Đừng cố gắng tìm kiếm ý tưởng mới trong suy nghĩ logic và sự tập trung. Hãy để tâm trí tự do lang thang trong tiềm thức, bởi đó mới là cách để khám phá sự sáng tạo.
Có khi nào bạn bị mắc kẹt trong một cuộc họp kéo dài hai tiếng đồng hồ với mười người, với nhiều ý tưởng được thảo luận nhưng vẫn không thể giải quyết được vấn đề bế tắc?
Mọi thứ giống như một bức tranh len với con mèo làm rối tung, mọi người đều đã kiệt sức vì hoạt động tối đa. Bạn cảm thấy đầu óc nóng lên và bạn hiểu rằng không thể suy nghĩ ra bất kỳ ý tưởng nào nữa.
Vậy là bạn buông xuôi. Mặc kệ mọi thứ, bạn quyết định kết thúc cuộc họp, về nhà và tắm gội.
Thú vị thay, chính trong những giây phút đó, khi bạn thả lỏng tâm trí, không nghĩ suy nữa - chỉ cảm nhận làn nước ấm từ vòi sen - ý tưởng bất ngờ xuất hiện. Bạn như mở ra một cuộn len và ý tưởng trỗi dậy, thoát ra khỏi bao bọc của cuộc họp.
Đôi khi đó còn là một ý tưởng đặc biệt đến mức bạn phải chạy ra ngoài để ghi lại chúng. Dù không giống như Archimedes lạc quan trên đường phố, nhưng điều bạn trải nghiệm chính là khoảnh khắc 'Eureka!', một ý tưởng nảy sinh trong phòng tắm.

Khi tôi hỏi mọi người xung quanh - những người làm việc trong lĩnh vực sáng tạo như thiết kế, marketing, sản xuất nội dung - liệu họ đã từng nảy ra một ý tưởng đột phá trong phòng tắm chưa, tất cả đều thừa nhận rằng có. Họ thậm chí coi đây như một bí quyết tâm lý.
Khi gặp khó khăn trong việc tìm ý tưởng, những người làm việc trong ngành công nghiệp sáng tạo thường chọn cách đi tắm, gội đầu hoặc đơn giản là ra ngoài và hút một điếu thuốc... Một số người đi dạo cùng chó, trong khi những người khác chọn dành cuối tuần của mình để đạp xe qua những con đường ở ngoại ô.
Đặc điểm chung của những hoạt động này là chúng không đòi hỏi phải suy nghĩ. Tóm lại, họ cho phép tâm trí hoạt động tự do. Đó chính là lúc tâm thức được thả tự do để khám phá miền vô thức.
Các nhà nghiên cứu đã dành hơn một thập kỷ rưỡi để nghiên cứu hiện tượng này. Họ gọi đó là 'dòng chảy của tâm thức', một loại nhận thức tự nhiên sẽ đưa ta tới những miền tâm trí sâu thẳm, nơi mà chúng ta có thể tìm thấy những ký ức đặc biệt tưởng chừng đã mất hoặc tạo ra những ý tưởng mới đầy sáng tạo.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về tất cả những hiện tượng đó và cách tận dụng suối nguồn sáng tạo trong não bộ, bắt đầu từ một khái niệm gọi là:

Chúng ta biết rằng não bộ là một mạng lưới kết nối với khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh, được gọi là neuron. Các neuron này liên kết với nhau thông qua các sợi cáp rất nhỏ được gọi là sợi nhánh và sợi trục.
Mỗi tế bào thần kinh là một trạm giao thông nối 100.000 tế bào thần kinh khác xung quanh. Các tế bào này liên lạc với nhau bằng những xung điện - một tín hiệu mà chúng ta có thể quan sát thông qua hình ảnh từ máy quét nhiễm từ chức năng (fMRI).
Các nhà khoa học ước tính rằng, trong bộ não của mỗi con người, có đến 100 nghìn tỷ (10 mũ 15) con đường kết nối. Điều này khiến bộ não trở thành một trong hai cấu trúc phức tạp nhất tồn tại trong vũ trụ. Cấu trúc còn lại chính là vũ trụ với khoảng 100 tỷ thiên hà mà chúng ta có thể quan sát được.

