Lý thuyết và bài tập về truyền thuyết
Lý thuyết về truyền thuyết
1. Lý thuyết truyền thuyết
|
Yếu tố |
Truyền thuyết |
|
Khái niệm |
Là loại truyện dân gian kể về các sự kiện và nhân vật ít nhiều có liên quan đến lịch sử, thông qua sự tưởng tượng, hư cấu |
|
Cốt truyện |
- Thường xoay quanh công trạng, kì tích của nhân vật mà cộng đồng truyền tụng tôn thờ - Thường sử dụng yếu tố kì ảo nhằm thể hiện tài năng, sức mạnh khác thường của nhân vật - Cuối truyện thường gợi nhắc các dấu tích xưa còn lưu lại đến hiện tại |
|
Mạch truyện |
Thường kể theo mạch tuyến tính (có tính chất nối tiếp, theo trình tự thời gian). Nội dung thường gồm ba phần gắn với cuộc đời của nhân vật chính; hoàn cảnh xuất hiện và thân thế; chiến công phi thường; kết cục |
|
Nhân vật |
- Thường có những điểm khác lạ về lai lịch, phẩm chất, tài năng, sức mạnh… - Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng - Được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ |
|
Lời kể |
Cô đọng, mang sắc thái trang trọng, ngợi ca, có sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật nhằm gây ấn tượng về tính xác thực của câu chuyện |
|
Yếu tố kì ảo |
- Là những hình ảnh, chi tiết kì lạ, hoang đường, là sản phẩm của trí tưởng tượng và nghệ thuật hư cấu dân gian. - Thường được sử dụng khi cần thể hiện sức mạnh của nhân vật truyền thuyết, phép thuật của thần linh |
2. Khái quát nội dung chính của các văn bản
|
Văn bản |
Tóm tắt |
Nội dung chính |
Giá trị nghệ thuật |
|
Thánh Gióng |
Đời Hùng Vương thứ sáu, làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ, phúc đức nhưng không có con. Một hôm bà vợ ra đồng ướm vào vết chân to, về nhà thụ thai. Mười hai tháng sau sinh cậu con trai khôi ngô. Lên ba tuổi mà chẳng biết đi, không biết nói cười. Giặc xâm lược, nhà vua chiêu mộ người tài, cậu bé cất tiếng nói yêu cầu vua rèn roi sắt, áo giáp sắt, ngựa sắt để đánh giặc. Cậu ăn khỏe, lớn nhanh như thổi. Cả làng phải góp gạo nuôi. Giặc đến, chú bé vùng dậy, vươn vai biến thành tráng sĩ, giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt xông ra đánh tan giặc, roi sắt gãy tráng sĩ nhổ những cụm tre quật giặc. Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi cởi bỏ giáp sắt cùng ngựa bay lên trời. Nhân dân nhớ ơn lập đền thờ, giờ vẫn còn hội làng Gióng và các dấu tích ao hồ. |
Truyện Thánh Gióng ca ngợi tình yêu nước, tinh thần bất khuất chiến đấu chống giặc ngoại xâm vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam thời cổ đại. |
- Xây dựng nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo tạo nên sức hấp dẫn cho truyền thuyết. - Nghệ thuật nói quá, so sánh. |
|
Sự tích Hồ Gươm |
Thời giặc Minh đô hộ, Lê Lợi dựng cờ tụ nghĩa tại Lam Sơn được Đức Long Quân cho mượn thanh gươm thần giết giặc. Người đánh cá Lê Thận ba lần kéo lưới đều được một lưỡi gươm. Ít lâu sau, Lê Lợi bị giặc đuổi, chạy vào rừng thấy cây gươm nạm ngọc, tra vào lưỡi gươm nhà Lê Thận thì vừa như in, mới biết đó là gươm thần. Nhờ có gươm thần, nghĩa quân đánh thắng quân xâm lược. Một năm sau, Lê Lợi đi thuyền chơi hồ Tả Vọng, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi gươm thần. Từ đó hồ Tả Vọng đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. |
Truyện Sự tích Hồ Gươm ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV. Truyện cũng nhằm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của dân tộc. |
Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng, kì ảo, giàu ý nghĩa. |
|
Bánh chưng, bánh giầy |
