1. Ký ức bên lũy tre xanh
Cây tre xanh,
Xanh mãi bao giờ?
Chuyện ngày xưa… như bờ tre xanh (*)
Hàng tre sau nhà, dáng vẻ như từ lúc nào, đã trở thành nơi lưu giữ hồn xưa và ký ức ngọt ngào của tuổi thơ. Nơi đó là nhà cũ của ông bà nội, với hình ảnh lũy tre xanh rì rào, làm mát tâm hồn và tiếng kẽo kẹt như là tiếng võng của mẹ ngày xưa.
Hàng tre sau nhà chỉ có khoảng 4-5 bụi, nhưng mỗi bụi đều to lớn, đất dưới bóng mát như được làm mềm, cứng cáp như nền nhà, làm sạch lá là có một sân mát mẻ. Những năm cấp 1, đó là thiên đường của tôi. Ngoài những buổi học, chúng tôi thường xuyên chơi dưới bóng mát của cây tre, từ buổi sáng đến tối muộn. Bụi tre trở thành thế giới riêng của chúng tôi, nơi chúng tôi chơi trốn tìm và những trận đánh giữa các đội. Dưới bóng mát tre xanh, chúng tôi có một thế giới đầy sáng tạo.
Cây tre không chỉ là đồ chơi, nó còn là nguồn cung cấp nhiều vật dụng hữu ích trong cuộc sống. Mẹ tôi thường dùng tre để làm đũa ăn hoặc chẻ lạt, làm đũa để bó mạ trong mùa cấy, hoặc làm đựng bánh trong các dịp lễ. Ba tôi lại dùng tre để làm cần câu hoặc các dụng cụ bắt cá. Bà tôi sử dụng tre để đan rổ, rá, giần, sàng… Ông tôi thậm chí còn dùng tre để làm bàn, ghế… Những bữa ăn quê nhà thêm phần phong phú với măng tre, và chúng tôi lớn lên với hương vị ấy.
Ngày trưởng thành và rời xa lũy tre làng, chúng tôi nhớ mãi mùi khói của lá tre, bà đốt để sưởi ấm mỗi sáng đông, và chiếc chõng tre mà ông tôi nằm ngâm trong cuốn Lục Vân Tiên giữa đường giữa trưa hè. Cây tre vẫn mãi xanh trong tôi, như câu hát của mẹ, và âm thanh của à ơi từ lúc nào vẫn mát lành qua từng ngày.
Kim Loan.
(*) Trích Tre Việt Nam - Nguyễn Duy.


2. Bên kia lũy tre làng
Nhớ sau lũy tre làng, những kí ức đáng nhớ tựa như những chiếc lá cây tre, che phủ bóng mẹ gánh gồng chợ búa, quạt mát đường xa...
Kỷ niệm sau lũy tre làng, ba tạo nên chiếc chõng tre để đêm hè đặt ngoài sân, bữa cơm tối gọn gàng trên chiếc chõng tre. Bát nước chè xanh đậm tình làng nghĩa xóm cũng trên chiếc chõng tre mộc mạc ân tình. Trăng thanh gió mát, nằm nghỉ trên chiếc chõng tre ngủ ngoài trời vô cùng thú vị. Rồi ba đan cái nôi tre, những chiếc rổ đựng rau, thúng đựng lúa, nơm và lồng bắt cá, tất cả đều làm từ tre tình nghĩa. Tre như người bạn thân thuộc khiến lòng trở nên ấm áp, yêu thương không biết từ bao giờ...
Sau lũy tre làng, hàng xóm cùng nhau giúp bác Sáu dựng mái nhà đầu tiên bằng tre, che chở khỏi mưa bão. Bà Kha làm vườn mướp và giàn bầu cũng bằng cây tre tình nghĩa. Mẹ đi làm đồng gặp cơn mưa dông rồi bị cảm, nồi lá xông của mẹ kiểu chi cũng có nắm lá tre xanh xanh quen thuộc.
Sau lũy tre làng, bờ tre như là những bờ rào, chia ranh giới đất đai của mỗi gia đình quê mình. Dưới bóng tre mát rượi, lũ trẻ tụ tập để chơi những trò dân gian. Chuồn chuồn đậu trên lá tre, chập chờn, lúng liếng...
Sau lũy tre làng, lũ trẻ quê mình hồn nhiên, tự do, đắm mình trong thiên nhiên trong lành, mát mẻ. Những buổi mai đầy sương, đi dắt trâu ra đồng. Những buổi chiều với chiếc diều chở đầy ước mơ, no say từ những trận mồ hôi rơi. Nhảy ùm xuống bờ kênh xanh thẳm, vẫy vùng ngụp lặn giữa không gian bao la mây trắng...
Có lẽ, trẻ quê ngày ấy chắc hẳn không đếm được bao nhiêu lần trốn mẹ, rủ nhau chạy giữa nắng hè chang chang để bắt chim cun cút trên luống đất cày, làm phanh bụng cho chuồn chuồn cắn rốn để tập bơi, mong được tắm mương tắm ao. Là leo lên hàng phi lao giữa trưa hè để đuổi bắt lũ ve kêu inh ỏi, là chia nhau đứa bắt ốc, đứa hái rau đi bán để đổi lấy kẹo xanh đỏ hay từng viên kẹo ú ngọt lịm mùi đường...