Tuy nhiên, trong hầu hết lịch sử nghiên cứu kéo dài 4.000 năm, con người chỉ biết về bộ não như một chiếc hộp đen không rõ bên trong. Đó là một chiếc hộp mà khi chúng ta đưa thông tin vào qua các giác quan, nó sẽ trả ra một nhận thức hoặc tập hợp tín hiệu điều khiển cơ thể để tương tác với thế giới.
Trong quá trình giải mã chiếc hộp đen này trong não bộ, các nhà khoa học trước thế kỷ 19 đã tiếp cận thông qua phương pháp giải phẫu lâm sàng. Họ chia nhỏ não bộ thành các phần khác nhau, ví dụ như bán cầu trái, bán cầu phải, các thùy như thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh, và các tuyến như tuyến yên, tuyến tùng...
Trong thời kỳ đỉnh cao của lý thuyết này, bộ não của con người đã được chia thành 52 phần khác nhau trong một bản đồ não được gọi là Brodmann, do nhà thần kinh học người Đức Korbinian Brodmann công bố lần đầu vào năm 1909.
Với việc cắt lát bộ não theo các ranh giới vật lý, các nhà giải phẫu có thể tạm thời xác định vùng não nào chịu trách nhiệm cho chức năng nào. Điều này hữu ích cho các bác sĩ phẫu thuật, những người cần biết nếu họ can thiệp vào một khối u ở vỏ não vận động của bán cầu não phải, thì bệnh nhân sau đó có nguy cơ bị liệt tay hoặc chân bên trái.
Tuy nhiên, việc phân lô não bộ sẽ không giải thích được nhiều chức năng phức tạp như khả năng học tập, sử dụng ngôn ngữ, trạng thái tập trung và đặc biệt là khả năng sáng tạo... Trong những hoạt động này, các nhà khoa học quan sát rằng không chỉ một mà nhiều khu vực khác nhau của não bộ được kích hoạt cùng một lúc.

Điều này có nghĩa là không có một khu vực cụ thể nào của não bộ chịu trách nhiệm cho khả năng sáng tạo. Thay vào đó, não bộ của chúng ta được kết nối theo những mạng lưới phức tạp hơn rất nhiều so với những gì chúng ta biết trước đó.
Vì thế, bắt đầu từ cuối thế kỷ 20, câu hỏi trọng tâm của lĩnh vực thần kinh học đã chuyển từ 'Phần nào của não bộ chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ này?' sang 'Mạng lưới nào của não tham gia vào chức năng đó?'.
Đúng lúc, đây cũng là thời kỳ mà các kỹ thuật chụp ảnh não bộ đạt đến độ chính xác đủ cao, cho phép các nhà thần kinh học nhìn xuyên qua hộp sọ để tìm hiểu hoạt động của các mạng lưới neuron nhất định.
Áp dụng một nguyên lý tương tự như trò chơi dò mìn, họ có thể lập bản đồ các tuyến đường tín hiệu trong não bộ. Mỗi tình nguyện viên sẽ được đưa vào các máy chụp cắt lớp PET hoặc fMRI.
Đây là những thiết bị hiện đại, có khả năng phát hiện tín hiệu điện não ở các vị trí nhất định của não. Ví dụ, khi tình nguyện viên nhấn nút bằng tay phải, máy ghi lại các tín hiệu não điều khiển hành động nhấn nút đó.
Trên màn hình chiếu phim thời gian thực, vùng vỏ não vận động bán cầu phải của tình nguyện viên sẽ sáng lên, đại diện cho một phần của mạng lưới cảm giác. Đây là phần kiểm soát các chức năng giác quan và vận động của chúng ta.