Lúc vua Hùng về già muốn truyền ngôi cho các con nên ra điều kiện: không kể con trưởng, con thứ, miễn ai làm vừa ý Tiên Vương sẽ được nối ngôi. Các lang đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ trên rừng dưới biển dâng cho vua cha. Riêng có Lang Liêu, người con thứ mười tám, sau khi mộng thấy thần đã làm một loại bánh hình vuông, một loại bánh hình tròn để dâng vua. Vua vô cùng hài lòng mang bánh lễ Tiên Vương, và được kế ngôi vua. Từ đó, bánh chưng, bánh giầy trở thành lễ vật không thể thiếu trong dịp Tết lễ. |
Truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy” vừa giải thích nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy vừa phản ánh thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầu dựng nước với thái độ đề cao lao động, đề cao nghề nông và thể hiện sự tôn kính Trời, Đất và tổ tiên của nhân dân ta. |
- Sử dụng các chi tiết tưởng tượng kì ảo. - Lối kể chuyện dân gian: theo trình tự thời gian. |
Đề bài
Câu 1: Đọc đoạn văn dưới đây và hoàn thành các yêu cầu sau:
“Lúc ấy giặc Ân đến xâm phạm lãnh thổ nước ta. Giặc mạnh, vua lo lắng, đã gửi sứ giả ra mọi nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Một đứa trẻ nghe thấy tiếng rao, đột nhiên nói lên: “Mẹ ơi, hãy mời sứ giả vào đây”. Sứ giả đến, đứa trẻ nói: “Ông về báo với vua, sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ đánh bại đám giặc này”. Sứ giả vừa ngạc nhiên, vừa vui mừng, vội vã quay về thông báo với vua. Vua ra lệnh cho thợ làm chế tạo ngày đêm những vật mà đứa trẻ đã yêu cầu”.
a. Xác định phương thức diễn đạt chính của đoạn văn trên.
b. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Nhân vật chính là ai?
c. Ý nghĩa của chi tiết: “Tiếng nói đầu tiên của cậu bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc” là gì?
Câu 2: Đọc đoạn văn dưới đây và trả lời các câu hỏi sau:
“Giặc đã đến chân núi Trâu. Tình hình nước nhà rất nguy, mọi người đều hoảng loạn. Đúng lúc đó, sứ giả mang theo ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt tới. Cậu bé bỗng nhiên đứng dậy, vươn vai một cái, biến thành một tráng sĩ mạnh mẽ, cao lớn hơn trường. Tráng sĩ bước lên và đánh vào mông ngựa. Ngựa kêu rên vang xa. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa bay thẳng đến nơi có giặc đóng đầu chúng, đánh giết hết từ lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bất ngờ roi sắt gãy. Tráng sĩ nhanh chóng nhổ những cụm tre bên đường, quật vào giặc. Giặc tan nát. Đám quân thua cuộc chạy tán loạn, tráng sĩ đuổi theo đến chân núi Sóc. Khi đến đó, chỉ có một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi áo giáp rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời.”
a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác phẩm đó thuộc thể loại gì?
b. Xác định người kể và phương thức diễn đạt chính của đoạn văn trên.
c. Chi tiết: “Chú bé đứng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trướng, oai phong, lẫm liệt” có ý nghĩa gì?
d. Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
Câu 3: Đọc đoạn văn dưới đây và trả lời các câu hỏi sau:
… “Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một ngày Lê Lợi – bấy giờ đã làm vua – cưỡi thuyền rồng đi dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân dịp đó, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên trên mặt nước. Theo lệnh của vua, thuyền chậm lại. Đứng ở nơi bến thuyền, vua nhìn thấy lưỡi gươm thần đang đeo bên người tự nhiên di động. Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu cao hơn nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng trên mặt nước và nói: “Xin bế hoàng giơm cho Long Quân!”.
Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa nhả miệng đớp thanh gươm và lặn xuống. Gươm và rùa đã chìm xuống đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng loái dưới mặt hồ xanh. Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.”…
a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác phẩm đó thuộc thể loại truyền thuyết hay cổ tích?
b. Đoạn văn trên kể về sự kiện gì?
c. Hãy chỉ ra yếu tố tưởng tượng kì ảo và cốt lõi lịch sử trong đoạn văn trên
d. Ngoài tác phẩm được trích trên, hãy kể tên 2 truyền thuyết mà bạn biết có sự xuất hiện của nhân vật Lạc Long Quân hoặc Rùa Vàng
Câu 4: Truyện Sự tích Hồ Gươm có các chi tiết: quân Minh xâm lược nước ta (I); Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (II); Lê Thận kéo lưới được lưỡi gươm báu (III/0; Lê Lợi lấy được chuôi gươm nạm ngọc (IV); trong tay Lê Lợi, thanh gươm làm cho quân Minh sợ hãi (V); Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm (VI); Lê Lợi trả lại gươm ở hồ Tả Vọng (VII); hồ Tả Vọng được đổi tên thành Hồ Gươm (VIII). Hãy đọc kỹ văn bản và trả lời các câu hỏi:
a) Trong số những chi tiết trên, chi tiết nào mang tính chất tưởng tượng? Vì sao?
b) Trong số những chi tiết trên, chi tiết nào phản ánh hiện thực? Tại sao?
c) Nếu loại bỏ các chi tiết tưởng tượng trên, cốt truyện sẽ thay đổi như thế nào?
Câu 5:
Đọc đoạn văn dưới đây và thực hiện các yêu cầu phía dưới:
“Ngày lễ Tiên vương, các lang đem đến đủ loại bánh ngon như sơn hào hải vị, nem công, chả phượng, không thiếu bất cứ thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất hài lòng, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu kể lại giấc mộng gặp thần của mình. Vua cha suy nghĩ lâu sau đó chọn hai loại bánh ấy để cúng tế Trời, Đất và Tiên vương”
a. Xác định phương thức diễn đạt chính của đoạn văn?
b. Xác định các từ theo cấu tạo trong câu sau: “Lang Liêu kể lại giấc mộng gặp thần của mình”
c. Hai loại bánh trong đoạn văn trên thuộc loại bánh gì? Ý nghĩa của hai loại bánh đó.
d. Dựa vào đoạn văn trên, em hiểu thêm về đất nước, dân tộc ta thời vua Hùng như thế nào?
Câu 6: Hãy vào vai một nhân vật và kể lại câu chuyện về bánh chưng, bánh giầy
Hướng dẫn giải
Câu 1:
|
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn”. a. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên. b. Đoạn văn trên trích từ tác phẩm nào? Nhân vật chính là ai? c. Cho biết ý nghĩa của chi tiết: “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc”? |
Phương pháp:
Đọc đoạn trích, chú ý đến sự kiện được đề cập
Lời giải chi tiết:
a. Phương thức biểu đạt chính: tự sự
b. Đoạn văn trích từ tác phẩm Thánh Gióng
Nhân vật chính trong truyện là Thánh Gióng
c. Ý nghĩa chi tiết: “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc”
- Khen ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước trong hình tượng Gióng
- Ý thức đánh giặc cứu nước tạo cho anh hùng những khả năng hành động đặc biệt, thần kỳ
- Gióng là biểu tượng của nhân dân, khi bình thường thì im lặng, lặng lẽ. Nhưng khi nước nhà có kẻ thù ngoại xâm thì họ tỉnh táo lên cứu nước.
Câu 2:
|
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: “Giặc đã dến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc đóng đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại rồi cả người lẫn ngựa đều bay thẳng lên trời.” a. Đoạn văn trên trích trong văn bản nào? Văn bản ấy thuộc thể loại gì? b. Xác định ngôi kể và thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. c. Chi tiết: “Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt” có ý nghĩa gì? d. Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
a.
- Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm Thánh Gióng.