Ngày xưa, kẹo tuổi thơ có màu tuổi thơ, xanh đỏ, tím vàng, chắc để dành ăn đến cả mấy ngày. Ngon lành, lành lạnh! Cho đến bây giờ, lúc này đây, đầu môi chợt ngọt lịm hương kẹo nồng nàn của tuổi thơ xưa. Nghe văng vẳng trong lòng lời thơ của Hai-cư:
Ao xưa
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao
Khẽ khàng chạm kí ức xưa. Chạm vào “ao xưa” mà thương, mà nhớ. Đồng vọng, thiết tha thèm “một vé đi tuổi thơ”, để trở về, sau lũy tre làng, mơ tiếng tùng dinh, ngọt lành, hồn nhiên, trong trẻo...
Hoàng Thủy


3. Dưới ánh nắng vàng óng của cây tre...
Một chiều muộn bồng bềnh, lang thang giữa miền sơn cước, dưới ánh nắng vàng óng của cây tre làng. Không phải tre đàng ngà, là cây tre quê, những bụi tre đầy gai, thân ngố mắt, lá như những “mắt của trời xanh” đung đưa trong gió. Rặng tre vàng rực nổi bật dưới nắng chiều ánh vàng xen qua đỉnh núi.
Đứng nhìn rặng tre làng, tôi để ý đến cô bạn cũ đang chăm chú chụp ảnh, hòa mình vào vẻ đẹp của hoa dại. Tôi nhìn ngắm những đôi bàn chân nhỏ, nhưng có một thời là đôi chân đầu trần, dặm đất quê hương. Nàng con gái nhỏ đã trở thành người phụ nữ với những ước mơ vàng óng như những chiếc lá tre màu vàng nắng chiều.
Bước vào con ngõ nhỏ, cây tre mọc đầy hai bên, tạo nên một bức tường tự nhiên, che chắn cho đám trẻ con đi trên đường, tránh rơi xuống ao nhỏ, tránh đám trẻ rủ nhau chui vào vườn hái quả. Cành măng tre mọc lên nhọn, bẹ măng đầy lông, đâm vào da làm ngứa. Trên đầu, những ngọn tre tạo nên một vòm xanh mát, che mát cho cả những ngày nắng, cả những ngày mưa. Bờ tre nhẵn thín dành cho người ngồi hóng mát trưa hè. Bên lũy tre, người lớn ngồi làm chổi, vót nan đan rổ rá giần sàng, kể chuyện rôm rả, trẻ con vẽ ô ăn quan, chơi chắt chuyền, tiếng cười vang lên xen lẫn tiếng đồng dao chuyền một/ một đôi. Chuyền hai/ hai đôi… Câu chuyện buổi trưa kết thúc khi gió mát hiu hiu, nắng chiều tạo bóng dài xuống mặt đất. Lúc này, làng đã trở nên êm đềm khi những đôi quang gánh đầy rau, cỏ về từ đồng cấy hái, nhổ cỏ, bắt sâu…
Làng tôi từ lâu đã truyền thống nghề đan lát. Rổ rá, giần sàng, thúng mủng... mọi đồ dùng được làm từ các vật liệu khác nhau. Những chiếc rá vo gạo đủ kích cỡ phải được đan từ cây tre hóp, thân nhỏ mà gióng dài. Giần sàng để làm gạo thì phải đan từ thân cây vầu, những người đàn ông trong làng phải đi mua mãi tận vùng núi Thanh Hóa, Hòa Bình. Mỗi chuyến “đi vầu” của bố và những người làng mất ba, bốn ngày. Cơm nắm, gạo, mắm muối mang theo trong tay nải, đạp xe ròng rã năm, bảy chục cây số, vào rừng mua vầu rồi chặt xuống, pha sẵn thành những thanh nhỏ, bó thành từng bó chở về. Cây vầu gióng dài, ít mắt, chỉ lấy phần “cật” mỏng để đan thành giần sàng mảnh mà chắc chắn, dẻo hơn cả thanh nhựa ngày nay. Cái sàng xoay tròn trên tay mẹ để “lùa” những hạt thóc chưa xay hết vào một góc, cái giần đan dầy hơn để lọc những hạt gạo tấm. Những bước công đoạn: xay, giã, giần, sàng, xảy làm cho hạt gạo trắng ngần thơm dẻo. Thế nhưng, với sự phát triển của công nghiệp, những đồ dùng truyền thống đó trở nên thừa thãi. Làng tôi mất đi nghề truyền thống vì đan rổ rá dễ hơn, tre hóp sẵn có ở mọi nơi trong làng.
Cây tre trồng ở trong ngõ thường có thân to, ngắn, nhiều mắt, nhiều “bụng”, chỉ thích hợp để làm các vật dụng như cái sề, cái rổ… Ngoài ra, cây tre còn tham gia nhiều lĩnh vực trong cuộc sống: gốc, rễ tre làm củi đun, thân tre bánh tẻ làm cọc chống, cán cuốc, cành tre gai làm hàng rào, ngọn tre “cong gọng vó, kéo mặt trời lên cao”, lá tre mỏng mảnh với nhiều công dụng…
Thời thơ ấu, cây tre quen thuộc đến nỗi không còn nhớ nổi mối liên kết chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên. Đến khi trưởng thành, đi xa quê hương, khi trở về và không còn nhìn thấy cây tre xưa nữa, tôi mới ngẩn ngơ nhận ra một sợi dây mỏng manh đang rời xa, khiến con người cảm thấy lạc lõng, bơ vơ dưới bóng cây xưa.
