
Khái quát về cuốn sách
Trong cuốn sách Lẽ phải của phi lý trí của Dan Ariely, ra mắt năm 2011, tác giả sử dụng lĩnh vực Kinh tế học hành vi để giới thiệu cho độc giả hiểu rằng chúng ta thường cư xử phi lý trí ra sao, điều này ảnh hưởng thế nào đến quyết định của chúng ta, và làm thế nào để có những quyết định thông minh hơn.
Đối tượng đọc sách
- Những sinh viên học tâm lý học và Kinh tế học hành vi
- Những ai muốn hiểu tại sao đôi khi ta lại cư xử một cách phi lý trí
- Những ai tò mò về hành vi của con người
Tác giả của cuốn sách
Dan Ariely là giáo sư tâm lý học và Kinh tế học hành vi tại Đại học Duke. Ông cũng là tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng thế giới là Phi lý trí và Bản chất của dối trá.
' Có gì đặc biệt khi đọc cuốn sách này? Khám phá sự thật về những hành vi kỳ lạ của chúng ta. '
Chúng ta luôn mong muốn mình luôn đưa ra những quyết định thông minh nhất có thể. Không phải là điều tuyệt vời khi chúng ta luôn đưa ra những thỏa thuận có lợi nhất, trong công việc, cửa hàng và cả trong mối quan hệ?
Thật đáng tiếc khi chúng ta không thể luôn cư xử một cách lý trí. Tuy nhiên, việc này không phải lúc nào cũng là điều tồi tệ. Bài viết này sẽ giới thiệu cho bạn những hành vi phi lý trí phổ biến nhất và cách bạn có thể tận dụng chúng. Nếu bạn muốn khám phá sâu hơn về sự phi lý trí, cuốn sách này là dành cho bạn.
Trong cuốn sách này, bạn sẽ học được những điều sau:
- Tại sao các trang hẹn hò trực tuyến ít khi mang lại hạnh phúc
- Tại sao nếu bạn tự đánh giá cao bản thân mình 7 điểm, bạn sẽ không bao giờ kết hợp với người được điểm 10
- Tại sao chúng ta lại làm việc hết mình vì tiền bạc.
' Hình thưởng lớn không phải lúc nào cũng là động lực tốt nhất '
Chúng ta thường nghĩ rằng càng có nhiều phần thưởng, chúng ta sẽ cố gắng nhiều hơn và làm việc chăm chỉ hơn, từ đó đạt được hiệu quả và chất lượng tốt nhất. Tuy nhiên, liệu điều này có phải lúc nào cũng đúng không?
Trong một thí nghiệm, các chuột được đặt vào một mê cung và bị giật điện. Khi chúng bị giật điện nhiều lần, chúng trở nên khó khăn hơn trong việc tìm đường thoát ra khỏi mê cung. Thay vì cố gắng tìm cách thoát ra, chúng cảm thấy tuyệt vọng và bỏ cuộc.
Nếu tiền thưởng là dòng điện và con người là những chú chuột, bạn có thể hiểu rằng tập trung sẽ trở nên khó khăn khi luôn phải đối mặt với áp lực từ tiền bạc. Tương tự như chuột, con người cũng không thể làm việc hiệu quả khi gặp áp lực lớn.
Trong thực tế, phần thưởng có thể tăng hiệu suất làm việc, nhưng chỉ đối với các hoạt động thể chất. Khi cần sử dụng trí tuệ và sáng tạo, kết quả lại trái ngược hoàn toàn.
CEO không được trả lương để thực hiện các công việc đơn giản, và những phần thưởng lớn có thể ngăn cản sự sáng tạo và giải quyết vấn đề. Thực tế là, khi phần thưởng càng lớn, họ lại làm việc kém hiệu quả hơn.
Chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của căng thẳng khi phải nói trước đám đông: Khi tập luyện ở nhà, mọi thứ diễn ra suôn sẻ, nhưng khi phải đứng trước đám đông, mọi thứ trở nên rối ren và không hiệu quả. Trong tình huống đó, những lời khen ngợi mà chúng ta mong muốn lại làm chúng ta cảm thấy bối rối hơn.
Vậy chúng ta có thể làm gì để cải thiện tình hình?
Một giải pháp là: Phân phối phần thưởng đó trong một khoảng thời gian dài (ví dụ 5 năm) thay vì thưởng ngay lập tức. Nhân viên vẫn nhận được phần thưởng nhưng áp lực sẽ giảm dần, từ đó mang lại hiệu quả tốt hơn.
