
Cuối ngày thứ Hai, trong phiên xử sơ thẩm vụ kiện chống độc quyền giữa Bộ Tư pháp Mỹ và Google, thẩm phán Tòa án Liên bang Amit Mehta đang xem xét liệu có nên trừng phạt Google hay không. Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc Google đã cố ý xóa bằng chứng dưới dạng các cuộc trò chuyện và thư điện tử một cách thường xuyên.
Theo Bộ Tư pháp Mỹ, Google đã thực hiện biện pháp quản lý nội dung trong quá trình thảo luận công việc giữa hàng nghìn nhân viên bằng cách yêu cầu họ tắt tính năng lưu trữ lịch sử tin nhắn khi thảo luận về các nội dung nhạy cảm, bao gồm cả quy trình và các chương trình chia sẻ doanh thu của Google với các tập đoàn và đơn vị sản xuất thiết bị công nghệ, nắm giữ nền tảng hệ sinh thái, cũng như các thỏa thuận phân phối ứng dụng di động thông qua hệ điều hành Android với các hãng điện thoại. Bộ Tư pháp Mỹ cho rằng hành vi này giúp Google bảo vệ vị thế độc quyền trên thị trường tìm kiếm trực tuyến.
Google bị cáo buộc đã cố tình xóa hàng ngàn log chat và tin nhắn nội bộ, ngay cả khi họ biết tập đoàn đang bị điều tra, và ngay cả khi vụ kiện đang diễn ra. Google chỉ dừng hành vi này lại sau khi bộ tư pháp Mỹ phát hiện ra quy chế kể trên.
Kenneth Dintzer, công tố viên của bộ tư pháp Mỹ đưa ra quan điểm với thẩm phán Mehta, rằng tòa án nên “kết luận việc thảo luận mà không lưu lại lịch sử trò chuyện mô tả cách hoạt động độc quyền, nhằm che giấu thông tin, vì họ biết họ đang vi phạm luật chống độc quyền.” Thẩm phán Mehta đồng ý ở một góc nhìn, rằng “quy chế hạn chế tài liệu của Google cần phải được chỉnh sửa.”
Đáp lại, luật sư của Google, Colette Connor thì nói tại tòa án rằng bộ tư pháp Mỹ lẽ ra đã biết quy chế này của Google trước cả khi họ đưa vấn đề ra tòa. Trước đó Google đã đề cập tới quy chế xóa lịch sử trò chuyện với tổng chưởng lý bang Texas. Luật sư Connor cũng bào chữa rằng, hành vi của Google không xứng đáng bị trừng phạt, vì không có bằng chứng cho thấy những đoạn chat và trò chuyện nội bộ bị xóa tạo ra những bằng chứng mới trước tòa.
Phản ứng lại, thẩm phán Mehta nói: “Chúng tôi chỉ mong muốn biết những gì chúng tôi chưa biết. Chúng tôi hoàn toàn không chắc chắn liệu có một kho tàng thông tin và bằng chứng đã bị Google cố ý hủy hay không.”
Công tố viên Dintzer phát biểu rằng, quyết định của Google, liên quan đến việc thảo luận với chưởng lý bang Texas mà không thông báo cho các công tố viên và các điều tra viên liên bang là vi phạm nghĩa vụ, theo các quy tắc tố tụng dân sự liên bang. Quy tắc ở đây là, “chỉ khi phát hiện ra bên bị đơn hành động với mục đích hạn chế các bên, không cho họ tiếp cận nguồn thông tin có thể dùng để kiện tụng, thì tòa án có thể kết luận rằng việc xóa bỏ thông tin là hành động gây hại.”
Bộ tư pháp Mỹ đề xuất tới tòa án 4 biện pháp trừng phạt đối với Google. Họ đề cập tới các yêu cầu sau:
- Tòa án giả định những thông tin bị xóa là thông tin có thể gây bất lợi cho Google trước tòa.
- Tòa án giả định rằng biện minh của Google đưa ra bào chữ cho hành vi này là nhằm che giấu mục đích thật của họ.
- Tòa án giả định rằng Google dự định xóa những cuộc trò chuyện để duy trì vị thế độc quyền.
- Cấm Google lập luận rằng không có bằng chứng nghĩa là không có gì bất lợi cho Google đã bị tiêu hủy.
Chính thẩm phán Mehta cũng nhắc lại rằng “Google rất cẩn trọng và chắc chắn trong việc khuyến cáo nhân viên được hay không được nói gì” trong những cuộc trò chuyện có thể có nội dung liên quan tới vị thế của họ trên thị trường internet. Một trong số đó là “không được sử dụng cụm từ các thị trường.”
Tổng chưởng lý của vài bang đã tận dụng sự kiện này để lên án Google, cáo buộc tập đoàn Alphabet gom nhặt những giao kèo và thỏa thuận độc quyền để kiểm soát toàn bộ hệ sinh thái tìm kiếm trực tuyến và quảng cáo trên trang tìm kiếm trực tuyến. Bộ tư pháp Mỹ thì cho rằng những bằng chứng mà họ có để cáo buộc Google độc quyền giống y chang như bằng chứng hồi họ kiện Microsoft vào năm 2001.
Cụ thể hơn, theo công tố viên Dintzer: “Tương tự cách Microsoft kiểm soát các hệ sinh thái khác, Google cũng thực hiện điều này bằng cách đảm bảo mọi thiết bị Android, thiết bị Apple và người dùng thiết bị di động đều có tiếp cận với Google, hoặc dưới dạng công cụ tìm kiếm mặc định, hoặc là công cụ tìm kiếm duy nhất trên thiết bị. Những thỏa thuận của Google với thị trường Android và Apple rõ ràng ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ vị thế độc quyền của họ.”
Luật sư trưởng của Google, John Schmidtlein phản biện điều này. Ông cho rằng vụ kiện chống độc quyền với Microsoft 23 năm về trước khác biệt, vì Microsoft “đã ép buộc các bên thứ 3 phải sử dụng các sản phẩm tệ hơn mà họ phân phối, rồi áp dụng vị thế độc quyền” khiến các đối thủ không thể cạnh tranh. Theo luật sư này của Google, Google đã đảm bảo không có việc ép buộc các bên chọn Google là công cụ tìm kiếm mặc định. Ngược lại, mọi bên thứ ba, như Mozilla, Samsung, Motorola, Verizon, AT&T, T-Mobile đều đã xuất hiện tại tòa án và xác nhận họ lựa chọn Google vì đó là sản phẩm tốt nhất.
Schmidtlein nhấn mạnh: “Sẽ là một tiền lệ rất xấu nếu trừng phạt một công ty chỉ vì họ là lựa chọn tốt nhất.”
Theo Bài viết trên ArsTechnica