- Văn bản đó thuộc thể loại: truyền thuyết
b.
- Người kể thứ ba
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự
c. Chi tiết: “Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt” mang ý nghĩa: thể hiện quan niệm của người xưa, anh hùng cần có sức mạnh về thể xác để có đủ khả năng chiến đấu và đánh bại kẻ thù.
d. Nội dung chính: Tráng sĩ (Thánh Gióng) ra trận đánh giặc, đánh bại giặc và bay lên trời.
Câu 3:
|
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: … “Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi – bấy giờ đã làm vua – cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân dịp đó, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi thuyền rồng tiến ra đến giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy. Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi lên trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm cho Long Quân!”. Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp thanh gươm và lặn xuống. Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.”… a. Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Văn bản là truyền thuyết hay cổ tích? b. Đoạn văn trên kể về sự việc gì? c. Em hãy chỉ ra yếu tố tưởng tượng kì ảo và cốt lõi lịch sử trong đoạn văn trên d. Ngoài văn bản được trích trên, em hãy kể tên 2 truyền thuyết mà em biết có sự xuất hiện của nhân vật Lạc Long Quân (Long Quân, Đức Long Quân) hoặc Rùa Vàng (Rùa thần, Thần Kim Quy) |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
a.
- Đoạn văn trên được lấy từ văn bản Sử thi Hồ Gươm
- Văn bản thuộc thể loại truyền thuyết
b. Đoạn văn kể về sự việc: Đức Long Quân sai sứ giả lên đòi lại thanh gươm / hoặc Lê Lợi trả gươm cho Đức Long Quân.
c.
- Yếu tố tưởng tượng kì ảo: lưỡi gươm tự nhiên động đây, Rùa Vàng biết nói
- Tâm điểm lịch sử trong đoạn văn trên: giặc Minh, Lê Lợi, địa danh hồ Tả Vọng – hồ Gươm – hồ Hoàn Kiếm
d. Một số truyện truyền thuyết có sự xuất hiện của nhân vật Lạc Long Quân (Long Quân, Đức Long Quân) hoặc Rùa Vàng (Rùa thần, Thần Kim Quy) là: Con Rồng cháu Tiên; Sự tích An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy;…
Câu 4:
|
Truyện Sự tích Hồ Gươm có các chi tiết: quân Minh sang xâm lược nước ta (I); Lê Lợi khởi nghĩa Ở Lam Sơn (II); Lê Thận kéo lưới được lưỡi gươm báu (III/0; Lê Lợi lấy được chuôi gươm nạm ngọc (IV); trong tay Lê Lợi, thanh gươm làm cho quân Minh bạt vía (V); Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm (VI); Lê Lợi trả gươm Ở hồ Tả Vọng (VII); hồ Tả Vọng được mang tên Hồ Gươm (VIII). Hãy đọc kĩ văn bản và trả lời các câu hỏi: a) Trong các chi tiết trên, chi tiết nào có tính chất kì ảo? Vì sao? b) Trong các chi tiết trên, chi tiết nào có tính chất hiện thực? Vì sao? c) Nếu lược bỏ các chi tiết kì ảo trên, câu chuyện sẽ như thế nào? |
Phương pháp:
Đọc kỹ văn bản Sử thi Hồ Gươm
Lời giải chi tiết:
a.
– Các chi tiết mang tính tưởng tượng: Lê Thận kéo lưới được lưỡi gươm báu (III); Lê Lợi lấy được chuôi gươm nạm ngọc (IV); trong tay Lê Lợi, thanh gươm làm cho quân Minh bạt vía (V); Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm (VI); Lê Lợi trả gươm cho Rùa Vàng Ở hồ Tả Vọng (VII).
– Lý do: Đó là các chi tiết được sáng tạo, không có trong lịch sử thực.
b. Các chi tiết thực tế: Quân Minh sang xâm lược nước ta (I); Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (II); hồ Tả Vọng được đổi tên thành Hồ Gươm (VIII).