Tương tự, các nhà khoa học đã xác định thêm 6 mạng lưới khác trong não bộ, bao gồm: Hệ thống thị giác, có chức năng nhận diện hình ảnh; Hệ thống limbic điều chỉnh cảm xúc, trí nhớ và học tập; Mạng lưới chú ý hoạt động khi tập trung; Mạng hướng đối tượng và Mạng lưới điều hành trung tâm.
Bên cạnh đó, chúng ta còn có Mạng hướng đối tượng và Mạng lưới điều hành trung tâm. Chức năng của hai mạng lưới này sẽ được thảo luận sau khi tìm hiểu về một mạng lưới đặc biệt trong não, được gọi là:

Mạng lưới mặc định, mà Marcus Raichle, một nhà thần kinh học tại Đại học Y Washington, phát hiện và đặt tên vào năm 2001. Giống như các đồng nghiệp khắp thế giới, Raichle lúc đó đang nghiên cứu về các mạng lưới trong não.
Ông cũng đưa từng tình nguyện viên của mình vào máy PET và quan sát xem khu vực nào trong não của họ sẽ sáng lên khi thực hiện các nhiệm vụ trí óc.
Thường, giả định là: Não bộ trong trạng thái nghỉ ngơi sẽ hoạt động ít hơn so với trạng thái căng thẳng.
Nhưng những gì Raichle thấy trên PET lại tiết lộ điều ngược lại. Trong trạng thái nghỉ ngơi, tình nguyện viên không suy nghĩ gì, nhưng một số vùng não của họ lại hoạt động mạnh mẽ.
Đó là một mạng lưới kéo dài từ vỏ não sau đến vỏ não trước trán, hai bên thái dương và cả vùng hồi hải mã và vỏ não đỉnh. Chúng tạo ra các dao động tín hiệu ở tần số thấp, chỉ khoảng 1 dao động mỗi giây.
Điều đặc biệt là, mô hình này luôn trở nên mạnh mẽ nhất khi não bộ rơi vào trạng thái nghỉ. Ngay sau khi tình nguyện viên tập trung vào một nhiệm vụ đòi hỏi suy nghĩ, mạng lưới này sẽ giảm hoạt động.

Trong bài viết đầu tiên trên Kỷ yếu Viện hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, Raichle đặt tên cho mạng lưới ông phát hiện là 'hệ thống mặc định' và khuyên các nhà thần kinh học khác nên tìm hiểu thêm về nó.
Tiếc rằng, trong vài năm đầu, quan tâm đối với mạng chế độ mặc định không nhiều. Cả nhà khoa học và Raichle đều tưởng DMN chỉ là một chế độ chạy nền, như một chương trình đơn giản và sẽ tắt khi các mạng lưới não khác cần oxy, máu và năng lượng.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu sâu về mạng chế độ mặc định, các nhà thần kinh học đã ngạc nhiên về những gì hệ thống này có thể làm. Điều này đã dẫn tới một sự bùng nổ trong số lượng các nghiên cứu về mạng chế độ mặc định.
Thống kê cho thấy, từ năm 2001 đến 2007, chỉ có 12 bài báo nói về mạng chế độ mặc định. Nhưng từ 2007 đến 2014, số bài báo tăng lên đến 1.384 bài, tăng 1000% so với 7 năm trước đó.
Vì sao lại có sự bùng nổ như vậy? Hóa ra, DMN không chỉ là một chế độ chạy nền, mà tham gia tích cực vào nhiều nhiệm vụ 'sâu trong tâm trí', như khi bạn nghĩ về bản thân, nhớ lại quá khứ hoặc lập kế hoạch cho tương lai.
Khi DMN hoạt động, nó dẫn tâm trí bạn vào một miền tiềm thức hoang vu. Bạn trở thành một nhà thám hiểm, đi qua các ký ức tự truyện, trải nghiệm mà trong nhiệm vụ tập trung ra thế giới bên ngoài bạn sẽ không bao giờ có.

