
Erich Fromm – một nhà phân tâm học nổi tiếng người Đức gần như đã tóm lược toàn bộ khái niệm tôn giáo, lịch sử, triết học và chủ nghĩa tư bản phương Tây vào cuốn sách “Tinh thần thức tỉnh” của mình. Trong tác phẩm này, ông nêu ra một vấn đề cốt lõi “Con người và tinh thần thức tỉnh là gì” và cái gốc của vấn đề lý giải câu hỏi này. Erich Fromm đã mường tượng về những xã hội trong tương lai sẽ gặp nhiều vấn đề về tâm lý và hành vi như thế nào dù những xã hội đó tạo ra nhiều của cải, thu nhập cao và tiện ích hơn. Và để thay đổi và vượt lên tình trạng này, Erich Fromm cho rằng một Tinh thần thức tỉnh là một xã hội nhân văn nơi con người được quyền sáng tạo, tự do và có lý trí đi ngược lại với đám đông.
Câu trả lời của Erich Fromm trong cuốn “Tinh thần thức tỉnh” cho người đọc cái nhìn rõ nét về văn hoá, hoàn cảnh và tâm lý con người phương Tây nói riêng, nhưng vì Thế giới đang chịu ảnh hưởng và tiêu thụ văn hoá phương Tây thì có không ít điểm tương đồng mà bạn đọc Việt có thể cảm thấy hay nhận thấy ít nhiều những gì Erich Fromm truyền đạt trong cuốn sách này liên quan tới bản thân và chính xã hội mình đang sống.
' ĐỂ ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH, CON NGƯỜI PHẢI CHỐNG LẠI VÀ CẮT ĐỨT VỚI TỰ NHIÊN '
Trái với triết lý “Thuận theo tự nhiên” của người phương Đông, Erich Fromm cho rằng con người cần đối mặt và thách thức Tự nhiên để phát triển bản thân.
Dựa trên các khái niệm về phân tâm học và tâm lý học của Freud, ông lập luận rằng con người luôn có mong muốn chống lại sự ràng buộc của Tự nhiên để đạt được sự độc lập và tự do.
Mối quan hệ giữa con người và Tự nhiên được ví như mối quan hệ giữa mẹ với con. Trong lịch sử, con người luôn tìm cách giải phóng khỏi sự chi phối của Tự nhiên và xây dựng một thế giới theo ý thức của mình.
Cấu trúc gia đình và xã hội mẫu hệ đem lại sự ổn định và tự do cho con người, nhưng cũng tạo ra sự ràng buộc lớn với Tự nhiên. Con người phải lựa chọn giữa tự do và sự phụ thuộc, tiến bộ và sự chấp nhận.
Erich Fromm nêu rõ rằng con người phải tự chủ và phát triển bản thân sau khi cắt đứt mối liên hệ với Tự nhiên. Chúng ta phải xây dựng một thế giới mới dựa trên ý tưởng và nguyên tắc của chính mình.
Trong quá trình lịch sử, con người đã từ bỏ tôn giáo và cấu trúc xã hội mẫu hệ để khẳng định ý chí và quyền lực cá nhân. Câu chuyện của chúng ta là cuộc hành trình chống lại sự chi phối của Tự nhiên để xây dựng một thế giới theo ý muốn của mình.
Mọi chuyện có vẻ lý tưởng khi con người giải phóng bản thân khỏi sự chi phối của Tự nhiên. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc con người phải đối mặt với những hậu quả mà họ không ngờ đến khi tự mình tạo ra thế giới của mình.
' CON NGƯỜI SÁNG TẠO NHƯNG CŨNG BỊ XIỀNG XÍCH VÀ LÀ NÔ LỆ TRONG THẾ GIỚI MÀ HỌ TẠO RA '
Sau khi cắt đứt mối liên hệ với Tự nhiên, con người đã tạo ra một thế giới mới.
Phương Tây đã kết hợp cấu trúc mẫu hệ và phụ hệ thành một trong các tôn giáo độc thần, thay thế cho đa thần giáo. Tôn giáo, đặc biệt là giáo hội Công giáo, đã ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa và xã hội Châu Âu trong hàng thế kỷ.
Trong thế giới của các tôn giáo độc thần này, con người có tự do nhưng cũng bị lệ thuộc và kiểm soát bởi các quy tắc xã hội. Mặc dù có sự an toàn nhưng con người phải đối mặt với sự phân biệt và bạo lực trong xã hội, điều này hoàn toàn trái ngược với lời dạy của các tôn giáo.