Như chiều nay, tôi trầm ngâm khi bắt gặp rặng tre làng lung linh dưới ánh nắng vàng óng...
Sưu tầm


4. Trò chuyện với những cánh tre của làng
Xua đi những ngày đông u buồn, xám xịt, lạnh lẽo. Mùa xuân tỏa sáng như phép màu, mời nắng vàng tươi thổi hồn vào trời đất, làm cho cây cỏ xanh tươi. Từng hạt giống trong lòng đất như thức tỉnh, nảy mầm, nhú lộc, đâm chồi. Cảnh quê hương thay đổi như cô gái làng bất ngờ khoác lên mình bộ áo mới bước ra phố phường. Những ngõ tre quen thuộc với ký ức xưa, những đợt mưa phùn trên đường đất lầy, những chiếc lá vàng úa đã ra đi. Thay vào đó là những lũy tre thăng trầm thanh thoát, cùng với làn gió đồng mình tiếng hót của những chú chim buổi sớm trong lành. Biết bao kỷ niệm với những lũy tre, những cây tre trung thành với cội nguồn, sống cùng nhân dân quê tôi 'một nắng hai sương'.
Tôi bắt đầu nghĩ đến những lời bình của nhà văn Thép Mới, được trích từ bài giảng học phổ thông. Đó cũng là những dòng tâm sự về dân tộc Việt Nam thông qua hình ảnh cây tre, được ghi lại vào năm 1958 bởi Thép Mới và một đạo diễn người Ba Lan khi đến Việt Nam. Những câu văn và hình ảnh về cây tre không chỉ đẹp đẽ mà còn gần gũi, tràn đầy tình cảm, để lại trong tôi nhiều cảm xúc và dự cảm tốt đẹp: “Các em, khi lớn lên, có lẽ sẽ quen dần với sắt thép và xi măng cốt sắt. Nhưng cây tre, nứa, sẽ mãi mãi ở lại với các em, với dân tộc Việt Nam, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của những ngày mai tươi sáng, vẫn là điều kiện cần thiết để chúng ta có cuộc sống hạnh phúc, an bình. Ngày mai, trên đất nước này, sắt và thép có thể trở nên phổ biến hơn tre và nứa. Nhưng trên con đường của chúng ta, cây tre vẫn làm bóng mát cho chúng ta. Tre vẫn đưa đến âm nhạc của trái tim. Tre sẽ trở nên tươi tắn hơn khi mà chúng ta bước vào những cổng chào chiến thắng. Những đu tre vẫn hiên ngang nâng đầu lên. Tiếng sáo của đu tre vẫn cao vút mãi mãi”...
Tôi nhớ lại ngày quê hương được giải phóng, sau nhiều năm đau khổ, ba dẫn dắt mấy chị em tôi trở về quê cũ. Làng quê lúc đó, sau những năm chiến tranh đau thương, tràn ngập dấu tích của những vết đạn trên thân cây dừa trước ngôi nhà của bà nội, những cột gỗ cháy rụi, những mảnh vườn hoang, cây cỏ lạt đầu. Đêm tôi nằm trên những tấm ván cửa, khi chưa có nhà ổn định, mỗi khi nghe tiếng đất động, ba tôi lại lo lắng nói rằng bụng đất nóng quá, không thể ngủ. Tôi biết ông ấy lo lắng về mộ ông bà trên những mảnh vườn bị đất lở cuốn đi. Vì vậy, từ ngày này sang ngày khác, ba tôi kiên trì trồng cây tre ở mọi nẻo đất để giữ chặt đất. Và đúng như dự đoán của nhà văn Thép Mới, cây tre giờ ít hơn, nhường chỗ cho các công trình sắt thép xi măng có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên, cây tre vẫn gắn bó với con người, vẫn còn sống trong truyền thống, vẫn liên kết với cuộc sống của chúng ta, từ lúc mới sinh ra trong chiếc nôi tre cho đến khi nhắm mắt nằm trên chiếc giường tre, cây tre làm bạn, sống cùng chúng ta, chung thủy.
Vật dụng gần gũi nhất của cây tre chính là cây đòn gánh. Thời thơ ấu, ba tôi rất khéo léo đẽo cây đòn gánh. Mọi người trong xóm đều nhờ đến sự khéo léo của ba, đặc biệt là những người kinh doanh bán hàng rong. Bí quyết của ba tôi là tìm cây tre có gốc đẽo, không quá to, không bị kiến làm tổ trong ống cây. Phải là đoạn tre có gốc, phải có đốt đều, nếu cây dài thì bảy đốt, cây trung bình thì chín đốt… Mọi người tránh cây đòn gánh có đốt chẵn, cây đòn gánh vênh. (Cây đòn gánh có đốt chẵn sẽ không may mắn trong buôn bán, lưu thông; cây đòn gánh vênh gây đau vai và gặp nhiều rắc rối không mong muốn). Nghe đâu, về chủ đề cây đòn gánh, một nhà văn nước ngoài khi đến Việt Nam đã thích thú mô tả, nói rằng những người bán hàng rong có thể nhún nhảy sang phải, sang trái để rời khỏi ngõ. Và nhà văn ấy kết luận rằng cây đòn gánh là biểu tượng lãng mạn nhất của phương Đông.