Hoạt động của mạng chế độ mặc định trái ngược với Mạng lưới điều hành trung tâm (CEN). Nghiên cứu chỉ ra CEN là mạng não liên quan đến thế giới bên ngoài.
Đúng như tên gọi, CEN thu thập thông tin từ các mạng não khác, phân tích và ra quyết định cho hành động của bạn. Ví dụ, khi dạ dày bạn đói và bạn nghĩ cần phải đi ăn, CEN sẽ thu thông tin từ mạng lưới cảm giác và hệ thống limbic.
Tiếp theo, bó bắt đầu phân tích và hướng dẫn bạn đứng lên, bước vào nhà bếp và mở tủ lạnh. Giờ đây, giả sử bạn nhìn thấy một quả táo và một chiếc bánh ngọt. Theo phản xạ cảm xúc, bạn sẽ chọn bánh ngọt vì bạn thích bánh hơn. Nhưng trí óc trung tâm bắt đầu suy nghĩ. Nó cho rằng bạn nên chọn táo, vì táo là sự lựa chọn lành mạnh hơn.
Theo cách này, Mạng Chế độ Thực hiện hoạt động để kiểm soát lý trí và những phân tích cụ thể, logic của bạn, từ việc chọn món ăn, cho đến nước đi tiếp theo trên bàn cờ vua hoặc phân tích thị trường chứng khoán.
Một điều thú vị mà các nhà nghiên cứu quan sát được là sự tương phản giữa hoạt động của Mạng Chế độ Thực hiện và Mạng Mặc định. Khi Mạng Chế độ Thực hiện được kích hoạt, thì Mạng Mặc định sẽ bị tắt và ngược lại.
Sự chuyển đổi này được điều khiển bởi một mạng lưới khác trong não được gọi là Mạng Hướng Đối tượng (Mạng Salience). Mạng Salience hoạt động như một công tắc điều hướng bạn hoặc chỉ tập trung vào thế giới bên ngoài hoặc chỉ nhìn về quá khứ.

Một khi công tắc này bị hỏng, nó có thể gây ra các ảo giác và làm lẫn lộn giữa hai thế giới, tương tự như những gì bệnh nhân tâm thần phân liệt gặp phải. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở một mức độ nhất định, sự hoạt động đồng thời giữa Mạng Chế độ Thực hiện, Mạng Mặc định và Mạng Salience có thể tạo ra những ý tưởng vô cùng sáng tạo.
Có thể đó chính là lúc chúng ta bỏ lại mọi công việc và đi tắm. Dòng nước từ vòi sen đã kích hoạt Mạng Mặc định và mở ra cánh cửa để chúng ta tiến vào...

Sáng tạo đơn giản là khả năng tạo ra những sản phẩm mới và hữu ích. Các sản phẩm của sự sáng tạo có thể là vật thể vô hình như ý tưởng, một lý thuyết khoa học, một giai điệu âm nhạc hoặc một câu chuyện hài hước. Nhưng chúng cũng có thể có hình dạng như một bức tranh, một cuốn tiểu thuyết hoặc một phát minh khoa học.
Trong quá trình tiến hóa, con người đã tận dụng khả năng sáng tạo đặc biệt của mình để xây dựng nền văn minh. Từ việc sử dụng lửa và công cụ đá hàng triệu năm trước, cho đến hiểu biết về thị trường kinh tế và không gian... tất cả là sản phẩm của sự sáng tạo.
Tính chất của hoạt động sáng tạo luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà khoa học, trong nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, tâm lý, xã hội, kinh tế, giáo dục, công nghệ và thần kinh học.
Các nhà nghiên cứu về thần kinh đã từ lâu quan tâm đến việc tìm ra phần nào trong não chịu trách nhiệm cho sự sáng tạo. Họ tiến hành điều này bằng cách thử nghiệm tư duy phân kỳ qua các nhiệm vụ thay thế.

