
Nếu bạn là Margaret Leslie Davis, bạn chắc chắn biết câu trả lời. Cuốn sách của bà - The Lost Gutenberg: Câu chuyện đáng kinh ngạc về hành trình 500 năm của một cuốn sách, được xuất bản vào tháng 3/2019, đã bắt đầu bằng câu mô tả trên.
Cuốn sách này kể về hành trình của một bản sao của Kinh thánh Gutenberg - một trong số ít bản sao còn tồn tại của quyển Kinh thánh được Johannes Gutenberg in ra cách đây 450 năm. Trong suốt thế kỷ 20, Gutenberg nổi tiếng với việc phát minh ra máy in, các dự án khởi nghiệp của ông, phòng thí nghiệm lưu trữ, việc bán đấu giá và sở thích sưu tập.
Davis trích dẫn lời của Mark Twain trong một lá thư mừng sự kiện khai trương Bảo tàng Gutenberg vào năm 1900 vì nó 'cực kỳ phù hợp'. 'Thế giới ngày nay ra sao' - Mark Twain viết, 'tốt xấu đều do Gutenberg. Mọi thứ đều quay về điểm này...'. Làn sóng mới do Gutenberg tạo ra đã được coi là một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại - mở cửa cho Cải cách Tin lành, thời Phục Hưng, cuộc cách mạng khoa học, giáo dục phổ thông và hàng ngàn thay đổi khác liên quan đến cuộc sống ngày nay.
Vấn đề duy nhất là gì?
Những lời ca tụng này, thực tế không phổ biến và Gutenberg cũng không phải là người sáng lập in ấn. Thay vào đó, cuộc cách mạng công nghệ in ấn sau này bắt đầu từ Đông Á, do quý tộc Trung Quốc, phật tử Triều Tiên và hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn thực hiện. Công việc của họ bắt đầu trước khi Gutenberg sinh ra vài thế kỷ.
Trong quy trình in truyền thống, các mảnh kim loại có chữ nổi viết ngược gọi là con chữ rời, được xếp vào một cái khuôn, phủ một lớp mực và in lên giấy. Sau khi lấy tờ giấy ra, ta có một trang giấy in. Lặp lại quy trình này với nhiều trang giấy hơn, ta có một cuốn sách - đó chính là một bản in. Lặp lại vô số lần nữa, ta có những cuốn sách hàng loạt.
Máy in được cho là phát minh của Gutenberg vào khoảng năm 1440 tại thành phố Mainz, Đức. Nó bắt đầu phát triển mạnh ở châu Âu vào những năm 1450 nhờ cuốn Kinh thánh nói trên. Dù sách đã tồn tại ở châu Âu từ lâu, nhưng chỉ dừng lại ở những bản chép tay và chủ yếu chỉ giáo sĩ mới tiếp cận được. Việc sản xuất sách hàng loạt đã cách mạng hóa châu Âu vào cuối thập niên 1440, cùng với sự cải thiện khả năng đọc, viết đã thay đổi tôn giáo, chính trị và lối sống trên toàn thế giới.
Chí ít thì đó là những gì được kể trong hầu hết các tài liệu, bao gồm phần lớn cuốn The Lost Gutenberg của Davis. Nhưng ở phần cuối cuốn sách, có một câu thừa nhận rằng lịch sử in ấn đã bắt đầu từ rất lâu trước đó: “Kiểu chữ rời là phát minh của người Trung Quốc vào thế kỷ 11, được dân tộc Triều Tiên cải tiến vào năm 1230 trước khi gặp điều kiện giúp nó phát triển ở châu Âu - thời của Gutenberg.”
Câu nói trên không chỉ giảm bớt tầm quan trọng mà còn tường thuật sai những gì đã xảy ra.
Công nghệ in ấn bắt đầu tại Trung Quốc vào khoảng năm 800. Kỹ thuật in lúc đó gồm việc khắc nổi toàn bộ trang văn bản trên một bề mặt gỗ, phủ mực rồi in lên giấy. Vào khoảng năm 971, các nhà in ở Chiết Giang, Trung Quốc đã in bộ sách Phật giáo Tam Tạng Kinh bằng bản khắc gỗ, gồm 130.000 tấm gỗ (mỗi tấm cho một trang). Sau này, họ cố gắng tạo ra phiên bản sơ khai của con chữ rời - gồm việc khắc chữ tượng hình trên gỗ nhưng gây nhiều bất tiện. Họ còn thử làm ký tự bằng gốm, nhưng ý tưởng này nhanh chóng bị loại bỏ.