“Lưng cây đòn gánh mòn trơn/ Lời tre khô nhắc công ơn mẹ già”. (Không rõ tác giả).
Khi cây tre đã trở thành cây đòn gánh, nó đã trở thành một phần của vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Làng quê tôi, một bên núi, một bên sông, hầu hết các cô gái trong làng đều biết cách gánh nước. Dù có thể tắm giặt ở sông, nhưng nước phải được mang về nhà để nấu ăn. Với tâm huyết, lòng nhân ái, con gái Việt Nam lớn lên đều biết cách gánh gồng, vai áo thường xơ xác là điều dễ hiểu.
Nhất là trong thời kỳ nhà tranh, phên tre được chú ý. Chuẩn bị cho ngày tết, ba tôi luôn bận rộn đốn cây tre, chẻ cây tre để đan những tấm phên tre mới. Tuổi thơ, niềm háo hức chờ đợi của tôi là chạy theo những đàn nang để có được tấm phên mới cho ngôi nhà chuẩn bị đón tết.
Nhớ về bài thơ của nhà thơ Nguyễn Duy về cây tre, một biểu tượng của linh hồn dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam mà theo tác giả của bài thơ này, có lẽ chưa có bài thơ nào hay hơn: “Tre xanh xanh tự bao giờ?/ Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh…”.
Và cây tre cũng giống như con người Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp.
“…Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù/ Vươn mình trong gió tre đu/ Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành/ Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh/ Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm…”.
Cây tre gần gũi với con người biết bao. Tre là niềm vui của trẻ thơ từ chiếc thuyền lá tre trong những ngày mưa, đến que chuyền đánh chắt. Lớn lên, cây tre nối cầu cho tình yêu của đôi lứa. Dưới bóng trăng thanh, đầu ngọn tre treo lên, các chàng trai và cô gái trao nhau những lời yêu đương, ngọt ngào: “Đêm trăng thanh, anh mới hỏi em/ Cây tre non đã đủ lá để đan chưa?”. Khi hai người đã có tình cảm, họ nói: “Lạy trời, hãy gói bánh chưng xanh/ Để mai anh lấy trúc, em lấy cây tre…”.
VÕ VĂN TRƯỜNG


5. Cây Tre và Đời Sống Làng
Làng quê của tôi thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nổi tiếng với lũy tre xanh bao bọc suốt cả năm. Cây tre ở đây không lộng lẫy như tranh vẽ phong cảnh, không quyến rũ như tre miền Trung, không to lớn như tre phương Nam, nhưng nó mang đến vẻ đẹp giản dị, chân chất, phản ánh tính cách hiền hòa của người dân quê.
Ở đây, người dân chỉ có hai người bạn thân thiết nhất, đó là lúa và tre. Lúa nuôi sống con người, còn tre bảo vệ cuộc sống yên bình, che chở cho hạnh phúc gia đình. Từ bé, tôi thường thấy lũy tre vây quanh làng, góp phần giữ cho không khí trong lành và an lành.
Ngôi nhà của tôi đã được che chở bởi những cây tre xanh, từ mái nhà rạ cho đến những đồ dùng hàng ngày như đòn gánh, giường tre. Những ngôi nhà tre giữ cho gia đình ấm cúng, là nơi tôi và những thế hệ sau có tiếng khóc chào đời, là nơi chứng kiến những khoảnh khắc hạnh phúc và yên bình.
Cây tre không chỉ đóng vai trò là vật liệu xây dựng, mà còn là biểu tượng của sự kiên trì, sức sống và tình yêu quê hương. Trải qua những cuộc kháng chiến, cây tre đã trở thành vũ khí của người dân, là biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết. Đến nay, nó vẫn là nguồn cảm hứng cho người dân nơi đây.
Cuộc sống của chúng ta gắn liền với tre, từ những công việc nông nghiệp đến đời sống hàng ngày. Tre không chỉ là vật liệu xây dựng, mà còn làm đũa, sào, gậy, rổ, giường, gánh và nhiều vật dụng khác. Nó là biểu tượng của sự bền bỉ, sự kiên nhẫn và lòng trung hiếu.
Cuối cùng, khi cuộc hành trình đời kết thúc, chiếc gậy tre trong tay con cháu sẽ là người đồng hành cuối cùng, đưa chúng ta về bên kia thế giới yên bình.
Pham Minh Giang


6. Hồi ức về lũy tre
Dừng xe, bước xuống chờ ba đón. Bầu trời rực nắng, bạn đi ngang qua con lộ, đến lũy tre xanh mát.
Ngồi dưới bóng tre, nhìn cành tre nhún nhảy, gió nhẹ hòa mình vào không gian của lũy tre xưa. Hiếm có nơi nào giữ được vẻ đẹp như thế này.
Thời thơ ấu ở quê bạn, cây tre mọc khắp mọi nơi. Bóng tre luôn hiện hữu trong mọi hướng. Nhất là lũy tre gần ngã ba, kết nối với con đường chính và cánh đồng lúa bao la. Đó là biểu tượng của quê hương bạn, với sự ấm cúng, quen thuộc.
