
Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Mặc dù hầu hết các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều bị ảnh hưởng sâu rộng bởi thơ lãng mạn Pháp, Nguyễn Bính lại quay trở về với văn hóa dân gian. Cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… Nguyễn Bính đã đóng góp cho phong cách thơ mới một giọng điệu riêng, chứa đựng hồn quê.
2. Bài thơ Tương tư lấy từ tập Lỡ bước sang ngang, tập thơ nổi tiếng và đại diện cho phong cách thơ của Nguyễn Bính. Qua câu chuyện tương tư, bài thơ thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ với quê hương, sự quê mùa đậm đà trong tác phẩm, cảm xúc, cũng như cách diễn đạt mạnh mẽ văn hóa dân gian. Âm hưởng, ngôn ngữ, hình ảnh, cấu trúc thơ đều gần gũi với ca dao. Bài thơ có thể chia thành ba phần :
- Phần 1 : Nói về tình tương tư, nhưng chỉ từ một phía, có vẻ trách móc. Tuy nhiên, những lời trách này thực sự là biểu hiện của tình cảm sâu sắc từ người tương tư. Trong những lời trách này, xuất hiện những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam.
- Trong phần 2: Đặc biệt nhấn mạnh vào sự luyến tiếc và sự mong đợi, ngóng chờ của người đang yêu. Trong sự ngóng chờ ấy, có sự cảm nhận về sự dao động của tình yêu. Chú ý đến việc sử dụng cặp từ hình ảnh “hoa đào rừng – bướm phiêu bồ”.
- Phần 3: Lấy câu chuyện về trầu cau để nói về mối quan hệ tình yêu. Đây là một ước mong và cũng là lời thổ lộ tình cảm rất dễ thương. Câu hỏi cuối cùng đau đớn, đầy căng thẳng về một ước mong, làm tăng thêm sự đắng cay của tâm trạng và sự nồng nàn của cảm xúc.
3. Đọc bài thơ theo kiểu vần lục bát. Chú ý đến cách ngắt nhịp (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – Một người/ chín nhớ mười mong / một người – Gió mưa / là bệnh của trời – Tương tư / là bệnh của tôi yêu nàng…).
II - Kiến thức cơ bản
Tương tư là một chủ đề quen thuộc trong văn học và đời sống. Ngất ngưởng như Nguyễn Công Trứ đã từng trải qua cảm giác khó khăn vì tình yêu:
Tình yêu không hiểu rõ điều gì,
Muốn vẽ nhưng không biết làm thế nào,
Khi đứng, khi ngồi, khi trò chuyện,
Khi tỉnh táo, khi say, khi trong giấc mơ,
Trăng soi sáng trước mặt, khiến bước chân lạc lõng,
Gió thổi nhẹ nhàng bên tai, như muốn chào hỏi.
Thi sĩ đa tình như Tản Đà cũng đã biểu hiện sự nhớ nhung đầy cảm xúc này:
Kỳ lạ! Làm sao mà mãi nhớ về nhau,
Nhớ về nhau đắng cay suốt cả đêm thâu,
Bốn phương mây nước, người vẫn đi cùng nhau,
Hai từ 'tương tư', một nỗi buồn sâu sắc.
Tương tư thường gắn liền với nỗi buồn bởi khi tình yêu không được đáp lại hoặc không có cơ hội để thổ lộ.
Nguyễn Bính, một nhà thơ mang hơi thở của quê hương trong làng thơ mới, cũng đã viết về tương tư. Tuy nhiên, khi miêu tả nỗi tương tư của một chàng trai, ông ta thể hiện một tình yêu lớn hơn, một tình yêu dành cho quê hương và văn hoá Việt Nam.
Cảm xúc lan tỏa và liên kết các phần của bài thơ là sự nhớ nhung không nguôi của chàng trai trữ tình. Không gian của nỗi tương tư đó là không gian của làng quê. Vì vậy, tâm trạng tương tư được thể hiện theo cách rất thực tế. Nó không phải là mơ hồ như tình yêu của chàng trai thành phố Xuân Diệu:
Sương mù theo dáng trăng nơi cao nguyên,
Nỗi tương tư như làm tim bồi hồi...
(Nhị hồ)
Nhân vật trữ tình trong Tương tư của Nguyễn Bính thì khác biệt. Bài thơ bắt đầu với nỗi nhớ thương :
Thôn quê nhớ lưu luyến làng quê xa,
Một người chín nhớ, mười mong một người.
Gió mưa là biểu tượng của thiên nhiên,
Tương tư là cảm xúc của tôi đối với em.