Tư duy phân kỳ là một cách suy nghĩ tự do, phi tuyến tính, đại diện cho hoạt động sáng tạo bằng cách tìm ra nhiều giải pháp cho một vấn đề. Trong khi nhiệm vụ thay thế là một bài kiểm tra, yêu cầu tình nguyện viên đưa ra nhiều ý tưởng sáng tạo cho một vật phẩm cụ thể.
Ví dụ, với một chiếc kẹp ghim, việc sử dụng nó để kẹp giấy không phải là sáng tạo bằng cách sử dụng nó để treo đồ trang trí hoặc biến nó thành một công cụ mở khóa. Các nhà khoa học đặt ra các tiêu chí rõ ràng để đánh giá sự sáng tạo của tình nguyện viên.
Trong hơn một thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã thực hiện hàng trăm thí nghiệm với hàng nghìn tình nguyện viên và phát hiện: Sự hoạt động của mạng chế độ mặc định trong não liên quan chặt chẽ đến suy nghĩ sáng tạo.
Điều này có nghĩa là khi mạng chế độ mặc định hoạt động mạnh mẽ, tình nguyện viên có nhiều suy nghĩ sáng tạo hơn, được thể hiện qua điểm số cao hơn trên thang đo tư duy phân kỳ.
Một mối liên hệ thuận tức thì được phát hiện giữa khả năng sáng tạo và khối lượng chất xám tập trung trong các vùng não thuộc mạng chế độ mặc định. Khi có nhiều chất xám hơn trong những khu vực này, tình nguyện viên càng có khả năng sáng tạo cao hơn.

Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Molecular Psychiatry vào đầu năm 2022 đã phát hiện một mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của mạng chế độ mặc định và tư duy sáng tạo.
Không sử dụng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân (fMRI), 13 tình nguyện viên đã được tham gia vào nghiên cứu này, trong đó họ được mở sọ và kích thích điện trực tiếp vào vùng mạng DMN trong não.
Theo các nhà nghiên cứu dẫn đầu, khi mạng chế độ mặc định bị gián đoạn bởi kích thích điện, khả năng sáng tạo và điểm số tư duy phân kỳ của tình nguyện viên giảm. Ngược lại, kích thích điện ở bên ngoài mạng DMN không ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo của họ.
'Đây là nghiên cứu đầu tiên chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa mạng chế độ mặc định và tư duy sáng tạo', nghiên cứu cho biết.
Những chứng cứ từ nghiên cứu tâm lý cũng hỗ trợ những gì các nhà thần kinh đã phát hiện. 'Mạng chế độ mặc định dường như là một trong những nguồn gốc quan trọng của sự sáng tạo', một nhà tâm lý học nói.
Năm 2019, một khảo sát ngoài đời thực với 185 nhà vật lý và nhà văn đã phát hiện ra rằng những ý tưởng đột phá nhất thường xuất hiện trong thời gian nghỉ ngơi hoặc không làm việc.
'Khi tâm trí bước ra khỏi áp lực bên ngoài để khám phá thế giới tưởng tượng bên trong, đó là nơi nảy sinh những ý tưởng sáng tạo. Trong trạng thái thoải mái này, suy nghĩ tinh nghịch được phép bay bổng trong tâm trí... điều này làm nền tảng cho sự nảy sinh tự nhiên của những ý tưởng mới'.

Roger Beaty, một nhà khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học Penn State, đồng ý với điều này. 'Khi bạn không cố gắng giải quyết vấn đề, bộ não vẫn tiếp tục hoạt động, sắp xếp lại thông tin xung quanh vấn đề đó. Khi các mảnh ghép của vấn đề được sắp xếp hợp lý, một ý tưởng mới sẽ nảy sinh'.
Ngược lại, Beaty cho biết nếu bạn tiếp tục mải mê trong một nhiệm vụ tâm trí khó khăn, các mạng não khác như CEN và DAN sẽ chiếm giữ suy nghĩ logic và phân tích của bạn.
Khi không thể truy cập được mạng DMN, khả năng xáo trộn và sắp xếp thông tin giảm đi, điều này làm cho bạn không thể tạo ra những ý tưởng mới và sáng tạo.

Vậy nếu việc thả lỏng tâm trí giúp chúng ta tìm kiếm sự sáng tạo, vì sao lại có cảm giác lạ lẫm với ý tưởng này?
Kalina Christoff, một nhà khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học British Columbia, cho biết: 'Mọi người thường ngạc nhiên khi họ nảy ra những ý tưởng mới mẻ trong những thời điểm không ngờ. Nguyên nhân là từ văn hóa của chúng ta'.
Có một quan điểm phổ biến rằng sáng tạo là kết quả của quá trình xử lý thông tin. Điều này có nghĩa là càng nhiều thông tin, não bộ càng có thể tạo ra điều mới mẻ.
Để thu thập thông tin, cần kích hoạt hoạt động của các mạng thị giác, limbic, cảm giác, và mạng điều hành trung tâm. Điều này cũng là cơ sở của một xã hội coi trọng sự chăm chỉ và liên kết nó với hiệu suất làm việc.
Ngay từ khi còn nhỏ, mọi người được dạy rằng cần cù và kiên trì là những phẩm chất quan trọng và cần thiết để đạt được thành công. Và với văn hóa làm việc 996, nhiều doanh nghiệp đề cao điều này.
996 có nghĩa là phải làm việc từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần. Trong một môi trường như vậy, các quản lý chắc chắn sẽ không hài lòng khi nhân viên yêu cầu nghỉ ra ngoài để thư giãn.