Ngày nay, mỗi xã hội hoặc văn hoá đều mang trong mình bản sắc tự nhiên riêng của nó: sự phụ thuộc vào đất đai và dòng dõi. Erich Fromm buồn thảm kết luận rằng con người chưa thể trở thành người hoàn chỉnh cho đến khi họ vượt qua sự ràng buộc của đất đai và dòng dõi. Khi ý chí và tình yêu của con người bị tê liệt, họ không thể kết nối với người khác theo cách tự nhiên nhất.
'
CON NGƯỜI SÁNG TẠO NHƯNG CŨNG BỊ XIỀNG XÍCH VÀ BỊ HẠN CHẾ TRONG THẾ GIỚI MÀ HỌ TẠO RA
'
Một hy vọng cho con người trong xã hội này là vẫn còn một ít ý chí và lòng nhân từ. Từ những tia sáng này, xã hội phương Tây đã trải qua thời kỳ Phục Hưng và Khai Sáng - nơi con người vẫn biểu lộ sự sáng tạo trong nghệ thuật, khoa học và thủ công dù bị hạn chế bởi quyền lực và cấm đoán. Erich Fromm đã kết luận: “Sức khỏe tinh thần biểu hiện ở khả năng yêu thương và sáng tạo, là ý thức cá nhân dựa trên trải nghiệm của bản thân và tác động ngoại cảm cũng như nội cảm của một con người”. Mặc dù chỉ một số ít, nhưng họ vẫn dẫn dắt đám đông, vượt qua sự chi phối của dân tộc, tôn giáo hay lãnh thổ địa lý.
' TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐÃ DẪN TỚI CHỦ NGHĨA TIÊU THỤ VÀ THAO TÚNG TRONG CÁC XÃ HỘI “TỈNH TÁO” '
Có lẽ nhiều nhà kinh tế học cho rằng kết luận của Erich Fromm về bản chất thực sự của Chủ nghĩa Tư bản ở giai đoạn đầu có thể quá nghiêm ngặt và độc đoán: Chủ nghĩa Tư bản là sự lợi dụng tàn nhẫn của lao động.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế học không thể phủ nhận rằng Chủ nghĩa Tư bản đã tạo điều kiện cho một số cá nhân siêu giàu đạt được quyền lực tương đương với những quyền lực mà trước đây chỉ thuộc về Nhà nước hoặc Tôn giáo. Ví dụ điển hình là Đế quốc Anh dưới thời Elizabeth hoặc Victoria, và Đế chế Tây Ban Nha cũng như Pháp trong thời kỳ Napoleon cầm quyền.
Người được hướng dẫn bởi lý tưởng của Chủ nghĩa Tư bản sẽ cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của mình. Từ đó, xã hội không chỉ đánh giá con người thông qua giai cấp hoặc dòng dõi mà còn thông qua số giờ lao động của họ. Ngược lại, trong thế giới Tư bản, con người bị chi phối bởi quan điểm rằng “Giá trị là việc tạo ra tiền và hàng hóa thông qua hệ thống xã hội, thay vì là trải nghiệm ý nghĩa và hạnh phúc dựa trên lý trí của bản thân”.
Không chỉ người lao động mất đi tính tỉnh táo mà cả những chủ nhân của tư bản cũng vậy. Họ bị cuốn theo sự phát triển liên tục, mở rộng và sản xuất để vượt qua nhau, thay vì tự đặt câu hỏi liệu các hoạt động này có lợi cho con người hay không? Trong thế giới Tư bản, không có chỗ cho lợi ích của con người. Các nhà tư bản tìm mọi cách để kích thích tiêu thụ càng nhiều càng tốt.
Sau giai đoạn ban đầu, Chủ nghĩa Tư bản đã trải qua một cuộc cách mạng: cả sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đều đã được tự động hóa. Kết quả là sản lượng tăng, và con người từ một công cụ lao động trở thành một công cụ tiêu thụ. Mặc dù Tư bản đã tạo ra hàng loạt sản phẩm với giá rẻ đến mức ai cũng có thể mua, nhưng nó không mang lại cảm giác, trải nghiệm và ý nghĩa như thời Trung Cổ. Khi người lao động và người tiêu dùng không biết đánh giá giá trị của sản phẩm mình mua, họ thường mua những thứ mà chủ nghĩa Tư bản giờ đây đeo mặt nạ của chủ nghĩa tiêu thụ muốn họ mua. Điều này khiến Erich Fromm phải nói rằng “CHỨC NĂNG CỦA TIÊU THỤ LÀ MỤC ĐÍCH, KHÔNG PHẢI TIÊU THỤ LÀ CÔNG CỤ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC ĐÍCH LÀ HẠNH PHÚC”.