Không phải là anh nhớ em hay tôi nhớ nàng mà là “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”. Cách diễn đạt này vừa mang đậm hương vị dân dã vừa có tính hàm súc. Chàng trai ở thôn Đoài nhớ cô gái ở thôn Đông, đó chính là tình yêu của chàng trai nơi quê hương. Chàng ở nhà mình nhưng tâm hồn lại hướng về phía cô gái. Và câu thơ còn gợi lên một ý tưởng rộng lớn hơn. Dường như nỗi nhớ của chàng trai đã tràn ngập cả không gian. Nỗi nhớ ấy rất sâu sắc. Chàng còn sử dụng cả thành ngữ chín nhớ mười mong để miêu tả nỗi nhớ của mình. Và cũng không ngần ngại, e dè gì nữa. Nỗi nhớ sâu sắc khiến chàng trai phải thốt lên lời “tôi yêu nàng”. Người ta thường dùng tương tư để chỉ trạng thái tình cảm nhớ nhung của những người yêu đơn phương. Vì yêu mà không dám thổ lộ với người mình yêu nên nỗi nhớ càng trở nên nặng nề và tình cảm càng mạnh mẽ. Chàng trai tương tư trong bài thơ này cũng có một nỗi nhớ sâu sắc. Chàng trai cũng khẳng định một điều rằng, yêu thì tương tư là điều bình thường, giống như trời đất phải có gió mưa.
Từ nỗi nhớ thương đến mong ngóng và cả sự tức giận :
Hai thôn đều thuộc một làng,
Tại sao phía kia không sang phía này ?
Ngày qua ngày, thời gian trôi đi,
Lá xanh dần chuyển thành lá vàng.
Lời trách móc có vẻ không hợp lý. Thực ra, chàng nên sang đó chứ không nên trách cô gái không sang đây. Chàng sử dụng cụm từ phía kia và phía này để chỉ “đối phương” và bản thân. Trách móc nhưng lại bị chôn vùi trong nỗi nhớ. Chàng ngồi đếm nỗi nhớ và đếm thời gian để chìm đắm trong nỗi tương tư. Ngày qua ngày gợi lên cảm giác thời gian trôi đi một cách vô tận. Càng yêu thương thì càng trách móc. Nỗi tương tư cùng lời trách móc cứ ẩn chứa và sâu sắc hơn theo dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Có người nói rằng cách trở đò giang,
Không sang là không có cơ hội sang đâu.
Nhưng từ đây đến nơi xa một chút,
Dù có xa xôi ấy, tình vẫn xa xôi…
Khi diễn tả nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh gần gũi và quen thuộc với văn hoá làng của người Việt. Con đò, mái đình đã làm cho câu thơ mang đậm phong vị dân dã. Những hình ảnh này tạo ra không gian làng quê yên bình, lãng mạn phù hợp để chàng trai thổ lộ tâm trạng tương tư. Nhịp thơ lục bát da diết “Dù xa xôi ấy, tình vẫn xa xôi” thể hiện tinh tế trạng thái tâm lí của người đang yêu nhưng chưa được đáp lại. Nỗi nhớ không nguôi đã khiến nhân vật trữ tình sâu sắc hơn trong nỗi tương tư. Đại từ phiếm chỉ ai lặp lại hai lần trong một câu thơ tăng thêm sự đau lòng của người đa tình. Thường thì tình yêu càng sâu sắc thì nỗi nhớ càng đau đớn. Và khi yêu mà không được đáp lại thì thường gặp tâm trạng bi quan, tuyệt vọng. Những mối tình thôn quê trong thơ Nguyễn Bính đẹp, tha thiết nhưng buồn bã. Mối tình của chàng trai trong bài thơ này cũng vậy :
Tương tư đã thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho !
Bao giờ đò mới đến bến ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?
Các hình ảnh “bến – đò” là biểu tượng truyền thống để chỉ người nam và người nữ. Hình ảnh “hoa khuê các – bướm giang hồ” lại thể hiện tâm trạng lo lắng, bất an của nhân vật trữ tình vì sự chờ đợi mòn mỏi với nỗi tương tư nặng trĩu trong lòng. Sự kết hợp này thể hiện sự hòa quện giữa nét mới và nét lãng mạn trong phong cách thơ Nguyễn Bính.
Khổ thơ cuối cùng mang hình thức của một bài ca dao. Chàng trai trong ca dao thường tìm cách tương tác hoặc tỏ tình với đối tượng bằng những cách rất duyên dáng như quên áo, mời trầu, hỏi thăm. Chàng trai trong Tương tư của Nguyễn Bính cũng mượn chuyện trầu cau để diễn đạt tâm tư, để tỏ tình :
Nhà em có giàn cây phong phú
Nhà anh lại có hàng cây cau xanh mướt
Thôn Đoài nhớ về thôn Đông
Câu thôn Đoài nhớ cây cau, không ai như thế ?
Câu hỏi cũng là câu trả lời. Nguyễn Bính đã sử dụng sự thông minh, hóm hỉnh, và duyên dáng của ca dao để tạo ra hình ảnh nhân vật với tâm trạng tương tư chân thành.