Người dân quê bạn coi lũy tre như mái che mát trong những ngày nắng oi bức. Khi về từ ruộng, họ ngồi dưới bóng tre, nghỉ ngơi, trò chuyện, hút thuốc. Với bạn, thời thơ ấu bên lũy tre là khoảnh khắc hạnh phúc, làm phong phú và trọn vẹn cuộc sống.
Bạn nhớ những trò chơi dân gian, từ ô ăn quan, nhảy dây đến chơi chọi gà. Những lá tre to lớn sau nhà, trên đồi, bạn và bạn bè chế tạo thành côn, gậy, mỗi khúc tre làm đủ trò vui. Còn những lá tre mảnh mai làm đồ chơi, làm đò, buôn bán giữa làng.
Thời thơ ấu, nhà bạn nghèo, cuộc sống khó khăn. Ba mẹ bạn cần phải sáng tạo để kiếm sống. May mắn, ba bạn là người thợ làm đồ tre, từ những bụi tre sau nhà, ba đem về chẻ làm tăm, đũa để bán. Sự chăm chỉ và sáng tạo của ba bạn đã giúp gia đình có thêm nguồn thu nhập.
Cuộc sống phải dựa vào cây tre. Trong nồi nước gừng của mẹ, hương tre kết hợp với mùi hương của lá bưởi, lá mít tạo nên hương thơm đặc biệt. Việc gội đầu dưới bóng tre, cảm giác dịu dàng và thoải mái, hương tre làm cho mỗi sợi tóc trở nên mềm mại.
Có vẻ như cây tre sẽ tồn tại mãi với quê hương và cuộc sống chân chất. Nhưng thời đại thay đổi, công nghiệp xâm nhập vào từng ngõ ngách của làng, lũy tre cũng dần mất đi. Nhường chỗ cho những bức tường bê tông, con đường rộng lớn. Tre bị chặt để nhường đất cho những loại cây mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn.
Dưới bóng tre hiếm hoi, bạn hồi tưởng về tiếng rì rào, tiếng gió reo trong rặng tre của ngày xưa. Bạn nhớ những khoảnh khắc bình yên dưới bóng mát lũy tre, nhớ tiếng hót của những chú chim lích chích trên những cành tre.
Bạn muốn quay trở lại những kí ức thơ ấu, với những trò chơi hồn nhiên cùng đám bạn. Bạn lo sợ, không lâu nữa, trên mảnh đất quen thuộc, lũy tre xanh tươi sẽ không còn, làm sao lòng bạn giữ được chút bình yên?
Mai Hoàng


7. Ký ức xanh của làng tre
Các lũy tre bền bỉ và khiêm nhường, âm thầm tồn tại qua nhiều thế hệ. Đối với tôi, nếu làng quê thiếu đi bóng cây tre, đó như là mất mát một phần linh hồn của quê hương, làm cho bầu trời khuất mắt, tiếng hót của chim rơi vào quên lãng. Từ khi còn nhỏ, mẹ đã dạy tôi phải trân trọng, biết ơn cây tre như là một biểu tượng của quê hương. Trong ngôi nhà nhỏ ấm cúng, tôi lớn lên bên những cây tre, chúng hiện diện ở mọi nơi, mỗi chiếc đòn tre kẽo kẹt đưa tôi vào giấc ngủ, đến những chiếc đũa tre thân thuộc mỗi bữa ăn bên bếp lửa đậm nồng.
Cây tre khiến tôi nhớ về mẹ. Gánh tre cong hai đầu, mòn vẹt bởi thời gian, mẹ mang theo những gánh cá, gánh rau đi rao bán dọc con đường nhỏ của làng. Những chiếc rổ tre, thúng mủng giống như đựng cả tuổi xuân của mẹ, đựng những tháng ngày khó nhọc khi vai mẹ gánh chai dầu gió mỗi đêm.
Gần ngôi miếu làng, có một lũy tre rì rào quanh năm. Mẹ kể rằng đó là lũy tre do ông ngoại tôi trồng từ rất lâu. Lũy tre ấy luôn xanh biếc, tỏa bóng mát xuống vườn chuối thơm thảo. Đó là một phần quý giá mà ông ngoại để lại. Cha đốn vài cây tre từ lũy tre để làm nơm, lờ bắt cá. Tôi học được sự kiên nhẫn, tâm huyết, sự tỉ mỉ từ cha mỗi khi theo bước cha, nhìn cha làm những nét đan như một nghệ nhân.