– Nguyên nhân: Đó là những chi tiết có căn cứ trong sự thật lịch sử.
c. Nếu loại bỏ những chi tiết tưởng tượng, câu chuyện sẽ trở nên ít hấp dẫn.
Câu 5:
|
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Đến ngày lễ Tiên vương, các lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng tới, chẳng thiếu thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, đất cùng Tiên vương” a. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn? b. Xác định các từ theo cấu tạo trong câu sau: “Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại” c. Hai thứ bánh trong đoạn văn trên là loại bánh nào? Ý nghĩa của hai loại bánh ấy. d. Qua văn bản chưa đoạn văn trên, em hiểu biết thêm gì về đất nước, dân tộc ta thời vua Hùng? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích
Giải thích chi tiết:
a. Cách thức biểu hiện chính: Tự kể.
b. “Lang Liêu/ mang/ giấc mơ/ gặp /thần/ kể/ lại”
Từ đơn: mang, gặp, thần, kể
Từ ghép: Còn lại
c. Hai loại bánh đó là bánh chưng và bánh giầy
- Ý nghĩa:
+ Ý nghĩa thực tế: Tôn vinh công lao của người nông dân.
+ Ý nghĩa sâu xa: Biểu tượng của sự kết nối giữa Trời và Đất, của tất cả mọi sinh linh, thể hiện ý nghĩa tương hỗ.
d.
- Truyền thống yêu nước và đối phó với thù địch ngoại xâm của cộng đồng dân tộc.
- Giai đoạn đất nước ta phát triển kinh tế, người dân tự sản xuất lương thực để duy trì cuộc sống.
- Tiếp cận sâu sắc hơn với văn hóa dân tộc, biết ơn Trời đất và tổ tiên thông qua các nghi lễ tế thần.
Câu 6:
|
Hãy đóng vai một nhân vật tự kể về sự tích truyện Bánh chưng, bánh giầy |
Hướng dẫn giải:
Đọc kỹ văn bản Bánh chưng, bánh giầy, xác định các sự kiện trong truyện và đảm nhận vai nhân vật
Lời giải chi tiết:
Các sự kiện chính trong văn bản về bánh chưng bánh giày là:
- Vua Hùng khi lớn tuổi muốn chọn người kế vị
- Vua có hai người con, không biết phải chọn ai làm người kế vị nên đã đưa ra thách đố
- Các lang tranh nhau làm mâm cỗ ngon đẹp mong được vua cha ưa thích
- Lang Liêu, con trai thứ mười tám, là người khổ nhất, làm nghề trồng lúa, buồn vì không biết dùng gì để cúng Tiên Vương
- Được thần gợi ý, Lang Liêu sử dụng gạo để làm hai loại bánh
- Bánh của Lang Liêu được chọn làm tế trời đất cũng Tiên vương và được vua cha truyền ngôi.
Tài liệu tham khảo:
Trong những kỷ niệm về ngày tết, tôi không thể quên nổi nguồn gốc, câu chuyện của mình. Lúc xưa, khi vị vua hiền lành còn trẻ, tôi luôn biết trân trọng, tuân thủ, và thương yêu mọi người xung quanh. Khi thời gian trôi qua và tôi đã già, không biết ai sẽ kế vị, vua quyết định thử lòng các con bằng cách yêu cầu họ chuẩn bị quà đại thọ. Người con trai nào biết cách chọn quà phong phú nhất sẽ được kế vị ngai vàng. Mọi người đi khắp nơi tìm kiếm những món quà đặc biệt, từ những con cá đến những con rắn, từ hải sản đến thịt voi,... Nhưng tôi lại không biết làm gì cho đúng. May mắn thay, tôi nhận được sự giúp đỡ từ một giấc mơ và từ đó, tôi đã tạo ra một món ăn đặc biệt. Khi vua biết được điều này, ông rất vui và quyết định truyền ngai vàng cho tôi. Ngày tôi lên ngôi cũng chính là ngày mà những chiếc bánh chưng và bánh giày ra đời và ngày nay, chúng vẫn là một phần không thể thiếu trong các dịp lễ tết.