Gấm thương dáng ai
Gấm cúi vào vai ai
Sáng đèn nhớ ai
Đèn mãi nguyên vẹn
Nhớ ai trong ánh mắt
Mắt không ngủ được, lo âu…
Trong bài thơ của Nguyễn Bính, tình yêu cũng như vậy, một chàng trai ở thôn Đoài nhớ mong một cô gái ở thôn Đông, nhưng vì chỉ có tình yêu đơn phương nên anh ta sử dụng lối nói vòng vo, ỡm ờ, bóng gió xa xôi của người dân quê :
“Thôn Đoài nhớ thôn Đông – Một người chín nhớ mười mong một người…”
Một làng có hai thôn : “Hai thôn chung một làng”, một ở phía đông – thôn Đông, còn một ở phía tây – thôn Đoài. Cách gọi địa danh dân dã như vậy khá phổ biến ở mọi vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, vừa cụ thể vừa không rõ ràng.
“Một người chín nhớ mười mong một người” : hai từ “một người” trong cùng một câu thơ được sử dụng để chỉ hai đối tượng, hai nhân vật khác nhau : chàng trai ở thôn Đoài và cô gái ở thôn Đông. Điều này, những người tham gia sự kiện hiểu rõ hơn ai hết, nhưng về mặt khách quan thì vẫn chưa rõ ràng.
Cảm xúc rối bời vì ngóng trông không thôi ấy không rời xa những cảm nhận sâu sắc về sự thay đổi của không gian, thời gian. “Ngày qua ngày lại qua ngày” – một dòng thơ với những từ ngữ bình thường và lối diễn đạt tưởng chừng như rất đơn giản nhưng lại có khả năng diễn tả khá độc đáo về cảm giác của con người mang lòng tương tư trước sự lặp lại từng chuỗi ngày vô vị dài dằng dặc, chậm chạp trong sự ngóng trông đầy lo âu. Một dòng thơ mà chữ “ngày” được nhắc lại ba lần, nhấn mạnh cảm xúc về khái niệm đơn vị thời gian như thể được đếm từng ngày. Nhịp 2/2/2 của câu sáu trong thơ lục bát truyền thống đã được ngắt thành nhịp 3/3 : “Ngày qua ngày/ lại qua ngày” chia ý nghĩa câu thơ thành hai vế với nội dung song trùng, ý của vế sau lặp lại vế trước và sự nhấn mạnh chữ “lại” gợi tả nỗi chán ngán trong lòng kẻ đa tình tương tư trước dòng thời gian vô tình, đơn điệu cứ chậm chạp trôi qua… Cảm giác về thời gian nói trên còn được diễn tả một cách hết sức sống động thông qua những biến đổi màu sắc của những sự vật không gian trong câu tám : “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Thời gian hiện lên qua sự chuyển màu của cây lá : lá màu xanh đã chuyển thành lá màu vàng. Cùng với chuỗi ngày ngóng trông dài dằng dặc chậm chạp qua đi, nhưng người thương vẫn chưa thấy tới, cho dù chẳng có xa xôi cách trở gì. Chữ “nhuộm” là một động từ ngoại động, khiến cho sự chuyển màu của cây lá dường như không phải là sự vận động, phát triển nội tại của thực vật mà như thể là do sự tác động của thời gian và tâm trạng con người thấm vào sắc màu của cây lá. Và nỗi lòng tương tư héo hon, mòn mỏi của con người cũng đã nhuộm màu lá xanh thành ra màu héo úa. Vậy là thời gian, không gian và tâm trạng của con người tương tư đã có một mối quan hệ, mối tương giao thật là kì diệu. Tương tư mòi mỏi làm cho thời gian kéo dài dằng dặc hơn; tương tư cũng nhuộm màu cho cây lá trở nên vàng vọt, úa héo hơn…
(Nguyễn Trọng Khánh, Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường
từ góc độ ngôn ngữ, NXB Giáo dục, 2006)
Mượn thi liệu và phong cách viết của nhà thơ chân quê, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ghi lại tâm trạng của mình trong Một chút Nguyễn Bính:
Còn không gian thời gian vô định
Nhà nàng giờ cách nhà tôi một bức tường?
Rời quê đi, nàng đến phố phường
Mình tôi ở lại, một mình trên con đường
Mơ mộng thời ấy đã qua
Người hiện tại khác xa ngày xưa
Nàng hạnh phúc, kẻ chờ đón, người đưa đi
Tôi yên phận làm người nông dân cày cấy
Vườn nhà tôi có mấy bụi hoa hồng
Mẹ tôi nhổ bỏ gốc cây để trồng rau và dưa
Hoa hồng không được tặng, ai mua?
Như hoa cải bung ra dần dần dưới ánh nắng vàng
Trong vườn nhà tôi, cây được trồng xen kẽ
Khi đến mùa trái, mẹ tôi than thở về công việc nhà
Răng đen của mẹ tôi giống như hạt na
Quần thâm đã được nhuộm lại, như mới may
Mang nón mê, dùng chân để đất suốt ngày
Cái khăn vá dày, phục vụ cho mọi thời tiết
Mẹ tôi thường đi đến chùa để lễ Phật
Tôi sinh ra ở nơi quê mùa như vậy thôi
Nàng đi về phía xa xôi
Có lẽ không cần trách cái ngọn mùng tơi héo dần…