Trong khi đó, quá trình nhập khẩu hàng hóa từ Trung Hoa đã mang những phát minh này đến với các nhà cai trị Triều Tiên - hay còn gọi là vương quốc Cao Ly. Họ có vai trò quan trọng trong giai đoạn tiếp theo của lịch sử in ấn, nhưng câu chuyện của họ lại nặng nề hơn khi quá trình đổi mới đi cùng với xâm lược.
Năm 1087, một nhóm người du mục Khiết Đan đã cố gắng xâm lược bán đảo Triều Tiên. Điều này thúc đẩy chính quyền Cao Ly áp dụng phương pháp in khắc gỗ để tạo ra bộ Tam Tạng Kinh của riêng mình, có lẽ để bảo tồn bản sắc Phật giáo quốc gia trước nguy cơ xâm lược. Trong khi cố gắng giữ lại ý tưởng và kỹ thuật in cho hậu thế, những kẻ xâm lược cuối cùng cũng đến. Trong thế kỷ 12 và 13, Thành Cát Tư Hãn tạo ra đế chế lớn nhất lịch sử, trải dài từ Thái Bình Dương đến Ba Tư. Sau khi ông qua đời, người kế vị là Oa Khoát Đài tiếp tục công cuộc chinh phục, năm 1231 ra lệnh xâm lược Triều Tiên. Chỉ một năm sau, quân đội Mông Cổ tiến đến thủ đô, đốt bản in Tam Tạng Kinh của Triều Tiên.
Vương triều Cao Ly lập tức cho in lại cuốn sách mới. Theo tài liệu của Thomas Christensen, cuốn sách được ví như “những lời cầu nguyện gửi đến các vị Phật, nhờ sức mạnh của họ bảo hộ đất nước khỏi quân Mông Cổ” nhưng cũng để bảo tồn văn hóa triều đại. Điều này quan trọng, nhất là khi cuộc tấn công của người Mông Cổ còn tiếp diễn 28 năm nữa.
Việc in lại bản Tam Tạng Kinh của các nhà sư Triều Tiên phải đến năm 1251 mới hoàn thành. Trong thời gian đó, giới cầm quyền cũng mở rộng việc in các sách khác. Năm 1234, bộ trưởng dân sự Choe Yun Ui được yêu cầu in một văn bản Phật giáo. Nhưng cuốn sách này quá dài và tốn một lượng khắc gỗ khổng lồ, nên Choe đưa ra giải pháp dựa trên phát minh trước đó của Trung Quốc. Đó là khi các con chữ rời bằng kim loại xuất hiện. Choe dùng phương pháp đúc tiền đồng để làm các ký tự kim loại, sắp xếp vào khung, phủ mực và ép lên giấy. Sau khi in xong, ông có thể sắp xếp lại ký tự mà không cần đục thêm gỗ. Với tốc độ nhanh hơn, dự án hoàn thành trước bộ Tam Tạng Kinh một năm.
Điều này có ý nghĩa lớn. Gutenberg được cho là đã tạo ra miếng kim loại nhỏ khắc chữ cái viết ngược, sắp xếp vào khung, phủ mực và ép vào giấy để in sách nhanh hơn. Nhưng Choe đã làm điều đó, và thậm chí còn làm sớm hơn 150 năm trước khi Gutenberg sinh ra.
Có lẽ cái tên Choe Yun Ui cần được ghi nhớ, thay vì Gutenberg.
Dù vậy, ngành in ấn sách ở Triều Tiên không phát triển nhanh như sách của Gutenberg sau 200 năm. Trong bối cảnh bị xâm lược, sáng chế của người Triều Tiên gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, chữ viết Triều Tiên thời đó vẫn dựa trên tiếng Trung với nhiều ký tự khác nhau, làm chậm quá trình đúc và lắp ráp các mảnh kim loại. Điều quan trọng nhất là những nhà cầm quyền Cao Ly chỉ tập trung in ấn cho giới quý tộc.