Thời gian trôi, tôi rời xa vòng tay bảo bọc của cha mẹ, lũy tre làng êm đềm dần xa xôi, nhưng cây tre vẫn góp mặt trong cuộc sống đầy màu sắc, bền bỉ như người nông dân chân lấm tay bùn. Tre trở thành nơi lưu giữ ký ức bình yên, để tôi tìm lại hơi ấm quê hương khi bước chân chưa rõ đường vào xứ lạ. Làng quê giờ đây mất đi bóng cây tre xanh, nhưng ký ức và tình cảm vẫn còn mãi…
Trần Văn Thiên


8. Bóng tre đã đi về đâu?
Không ngẫu nhiên mà bài hát mở đầu cho hai ca khúc 'Làng tôi' nổi tiếng đều gắn liền với hình ảnh cây tre quen thuộc. Với Văn Cao là 'Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung' còn Hồ Bắc lại là 'Làng tôi xanh luỹ tre mờ xa, tình quê yêu thương những nếp nhà'... Thật thanh bình, đẹp đẽ biết bao nhiêu! Từ thuở thiếu thời tôi đã thuộc và hát vang hai ca khúc đó cùng với những áng văn mượt mà, đầy chất thơ trong tuỳ bút 'Cây tre Việt Nam' của Thép Mới', trong bài thơ 'Tre Việt Nam' của Nguyễn Duy. Sao Nguyễn Duy lại chọn thể thơ lục bát chứ không phải thể thơ nào khác để viết về cây tre? Phải chăng lục bát là quốc hồn, quốc tuý của dân tộc và cây tre lại là hình ảnh thân thuộc nhất, gần gũi nhất với con người Việt Nam?
Từ trong văn thơ, nhạc hoạ, từ thực tiễn cuộc sống, cây tre đã đi vào hồn tôi, một đứa trẻ trâu sau luỹ tre làng cho tới bây giờ trở thành người nửa quê, nửa phố. Còn đó tiếng mẹ, tiếng bà ru tôi bên chiếc nôi tre, võng tre kẽo kẹt giữa trưa hè. Và kia nữa, mấy con trâu cũng đang thảnh thơi nằm nhai bã trầu dưới bóng tre xanh mát rượi nơi đầu ngõ. Quên sao được tuổi thơ tôi vắt vẻo trên lưng trâu, bay bổng tiếng sáo tre, sáo trúc, rượt đuổi cánh diều lúc hoàng hôn những chỉ muốn lên chơi cùng chị Hằng chú Cuội. Cuối làng kia, đàn cò rủ nhau về tổ, đậu trắng cả ngọn tre, con bay lên, con đậu xuống tiếng cãi cọ nhau ầm ĩ cả góc làng. Đêm về, khi 'trăng lên lùa cành tre, gió thổi tiếng ru hời'... là lúc cha tôi ung dung tự tại ngồi trên chiếc chõng tre rít điếu thuốc lào khoan khoái thả khói lên trời, ngắm trăng, ngắm sao mà trù tính việc cày bừa cấy hái. Lại nữa, cái không khí háo hức đón chờ Tết đến bằng việc tối tối cha ngồi chẻ lạt, mẹ ngồi nối lạt bánh chưng đọc câu ca dao 'Lạt này gói bánh chưng xanh, Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng' thì chẳng bao giờ tôi quên được. Cái lạt tre ấy đã buộc chặt ký ức của tôi với làng.
Tôi lớn lên xa nhà đi công tác, hình ảnh luỹ tre làng vẫn chập chờn ẩn hiện trong giấc mơ của tôi. Mỗi lần về quê từ xa nhìn thấy luỹ tre xanh bao bọc xóm làng là tôi muốn chạy ào tới để được nằm khểnh vắt chân trên chiếc chõng tre, ngay dưới bới tre đầu ngõ mà thả hồn theo tiếng sáo tre, sáo trúc. Làng tôi ơi! Cây tre ơi! Sao mà đáng yêu đến thế!
Giờ đây về làng chẳng thấy bóng tre đâu! Nhà nọ nối tiếp nhà kia, mái bằng, tháp nhọn đủ kiểu. Thả bước trên con đường bê tông của làng, thấy làng quê thay đổi nhiều quá, trong sự mừng vui trong tôi thấp thoáng một nỗi buồn khó gọi thành tên. Tôi cảm thấy như thiêu thiếu một cái gì đó. Chẳng còn bờ tre, rặng chuối đâu nữa, thay vào đó là những bức tường xây kín cổng cao tường. Tre bị chặt phá gần hết để lấy đất xây cất nhà lầu, xây tường rào cắm những mảnh chai sắc nhọn. Chẳng thấy mẹ con con trâu nằm nhai bã trầu, lim dim đôi mắt, ve vảy cái đuôi dưới gốc tre hóng gió mát trưa hè sau một buổi cày bừa mệt nhọc. Cả đàn cò trắng nữa, chúng bay đâu hết cả rồi? Đâu rồi tiếng kẽo kẹt của tre mỗi khi những cơn gió thổi tới.
Tôi ngơ ngẩn ngắm những ngôi nhà hai ba tầng sừng sững kia mà thương cho những cánh dại trước hiên che mưa, chắn gió một thời? Cái chõng tre lâu năm lên nước nâu bóng loáng cũng không còn, thay vào đó là ghế gấp, giường gập các kiểu, các hãng. Cái cối xay tre giờ cũng đã thành cổ tích. Cầm sợi dây nilon để buộc các thứ mà tôi nhớ nao lòng cái lạt tre vàng óng trên gác bếp ngày ấy, nhớ cồn cào cái lạt dang gói bánh chưng xanh của mẹ ngày xưa. Mọi thứ tưởng đủ đầy sao vẫn cứ chênh chao?