' BA: Động lực làm việc của chúng ta không thể được diễn giải đơn giản chỉ bằng tiền lương '
Các sinh vật luôn tìm cách nhận được nhiều hơn với ít công sức nhất. Mặc dù điều này dường như rất hiển nhiên, nhưng nó lại phản đối lý thuyết 'Contrafreeloading'. Thuật ngữ này được Glen Jensen, một nhà tâm lý học động vật, đưa ra sau khi quan sát rằng các loài động vật (như chim, cá và khỉ) thích nhận được thưởng sau khi hoàn thành một nhiệm vụ hơn là nhận thức tự do mà không phải làm gì cả.
Quan sát này cũng cho thấy rằng con người không chỉ làm việc vì tiền. Trong một nghiên cứu khác, hai nhóm tình nguyện viên được trả tiền để chơi Lego và có thể rời khỏi bất cứ lúc nào. Nhóm đầu tiên được giữ lại sản phẩm của họ sau mỗi lần hoàn thành, trong khi nhóm thứ hai lại chứng kiến sản phẩm của họ bị phá hủy. Những người trong nhóm thứ hai có xu hướng rời khỏi cuộc thí nghiệm sớm hơn so với nhóm thứ nhất.
Thông qua nghiên cứu này, chúng ta thấy rằng sự mất động lực làm việc xuất phát từ việc sản phẩm của chúng ta bị đánh giá thấp. Chúng ta không cảm thấy thoải mái khi công sức của mình không được đánh giá cao.
Chúng ta luôn tìm kiếm giá trị sâu bên trong công việc của mình và luôn cảm thấy thất vọng khi phải làm những công việc đơn giản.
Adam Smith đã thiết lập hệ thống dây chuyền sản xuất, nơi mỗi người thực hiện một phần nhỏ của sản phẩm lớn hơn, nhưng Karl Marx đã chỉ trích hệ thống này vì làm cho người lao động mất liên kết với công việc của họ. Theo Marx, việc phân chia lao động ngăn cản người lao động tìm thấy mục đích và danh tính thông qua lao động, giống như những công nhân chỉ làm một phần của ô tô mà không có sự hài lòng.
' BỐN: Chúng ta thường đánh giá cao thành tựu của mình hơn so với người khác '
Bạn có tự hào khi lắp ráp một chiếc kệ IKEA không? Bạn đã bỏ công sức vào đó, vậy bạn có tự thưởng cho mình những suy nghĩ tích cực không?
Trên thực tế, chỉ cần một chút công sức cũng có thể khiến bạn tự hào về bản thân.
Vào những năm 1940, gói bột chế biến sẵn chưa từng được ưa chuộng và không làm nức lòng các bà nội trợ. Tuy nhiên, mọi thay đổi khi hãng Pullsbury loại bỏ trứng khỏi bột và khuyến khích mọi người tự thêm trứng tươi vào. Doanh số bán hàng tăng đột biến: Việc đánh trứng vào bột đã biến món bánh ngọt thành một công việc tinh tế hơn nhiều lần.
Ví dụ trên cho thấy sức mạnh của sự thiên lệch trong việc người lao động đánh giá sản phẩm của mình.
Chúng ta thường đánh giá quá cao sản phẩm của mình. Nếu bạn có con, bạn sẽ nghĩ rằng chúng là đứa trẻ xuất sắc nhất trên thế giới, giống như tất cả các bậc phụ huynh khác đánh giá con của mình. Xu hướng phi lý trí này cũng thể hiện trong nền kinh tế, khi các công ty cho phép khách hàng tự thiết kế sản phẩm theo ý muốn. Converse.com cho phép người dùng tự thiết kế đôi giày của họ với các chất liệu và màu sắc khác nhau. Họ sử dụng sự thiên lệch này để làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của họ độc đáo và đặc biệt nhất.
Tuy nhiên, không phải lúc nào nỗ lực cũng khiến người ta cảm thấy tuyệt vời về công việc của mình. Chúng ta cần phải đạt đến mức hoàn thiện để có thể nhìn nhận sản phẩm của mình một cách tích cực, nếu không sự hứng thú khi đạt được mục tiêu sẽ biến mất hoàn toàn. Hãy nghĩ về tình yêu: Nếu người bạn yêu tạo ra nhiều trở ngại trên đường chinh phục bạn, bạn sẽ đánh giá cao người đó hơn. Tuy nhiên, nếu người đó liên tục gây cản trở cho bạn, không cho bạn đạt được mục tiêu cuối cùng, bạn sẽ dần mất niềm tin và hứng thú với người đó.