Kết quả là khi con người trong xã hội chỉ tiêu thụ mà không quan tâm đến quá trình sản xuất, chúng ta mất liên kết với những gì chúng ta tiêu thụ. Cuộc sống của con người bị thu hẹp trong một thế giới của hàng hóa và vật chất, nơi mà mọi quan hệ giữa chúng ta và các vật phẩm là do xã hội sản xuất, và con người phải tiêu thụ. Con người bị bắt buộc tiêu thụ bởi luật lệ của xã hội. Nhưng tiêu thụ không bao giờ đem lại hạnh phúc, không nói đến thỏa mãn. Con người bị lập trình và thao túng bởi thị trường và truyền thông, được dạy rằng “Càng tiêu nhiều thì càng biết cách tận hưởng cuộc sống”. Mọi ham muốn phải được đáp ứng ngay lập tức, không chấp nhận sự mong muốn trong chủ nghĩa tiêu thụ”.
Ước ngạc nhiên là cách đây 70 năm, Erich Fromm đã dự đoán một số hệ quả mà giờ đã trở thành hiện thực khi chủ nghĩa tư bản biến thành chủ nghĩa tiêu thụ: Công nghệ sẽ dần thay thế vai trò của con người. Con người trở nên thụ động, chọn lựa an toàn (công việc lặp lại, thích làm thuê, yêu thích giải trí và bị truyền thông dẫn dắt).
Xã hội không cần thêm tài nguyên vật chất hoặc khả năng tiêu thụ mà cần phải tăng cường tính nhân văn.
Xã hội tỉnh táo của Erich Fromm phê phán tình trạng thiếu tỉnh táo trong xã hội và đề xuất những giải pháp để thay đổi và thúc đẩy sự tỉnh táo trong xã hội.
Theo Erich Fromm, sự tỉnh táo của cá nhân và xã hội xuất phát từ việc xây dựng sức khỏe tâm thần trên cơ sở các giá trị nhân văn. Con người phải được coi trọng như thể hiện của sự vĩnh cửu, không bao giờ là công cụ hoặc vật dụng cho mục đích của người khác hay xã hội. Kinh tế và tài nguyên vật chất phải được hướng về sự phát triển toàn diện của mỗi con người.
Điều quan trọng là khả năng yêu thương và sáng tạo trong mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân cần nhận thức về bản sắc và trải nghiệm của mình về thế giới, đồng thời khám phá khả năng của bản thân để hiểu rõ hơn về thế giới và con người xung quanh. Chỉ khi hiểu biết mới có thể yêu thương, và chỉ khi yêu thương mới có thể cùng nhau thay đổi.
Đó chính là sự lý trí và tính khách quan. Đó là việc chấp nhận sự mâu thuẫn và nghịch lý trong cuộc sống. Đó là khả năng nhận biết sự không hoàn hảo của bản thân nhưng vẫn tin tưởng vào khả năng thay đổi thế giới. Mục tiêu của cuộc sống là sống một cách mãnh liệt, trải qua và chấp nhận cái chết trong sự tỉnh táo đầy đủ. Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong một xã hội tỉnh táo.
Một xã hội tỉnh táo cần phải tạo điều kiện và cung cấp nguồn lực để mọi cá nhân đều có cơ hội phát triển toàn diện và duy trì trạng thái tâm thần tốt nhất.
Một xã hội tỉnh táo là nơi chấp nhận sự đa dạng của cá nhân, sẵn lòng chấp nhận những ý kiến và suy nghĩ khác biệt mà không đánh giá hoặc lên án họ.
Trong xã hội tỉnh táo, truyền thông và chính trị không nên vận động theo hướng tôn vinh dân tộc hay tiêu thụ, mà nên đề cao giá trị nhân văn mà không phân biệt chúng.
Và một xã hội tỉnh táo cần phải trân trọng nghệ thuật. Đó là nơi có nhiều nhà văn, họa sĩ và nhạc sĩ sáng tạo hơn. Sự sáng tạo và nghệ thuật là một phần không thể thiếu của con người có tâm trí và trí tuệ.
Mỗi người chúng ta được sinh ra đã được trang bị với sự sáng tạo, và chỉ khi sống theo đúng bản năng của mình, chúng ta mới có thể tìm thấy hạnh phúc và trải nghiệm cuộc sống một cách tỉnh táo.
Theo Đức Nhân
