầu, chim cưu mà Trang Tử từng nhắc đến trong Tiêu dao du.
Mâu thuẫn này theo suốt cuộc đời của hai nàng. Đến cuối cùng, Ngọc Cầm chọn phiêu du theo khúc Hải du, còn Ngọc Thư vẫn đắm chìm trong những câu hỏi chưa có lời giải của riêng nàng.
Truyện còn miêu tả Lê Thánh Tông thời Hồng Đức thịnh thế với những nét tâm lý và tình cảm mới lạ. Ai cũng biết Lê Thánh Tông là vị vua gần như hoàn hảo: dưới thời ông, Đại Việt đạt đỉnh cao về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
Cầm Thư quánChàng thư sinh mà Ngọc Cầm yêu say đắm lại hoàn toàn đối lập với Lê Thánh Tông. Chàng không cần khẳng định mình, nhưng khao khát theo đuổi sự “tận thiện, tận mỹ”. Tuy nhiên, chàng không tìm thấy sự tận thiện, tận mỹ như đã hứa với Ngọc Cầm, vì đó chỉ là ảo ảnh xa vời, “tuyệt đích của hư vô”. Dường như chàng đã quên rằng sự tận thiện, tận mỹ mà chàng tìm kiếm đã dừng lại vĩnh viễn trên bức tranh họa người con gái với bước chân vương cánh hoa đào.
Nhân vật cuối cùng là một nhà sư trẻ tuổi, mang đến câu trả lời cho những thắc mắc của Ngọc Thư. Anh ta không muốn tuân theo ai khác, chỉ muốn đi trên con đường riêng giữa bể khổ và không cần quay đầu. Tôi thấy anh ta không có ham muốn mãnh liệt, nhưng lại can đảm đối mặt với sự phản đối từ nhiều người khác. Các nhà sư khác cho rằng sự tồn tại của con người là do khổ đau, trong khi nhà sư trẻ này tin rằng sự tồn tại xuất phát từ nhị nguyên và nhất nguyên. Vậy thì lẽ tồn tại của con người cuối cùng là do đâu? Tôi nghĩ, khi nhìn vào bức tượng Đại Phật Hoan Hỉ, mọi người sẽ có câu trả lời của riêng mình.

Nói chung, Cầm Thư quán vô cùng sâu sắc với nhiều thông điệp ẩn, biểu tượng, trong đó, biển/nước xuất hiện liên tục suốt tác phẩm. Trái ngược với hình ảnh đó là ngọn lửa bùng cháy ở cuối truyện. Liệu đó có phải là biểu tượng của sự tức giận không? Tôi không chắc chắn. Nhưng tôi biết rằng ngọn lửa ấy đã thấm nhuần vào tâm hồn của nhân vật chính, đã đốt cháy ảo tưởng về một thế giới tốt đẹp, cũng như đốt cháy ảo tưởng về suối Tham của Lê Thánh Tông.
Cuối cùng, tiểu thuyết Cầm Thư quán của Hà Thủy Nguyên không quá khó hiểu, và chắc chắn rằng sau khi đọc xong, người đọc sẽ phải suy ngẫm về mỗi nhân vật, mỗi hình ảnh, mỗi biểu tượng, thậm chí là mỗi câu thoại được tác giả đặt ra. Chính vì vậy, Cầm Thư quán không phải là một câu chuyện bình thường mà có thể dễ dàng quên đi, mà nó sẽ luôn nằm trong tâm trí của tôi. Đối với tôi, một cuốn sách hay là cuốn sách có thể khiến chúng ta nhìn lại bản thân, đối mặt với những khao khát của chính mình và suy ngẫm. Và Cầm Thư quán chính là một cuốn sách như vậy.
Theo IPick
Nguyễn Hoàng Dương