' NĂM: Khả năng thích nghi của chúng ta là nguyên nhân khiến chúng ta trở thành những công dân hạnh phúc, hoặc, là những tín đồ nghiện mua sắm '
Bạn đã bao giờ nghĩ rằng bạn hoàn toàn phụ thuộc vào những thói quen, vào bản chất của bản thân chưa? Thực tế cho thấy bạn linh hoạt hơn nhiều so với bạn tưởng.
Loài người có khả năng thích ứng với vô số tình huống khác nhau. Mọi cảm xúc mà chúng ta trải qua đều đưa chúng ta đến những trải nghiệm đa dạng, nhưng sau một thời gian, chúng ta sẽ thích ứng và mọi thứ trở nên quen thuộc.
Một nghiên cứu nổi tiếng chỉ ra rằng, ngay cả khi một người trúng số đột ngột có được tài sản, họ sẽ trở lại mức độ hạnh phúc tương tự như trước khi trúng số, dù niềm vui ban đầu có lớn đến đâu.
Bản chất của khả năng thích nghi là một bộ lọc giúp chúng ta lọc ra những thay đổi và nguy cơ trong môi trường của chúng ta. Nếu bạn nằm dài cả ngày và ngửi thấy mùi khói, bạn sẽ phải dậy để xác định mùi khói đến từ đâu.
Dựa trên nguyên lý tương tự, chúng ta thích nghi với những kỳ vọng, trải nghiệm và cảm xúc mới: Ban đầu bạn có thể cảm thấy lạ lẫm với sàn gỗ mới trong căn nhà bạn mới mua, nhưng chỉ sau vài tuần, sự lạ lẫm đó sẽ biến mất hoàn toàn.
Sự thích nghi đó cũng ảnh hưởng đến thói quen mua sắm của chúng ta, khi chúng ta cảm thấy chán chường với những gì hiện có. Đối với những người không nhận ra bản chất của khả năng thích nghi, họ sẽ tiếp tục mua sắm nhiều hơn và hy vọng rằng những thứ đó sẽ làm họ hạnh phúc hơn.
Chúng ta có thể tự thích nghi với những điều tích cực và cả những điều tiêu cực. Vì vậy, để sử dụng khả năng thích nghi một cách tích cực, chúng ta cần duy trì quá trình thích nghi với cả những điều tiêu cực, và đồng thời tạo ra những tác động tích cực cho hành vi của chúng ta.
Những tác động nhỏ có thể làm chúng ta ngừng thích nghi, vì vậy chúng ta không nên để những trải nghiệm xấu trở nên gián đoạn: nếu bạn phải dọn dẹp nhà kho, đừng dừng lại mỗi năm phút - điều này sẽ làm cho công việc trở nên gánh nặng. Tương tự, nếu bạn đang trong một mối quan hệ lâu dài, hãy tạo ra những thay đổi, làm mới mối quan hệ đó và bạn sẽ thấy những kết quả không ngờ.
' SÁU: Khả năng thích nghi của chúng ta giúp chúng ta lựa chọn đối tượng hẹn hò '
Chắc bạn đã nghe câu 'Chó nào giơi nấy bèo'. Điều này rất quan trọng khi bạn hẹn hò: những người đẹp sẽ hẹn hò với nhau, và những người không quá đẹp như tôi sẽ hẹn hò với những người có nhan sắc tương tự.
Hiện tượng này được gọi là Hôn nhân chọn lọc (Assortative mating)
Một ví dụ điển hình là: giả sử bạn tham gia một buổi tiệc, mỗi người được gắn với một con số từ 1 đến 10 tương ứng với sự hấp dẫn của họ, nhưng chính họ không biết mình được bao nhiêu điểm, chỉ có người khác mới biết điểm số của họ. Trong thí nghiệm đó, nếu bạn được 6 điểm, bạn sẽ cố gắng hẹn hò với người có điểm số cao nhất mà bạn có thể.
Ban đầu bạn sẽ cố gắng tiếp cận những người được 10 điểm, 9 điểm, 8 điểm nhưng cuối cùng bạn sẽ chỉ tiếp được người cũng có 6 điểm như bạn. Trong quá trình đó, bạn đã phải thích nghi bằng cách giảm tiêu chuẩn của mình.