Có thể công nghệ in ấn đã lan truyền từ Đông sang Tây. Hốt Tất Liệt, cháu Thành Cát Tư Hãn, lập nên nhà Nguyên ở Trung Quốc, tiếp cận công nghệ in ở Trung Quốc và Triều Tiên. Có thể ông đã chia sẻ kiến thức này với em trai Hốt Liệt Ngột - cai trị Ba Tư thuộc đế chế Mông Cổ. Công nghệ in Đông Á có lẽ đã di chuyển đến phương Tây như vậy. “Người Mông Cổ thích sử dụng công nghệ của mình ở mọi nơi và biến chúng thành một phần văn hóa địa phương dù có được thừa nhận hay không.”, David Robinson - giáo sư lịch sử châu Á tại Đại học Colgate giải thích.
Hơn nữa, người Mông Cổ có thể mang công nghệ in này qua châu Âu, bao gồm cả Đức. Từ năm 1000 - 1500, đế chế Mông Cổ liên tục xâm lược châu Âu, tạo cơ hội trao đổi Đông - Tây hiếm có. Christopher Atwood, giáo sư nghiên cứu Á - Âu tại Đại học Indiana, cho biết: “Nói chung, nếu một thứ gì đó di chuyển từ Đông Á đến phương Tây, thật khó tưởng tượng nếu không có sự góp mặt của người Mông Cổ.”
Ở châu Âu, Johannes Gutenberg cuối cùng cũng khởi động công việc kinh doanh của mình. Dự án này kết hợp công nghệ tương tự con chữ rời của Choe Yun Ui, được cải tiến để tăng tốc độ in phục vụ thương mại. Mất hàng chục năm để đạt được thành công, nhưng ông lại phá sản. Theo Davis trong cuốn The Lost Gutenberg, lịch sử ngành in còn nhiều khoảng trống. Gutenberg là một trong số đó. Ông không để lại bất kỳ tài liệu nào kể câu chuyện của mình, và không có ghi chú nào được tìm thấy cho đến ngày nay. Những người Mông Cổ, Duy Ngô Nhĩ và chính phủ ở Đông Á cũng không có ghi chép nào.
Đặt dấu chấm hỏi cho giai đoạn lịch sử này là hợp lý. Nếu cho rằng Gutenberg tự phát minh ra máy in, bỏ qua cả một lục địa và nhiều thế kỷ trước đó cùng quá trình du nhập công nghệ, thì thật viển vông. Trong nghiên cứu về kỹ thuật của Gutenberg, lập trình viên máy tính Blaise Aguera y Arcas chỉ ra: “Thật sai lầm khi nghĩ rằng một công nghệ có thể được tạo ra hoàn chỉnh ngay từ đầu. Ai làm về công nghệ đều biết quá trình không phải như vậy.”
Tác giả Davis cũng đề cập điều tương tự, nhưng lý giải theo cách khác: “Có lẽ hình ảnh của Gutenberg giống như một thiên tài đơn độc biến đổi nền văn minh lâu đời, vì những gì xảy ra sau đó quá hoành tráng đến mức gần như là thần thoại và cần được ghi nhận như một câu chuyện về cội nguồn.”
Davis không làm rõ nhiều thành tựu khác về in ấn trong The Lost Gutenberg. Bà chỉ nhắc đến Trung Quốc vài lần và Triều Tiên một lần - câu chuyện của người Mông Cổ, Duy Ngô Nhĩ và những người không theo đạo Thiên Chúa trong lịch sử in ấn hoàn toàn không được đề cập.
Bà chưa bao giờ giải thích rằng Kinh thánh Gutenberg không phải là cuốn sách quan trọng nhất trong lịch sử. Bản in của Kinh thánh cũng không thuộc hàng những cuốn sách cổ nhất được in bằng chữ rời còn tồn tại. Thay vào đó, cuốn sách cổ nhất là Baegun Hwasang Chorok Buljo Jikji Simche Yojeo của Triều Tiên (Tuyển tập những lời dạy thiền hay nhất của các tu sĩ Phật giáo) từ năm 1377, khởi đầu cho nghiên cứu về nguồn gốc của chữ rời.
Tại Triều Tiên, cuốn sách này cùng nhiều tác phẩm cổ khác được xem là niềm tự hào quốc gia và nằm trong số những cuốn sách quan trọng nhất. Chỉ đến gần đây, chủ yếu là thập kỷ qua, quan điểm của họ và những người châu Á tạo ra công nghệ in mới bắt đầu được công nhận. Hầu hết mọi người - kể cả Davis, người từ chối một cuộc phỏng vấn với nhận xét: “Tôi e rằng mình không thể nói gì thêm về chủ đề in ấn cổ” - vẫn chưa biết toàn bộ câu chuyện.
Thanh Trần | Theo lithub.com