Làng tôi giờ vắng lắm những bóng tre. Cây cối nhiều đấy, vườn tược có vẻ quy củ, gọn gàng đấy sao tôi vẫn cứ thấy nhớ cây tre. Những hôm trời nắng oi, làng tôi như một cục xi măng khổng lồ với cái nóng hầm hập. Lại khi bão lớn, gió cứ thông thốc thổi, hoành hành cả phố, cả làng. Những ngày đó, những người tuổi tôi bỗng nhớ luỹ tre xanh hơn bao giờ hết. Giá còn những luỹ tre che chở bao bọc xóm làng thì đâu đến nỗi oi bức, ngột ngạt hay nghiêng ngả trong gió bão như thế! Làng lên phố đồng nghĩa với sự thưa vắng của bóng tre xanh. Trong chói loá của những ngôi nhà khung nhôm kính, vẫn biết 'sẽ quen dần với xi măng và cốt sắt' (Thép Mới), quy luật sẽ thế, phải thế song tôi cứ gọi hoài đâu rồi bóng tre?
Để cho đỡ nhớ tre, tự thấy mình lẩn thẩn quá, tôi đành lẩm nhẩm đọc lại trong đầu bài 'Cây tre Việt Nam' của Thép Mới, ngâm nga điệu lục bát bài thơ 'Cây tre' của Nguyễn Duy. Bất ngờ, giai điệu của ca khúc 'Làng tôi' cũng vang lên từ hệ thống loa truyền thanh của phố. Hồ Bắc? Văn Cao? Không hề chi, miễn cứ có làng tôi xanh bóng tre là được. Ơi luỹ tre xanh! Niềm kiêu hãnh, tự hào của tôi!
Đỗ Xuân Thu


9. Dòng sôi lũy tre xưa
Tết. Khi tôi về đến đầu làng, bóng làng đã chìm trong dải ánh hoàng hôn. Làng quê hiện lên mơ hồ trong tà dương chiều, với những đường cong cong của những lũy tre mềm mại.
Làng tôi, những lũy tre xanh là bức bình phong vững chãi tâm hồn làng quê qua hàng trăm năm, ôm trọn xóm làng. Dù ở xa, nhưng hình ảnh của làng quê vẫn gần gũi với tôi, với những ký ức gắn bó với những gốc tre từ thời thơ ấu in sâu trong trái tim. Trước cửa nhà tôi một rừng tre. Đường làng rợp bóng tre. Xung quanh làng tôi là những lũy tre. Buổi sáng, mở mắt ra là thấy tre đu đưa trước nhà, và đêm đêm còn nghe tiếng tre kề nhau, tạo nên âm thanh đầy huyền bí, như những lời đồn ma quái giữa đêm.
Chiếc nón lá của bà, của mẹ, che mưa che nắng, là nơi ẩn náu những mảnh ký ức của tuổi thơ, những giấc mơ êm đềm dưới bóng tre. Cây tre làm sáo diều bay cao trong đêm trăng đầy sao, tiếng sáo như giọng bà kể chuyện những năm tháng trôi qua, nhẹ nhàng, dịu dàng ru chúng tôi vào giấc mơ trẻ thơ. Tre được chẻ nhỏ thành những sợi, đan thành những chiếc rổ, rá, nong, nia, giần, sàng… gắn bó với cuộc sống nông thôn, bền bỉ và thanh khiết, là biểu tượng của đời sống dân dụ, chất phác. Những chiếc gầu tre tát nước đêm trăng, nhưng giữa thơ Trần Đăng Khoa, nó trở thành người bạn thân thiết của tuổi thơ, góp phần tạo nên 'Hạt gạo làng ta' trong cuộc chiến chống Mỹ:
“…Hạt gạo làng ta
có công các bạn
Sớm nào chống hạn
vục mẻ miệng gầu..”
Những chiếc gầu sòng buộc dưới ba cây sào tre, dành cho những buổi tát nước, cũng làm từ tre, kết nối với đồng ruộng, với người nông dân nắng mưa. Những chiếc gầu sáo được gắn vào những cây sào tre để tát nước, như những bức tranh tươi sáng, nhẹ nhàng, trữ tình như ca dao:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”
Chiếc quang tre gánh cuộc sống nhọc nhằn của cha trên đôi vai bé nhỏ. Chiếc đòn gánh tre dẻo dai trên vai bà, vai mẹ, kẽo kẹt qua bốn mùa, chở hạt lúa, củ khoai, cõng cả mồ hôi, nước mắt, chịu đựng cả bão giông và bình yên trên con đường làng xanh mát.
Những trưa hè nóng, những chú trâu hiền lành nằm dài dưới bóng râm của tre. Dưới bóng tre, mọi người ngồi hóng mát, đợi gió mát từ cánh đồng thổi vào. Tôi yêu những hình dáng cong cong của những bụi tre trên cánh đồng. Những bụi tre gai cành đan vào nhau, tạo thành một bức tranh tươi đẹp hơn trong nắng chiều. Tre càng già càng chắc chắn, không sợ gió mưa, vẫn xanh tươi trải dài khắp cuộc sống nông dân. Mỗi sáng thức dậy, những cây tre trên mái nhà, làm cột, làm kèo, giữ cho ngôi nhà vững chãi. Tre chẻ nhỏ làm cột, cắm vào đất, làm vách nhà, tạo nên cảnh đẹp bình dị nhưng đầy ý nghĩa.