Đối với những người trước đó được 10 hoặc 9 điểm, nếu họ bị gán cho điểm số 6, bạn sẽ bắt đầu chú ý đến những khiếm khuyết ngoại hình của họ, chẳng hạn như tai to hoặc răng khểnh.
Vậy nên, có những người sẽ chú trọng vào vẻ đẹp bên trong hơn là ngoại hình, dù những phẩm chất này ít khi hiện ra ngay từ lần gặp đầu tiên. Tính tốt bụng có thể thay thế những tiêu chí về hình thể nếu bạn không thuộc dạng xinh đẹp.
Tác giả đã chứng minh luận điểm của mình thông qua những cuộc hẹn hò siêu tốc. Những người không có ngoại hình nổi bật nhưng tính cách vui vẻ nhận được nhiều lời mời từ những người có ngoại hình trung bình, trong khi những người hấp dẫn hơn thì hẹn hò với nhau.
' BẨY: Các trang hẹn hò trực tuyến gặp khó khăn '
Đừng dùng các trang hẹn hò trực tuyến để tìm kiếm tình yêu chân thành, đó là lời khuyên của Dan Ariely, tác giả của cuốn sách này.
Hãy nhìn vào 'thị trường' hẹn hò. Ở trong thị trường này, các trang hẹn hò giúp người ta tìm kiếm đối tác phù hợp, nhưng bạn sẽ phải dành rất nhiều thời gian và nỗ lực để tham gia vào đó. Hãy tưởng tượng hẹn hò trực tuyến giống như việc đi siêu thị: ở đó có tất cả mọi thứ bạn cần, từ thịt, bánh... và cũng có một kệ hàng tình yêu.
Tuy nhiên, mỗi thị trường đều có đặc thù riêng. Ví dụ, ở các cơ quan, trường học... những người trẻ thường di chuyển nhiều về mặt địa lý và vị trí xã hội, họ chưa ổn định để tìm kiếm mối quan hệ lâu dài. Do đó, sau khi họ tốt nghiệp và đi làm, họ có rất ít thời gian để tìm kiếm người đồng hành cho cuộc đời.
Trước tình hình như vậy, hẹn hò trực tuyến đã nên phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhưng ngạc nhiên thay, các trang hẹn hò trực tuyến thường thất bại nặng nề trong việc kết nối khách hàng với nhau.
Tác giả phát hiện rằng, một người sử dụng các trang hẹn hò trực tuyến trung bình dành khoảng 5.2 giờ mỗi tuần để xem các hồ sơ, 6.7 giờ để gửi email cho những người tiềm năng và chỉ 1.8 giờ mỗi tuần để gặp gỡ họ trực tiếp, với kết quả không mấy khả quan.
Vậy, điều gì làm cho hẹn hò trực tuyến thất bại? Ngay từ ban đầu, khi chúng ta được yêu cầu liệt kê yêu cầu về đối tác, chúng ta đã đi theo một hướng không hợp lý. Các trang web yêu cầu chúng ta chọn màu tóc, thu nhập, bộ phim yêu thích v.v., nhưng chúng ta không thể đánh giá một người dựa trên những tiêu chí đó. Các bảng kiểm tra không thể nói lên điều gì về cảm xúc khi ở bên một người.
Chúng ta không phải là những hộp kiểm được ghép ráp lại. Vì vậy, chúng ta cần cẩn thận hơn khi tiếp cận hẹn hò, cho dù đó là trực tuyến hay trực tiếp.
' TÁM: Sự đồng cảm của chúng ta thường không đồng đều, nhưng không phải vì vô lý '
Tại sao chúng ta dễ dàng cho vay tiền cho những người thân yêu, nhưng lại do dự khi phải ủng hộ những người gặp khó khăn...
Hầu hết mọi người đều cảm động khi nghe về một bé gái rơi từ tòa nhà cao tầng, nhưng lại lãnh đạm khi nghe về cái chết của 800.000 người Rwanda. Điều này là minh chứng cho câu nói nổi tiếng của Stalin: 'Một người chết là một thảm họa, nhưng hàng ngàn người chết chỉ là một thống kê'.
Các nhà xã hội học gọi hiện tượng này là: Hiệu ứng nạn nhân hữu danh.
Nói một cách khác, chúng ta dễ cảm thông với những người mà chúng ta biết danh tính, nhìn thấy hình ảnh của họ và biết về họ, nhưng lại ít cảm thông với những thông tin về một nhóm lớn người có thể bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, nguyên nhân của hiện tượng này chính là sự gần gũi của chúng ta với nạn nhân: đó không phải là vấn đề về khoảng cách, mà là về sự liên kết với những người cùng một cộng đồng xã hội với chúng ta.