Tuy nhiên, như Christoff nói, sáng tạo trong những khoảnh khắc nhàn rỗi là điều rất phổ biến. Thậm chí khi làm việc hoặc trong cuộc họp, đôi khi bạn không nhận ra tâm trí mình đang lạc vào nơi khác.
Trong một nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ (PNAS) năm 2020, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tới 47% thời gian, tâm trí của tình nguyện viên đang lang thang.
Beaty, một nhà nghiên cứu thần kinh học tại Đại học Penn State, cho biết mặc dù bạn có nhận ra hay không, tất cả chúng ta thường xuyên để tâm trí lạc vào nơi khác giữa các nhiệm vụ trí óc và tiềm thức.
Những hoạt động lang thang này diễn ra trong não bộ mà không cần sự chỉ đạo từ chúng ta. Đó là cách mở cửa cho mạng chế độ mặc định hoạt động và kích thích sự sáng tạo trong não bộ.
Ngoài việc lạc vào miền vô thức, bạn cũng có thể tự kích hoạt mạng chế độ mặc định một cách có ý thức. Bí mật là tạo ra một hoạt động đơn giản không đòi hỏi quá nhiều tư duy. Điều này có thể là việc đi dạo hoặc tắm nước ấm, điều mà hầu hết mọi người thấy thú vị.
Dù không khuyến khích hành động hút thuốc để giải quyết vấn đề, nhưng bạn có thể nhận ra rằng việc đi hút một điếu thuốc thật sự có ích cho tâm trí. Bạn rời khỏi một môi trường căng thẳng, tìm đến nơi thoáng đãng và bắt đầu hít thở sâu mà không nghĩ đến vấn đề nào.
Vậy nên, để tạo ra khoảng thời gian lạc vào miền vô thức, bạn cần đảm bảo mình trong một tâm trạng an toàn, không gặp nguy hiểm, không có ý nghĩa gì đặc biệt và tạm quên mọi nhiệm vụ đang làm.
Trong một xã hội tôn vinh sự chăm chỉ, nhiều người coi như là tội lỗi. Ra ngoài trong cuộc họp, đi gội đầu trong giờ làm việc, hay thư giãn với câu cá ở ngoại ô...
Theo như Christoff, nhà khoa học thần kinh tại Đại học British Columbia, việc kéo dài thời gian lạc vào miền vô thức là quan trọng để tạo ra cơ hội cho những ý tưởng mới mẻ. Đó là lúc tâm trí bạn mở ra những không gian mới.

Schooler, một nhà tâm lý học tại Đại học California, hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Ông nói: 'Một trong những gánh nặng khi sống trong thế giới hiện đại là thiếu thời gian cho sự tưởng tượng cá nhân.'
Lần tới, khi bạn đang mắc kẹt trong một cuộc họp đầy bảng vẽ nhưng không có gì xảy ra, hãy ra ngoài và dành thời gian cho tâm trí mình một chút.
Dù gặp khó khăn trong cuộc sống thế nào, hãy dành thời gian cho bản thân. Nhớ rằng, việc thả lỏng tâm trí cũng là cơ hội để tạo ra những ý tưởng mới và giải quyết vấn đề.
Tham khảo: Natgeo, Scientificamerican, Molecular Psychiatry, Nature, Syfy, Scientific Report, Omniscient, Dialogues Clin Neurosci, Neuropsychologia, Medium, Neurosciencenews, PNAS.