Những chiếc giường tre là những đồ vật quý giá, đưa vào các dịp lễ tết, đặc biệt là Tết cổ truyền, những chiếc giường này trở thành nơi trú ẩn cho giấc mơ ấm áp. Tre là người bạn thân thiết của ông nội, từ khi còn nằm nôi cho đến khi lão già cầm gậy tre. Tôi không thể quên hình ảnh ông nằm trên chiếc giường tre, trong ánh sáng dịu dàng của trăng. Hình ảnh này bền bỉ như mùi hương hoa bưởi, cây cầu được xây từ thời thơ ấu đến tuổi già của tôi. Những thân tre già không to nhưng óng ả, tôi cảm nhận như nguyên cả đồng quê tôi được làm từ tre. Chúng mọc chen chúc, tạo thành những lũy tre tạo nên bức tranh tươi đẹp và trữ tình của quê hương tôi.
Trong ký ức của tôi, tre không chỉ là cây cỏ, mà còn là biểu tượng của tình thân, của tuổi thơ ngọt ngào, là những đòn roi trí tuệ của cha mẹ để dạy dỗ con cái. Tre đánh đuổi giặc trong chiến tranh, sau đó làm bàn tay đắc lực cho cha mẹ già khi họ bước vào tuổi sen. Chiếc gậy tre trở thành người bạn thân thiết, làm điểm tựa cho bước chân lững thững của cha mẹ trên con đường cuối đời. Tôi nhớ những thời điểm chạy trên con đường làng, những chiếc chong chóng bằng lá dứa kết hợp với những cành tre cong cong, làm mưa làm gió trong những buổi chiều hè ấm áp. Tre không chỉ là cây cỏ, mà còn là một phần không thể thiếu trong trái tim của tôi.
Đến nay, khi quay trở về quê hương, những con đường làng đã được làm bằng bê tông, không còn bóng những bụi tre xanh mướt. Tre chỉ còn lại ở rìa làng, trong khu vườn cũ. Thay vào đó, có lẽ để tưởng nhớ về tre, người ta treo cây nêu trước cổng nhà. Cây nêu được làm từ tre, với những đèn lồng rực rỡ treo phía trên, tạo nên hình ảnh truyền thống đẹp mắt. Truyền thống này vẫn được duy trì, cây nêu trước nhà trừ ma quỷ, mang lại sự an lành và hạnh phúc trong năm mới. Cả con đường trở nên đẹp đẽ, những cây nêu cong cong trải dài, ánh sáng của đèn lồng bùng lên giữa đêm tháng chạp. Tôi đã quay trở về với quê hương, với những lũy tre của thời thơ ấu. Hồn làng vẫn còn đây trên những con đường, trong những dáng vẻ mộc mạc, thân thương của tre!
HÀ KIM QUY


10. Ký ức về khóm tre nhỏ trong ngôi nhà
Nhìn khoảng đất trống trước ngôi nhà xưa, tôi thấy hồn tre hiện hữu, như bức tranh nét đẹp thuần khiết của nông thôn Việt Nam. Làn gió khe khe mang theo hương thơm của tre, tôi nhớ về những chiều hè êm đềm, bà tôi ngồi trên chõng, tay cầm quạt, giữa không gian làng quê yên bình. Khóm tre không chỉ là cây cỏ, mà là kí ức, là tâm hồn của ngôi nhà.
Khi khóm tre bị bứng đi, tôi như mất đi một phần của quá khứ. Những thân xác tre chồng chất, chỉ còn là hình ảnh khắc sâu trong trí nhớ. Vườn nhà tổ tiên với hai khóm tre trước và sau, đã trải qua hàng trăm năm, là biểu tượng của sự kiên cường và bền vững. Cha tôi với đôi bàn tay khéo léo, biến những thân tre thành những sản phẩm đẹp và hữu ích, từ cán cuốc đến bàn ghế, làm nên bức tranh sinh động của nông thôn Việt Nam.
Thơ Nguyễn Duy đã viết: “Tre xanh/ Xanh tự bao giờ?/ Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh”. Cây tre không chỉ là biểu tượng của nông thôn, mà còn là nguồn cảm hứng cho văn hóa, lịch sử dân tộc. Tôi nhớ câu ca dao “Chặt tre cài bẫy vót chông/ Tre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu”, nó không chỉ là câu ca dao, mà là biểu tượng của tình yêu thủy chung và lòng kiên trung của người Việt Nam.
Quê hương tôi đang trở thành đô thị hiện đại, những hàng cây xanh, bụi tre đã bị thay thế bằng những tường rào bê tông. Cuộc sống thay đổi, nhưng tâm hồn tre vẫn còn đọng mãi. Khi trẻ con không còn thấy hình ảnh cây tre, những câu chuyện về tre chỉ còn lại trong ký ức của những người lớn tuổi.
Bảo tàng làng Việt là một ý tưởng tuyệt vời, giúp bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc, trong đó không thể thiếu hình ảnh của khóm tre. Mỗi lần về thăm quê hương, tôi như gặp lại bóng ông bà, cha mẹ, trong khu vườn nhỏ mà khóm tre từng bao bọc. Nó là một phần quan trọng của ký ức và tình cảm của tôi đối với quê hương.
Ngô Đức Hành