Nguyên nhân thứ hai là sự sống động. Nếu một ai đó nói rằng họ bị gãy chân, bạn sẽ không cảm thông nhiều. Nhưng nếu họ kể chi tiết về nỗi đau lan rộng từng phần của cơ thể khi xương chân gãy, bạn sẽ cảm thông nhiều hơn với họ.
Chắc bạn đang nghĩ: Tình cảm không đủ, cần phải có lý trí, phải không?
Rất tiếc là, chúng ta không được trời ban cho khả năng quan tâm đến những sự kiện kinh hoàng xảy ra ở xa chúng ta, đối với những người mà chúng ta không quen biết.
Vì vậy, nếu muốn góp phần vào sự tích cực của xã hội, bạn cần phải hành động không theo lý trí để có thể nhìn thấy khó khăn của những người không ở gần bạn.
' CHÍN: Sự giận dữ rồi qua nhưng cảm xúc tiêu cực lại ở lại lâu dài '
Khi nào bạn lên tiếng lên vì ai đó khiến bạn tức giận gần đây nhất? Dù cơn giận có trôi qua và biến mất rất nhanh, nhưng những thói quen xấu bên trong chúng ta thường được kích thích mà không chúng ta không nhận biết.
Hãy tưởng tượng, bạn bị ai đó đẩy nhẹ trên đường đi làm và ngay lập tức bạn trút giận bằng những lời trách móc, thì lần sau khi tình huống đó tái diễn, hầu như bạn sẽ phản ứng tương tự. Hiện tượng này xảy ra vì chúng ta thường dùng những hành động trong quá khứ làm tiêu chuẩn cho hành động hiện tại. Bộ não hiểu rằng những gì chúng ta đã làm trước đó là đúng, và chúng ta nên làm theo.
Mọi thứ đều bắt đầu từ ký ức về cảm xúc tiêu cực của chúng ta. Bạn có nhớ được cảm giác của mình vào lúc 6 giờ tối hôm qua không? Ký ức về hành vi thường chiếm ưu thế so với ký ức về cảm xúc, vì vậy, khi mắng bạn bè hoặc không lịch sự với đồng nghiệp, chúng ta thường lặp lại hành vi đó.
Bộ não, dựa trên cảm xúc (mà chúng ta thường không nhớ), sẽ tạo ra thói quen cho chúng ta, đến mức chúng ta không thể giải thích nguồn gốc của chúng. Vì vậy, chúng ta nên dành thêm thời gian suy nghĩ về những hành động sẽ làm.
Nếu lần sau con của bạn gây ra cơn tức giận, hãy cố gắng giữ bình tĩnh để ngăn ngừa những tổn thương ngắn hạn và dài hạn cho cả bạn và đứa trẻ. Làm mất bình tĩnh có thể khiến chúng khóc và khiến bạn buồn, nhưng cũng tạo ra thói quen mỗi khi bạn tức giận.
'MƯỜI: Phần kết'
Thông điệp chính của cuốn sách:
Con người thường nghĩ rằng chúng ta là những sinh vật lý trí, nhưng thực tế lại chứng minh ngược lại, đặc biệt khi chúng ta đối mặt với những quyết định khó khăn. Trong những tình huống đó, sự thiên lệch thường xuyên xuất hiện, khiến chúng ta hành động không như ý muốn của mình. Để đưa ra quyết định đúng đắn, chúng ta cần nhận ra sự không hợp lý và chấp nhận nó.
Gợi ý thêm: Tâm Lý Phi Lý Trí
Cuốn sách Tâm Lý Phi Lý Trí phân tích những hành vi không hợp lý của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Tại sao chúng ta quyết định tuân thủ chế độ ăn kiêng nhưng lại bỏ cuộc khi gặp thức ăn hấp dẫn. Tại sao mẹ lại cảm thấy bị tổn thương khi bạn chi tiền ra để trả tiền bữa ăn mà bà chuẩn bị. Tại sao những phương pháp giảm đau trong y tế lại hiệu quả hơn khi nạn nhân tin rằng chúng đắt hơn. Tác giả sẽ khám phá và giải thích lý do và quy luật đằng sau những hiện tượng này thông qua một loạt các thí nghiệm và thống kê.
Mytour (Trạm Đọc)
