1. Hai Bà Trưng
Hai Bà Trưng - đôi nữ tướng anh hùng, là biểu tượng của sự nổi dậy dũng cảm và chiến đấu cho tự do. Họ là con gái của lạc tướng Mê Linh, đứng lên chống lại sự áp bức và bóc lột tàn bạo của nhà Hán. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm Canh Tý 40 Công nguyên đã chiến thắng, đánh bại thế lực phong kiến phương Bắc và lập nên một Nhà nước độc lập và tự chủ. Cuộc khởi nghĩa này chấm dứt giai đoạn thống trị của phong kiến phương Bắc, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.


2. Bùi Thị Xuân
Với vẻ đẹp quyến rũ, khả năng sử dụng kiếm cùng sức mạnh, Bùi Thị Xuân đứng làm trụ cột và là một trong những anh hùng khai quốc của nhà Tây Sơn thời kỳ đó. Trong cuộc đánh Phú Yên năm 1775, Bùi Thị Xuân đã được giao quản đốc Tây Sơn và Võ Đình Tú để đánh Phú Yên. Năm 1785, bà và chồng tham gia trận Rạch Gầm - Xoài Mút, đánh tan 2 vạn quân Xiêm La và lập công lớn. Bà còn tham gia lệnh chỉ huy đội tượng binh trong trận đại phá quân Mãn Thanh năm 1789. Sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung, nhà Tây Sơn trở nên không ổn định. Bùi Thị Xuân cố gắng cứu vãn tình hình bằng cách tham gia chiến dịch của vua Cảnh Thịnh đánh chiếm lại Phú Xuân năm 1802. Trong chiến dịch này, bà liều mình cưỡi voi đánh vào lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Phúc Ánh cố thủ. Tuy nhiên, khi nghe tin tướng Nguyễn Văn Trương đánh tan thủy binh Tây Sơn, đội quân của bà hoảng loạn và bỏ trốn, đánh dấu trận đánh cuối cùng của vị nữ tướng anh hùng.


3. Triệu Thị Trinh
Tiếp nối tinh thần yêu nước, thương dân, căm thù ách đô hộ tàn ác của Hai Bà Trưng, sau gần 2 thế kỷ, vùng đất Cửu Chân, Thanh Hóa năm nào, đã xuất hiện người phụ nữ anh hùng mang tên Triệu Thị Trinh với tuyên thệ sắt son: 'Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!' ghi dấu trong lịch sử nước nhà.
Không căm phận làm lẽ cho tên viên quan Đông Ngô cai trị tàn ác, Triệu Thị Trinh cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt đã bàn nhau khởi binh chống lại quân đô hộ. Từ hai căn cứ trên núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm huyện trị Tư Phố nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.
Trong lúc thế trận đang sục sôi, không may, anh trai bà Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời. Với sự quyết liệt chống đô hộ, can đảm, dũng cảm, bà được tôn lên làm chủ. Bà đã phối hợp với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền đánh chiếm các vùng đất còn lại ở phía Bắc Thanh Hóa ngày nay, đồng thời xây dựng tuyến phòng thủ từ vùng căn cứ Bồ Điền đến cửa biển Thần Phù để ngăn chặn viện binh của giặc Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc.
Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ. Những trận đánh ác liệt đã diễn ra, tuy nhiên với sự chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi. Hiện nay, nơi núi Tùng (xã Triệu Lộc) vẫn còn di tích lăng mộ của bà. Cách nơi bà mất không xa, trên núi Gai ngay sát Quốc lộ 1 (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ bà. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 (âm lịch), người dân trong vùng vẫn tổ chức làm lễ giỗ bà để ghi nhớ công ơn của bà đối với tổ quốc.


4. Võ Thị Sáu
Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, nay là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Được sinh ra ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng, năm 1947 khi mới 14 tuổi, chị gia nhập Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ với mong muốn trừng trị bọn ác ôn. Từ đó, chị đã trở thành người chiến sĩ trinh sát làm nhiệm vụ phá tề, trừ gian với nhiều chiến công nổi tiếng. Tháng 2/1950, chị dẫn đầu một tổ, dùng lựu đạn tập kích diệt hai tên ác ôn Cả Suốt, Cả Đay. Không may chị bị sa vào tay địch. Chúng dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng không khai thác được gì, liền đưa chị về giam ở khám Chí Hòa, Sài Gòn để tiếp tục khai thác và sau đó mở phiên tòa, tuyên án tử hình chị.
Tại phiên tòa đại hình, tuy mới 17 tuổi, nhưng chị Võ Thị Sáu đã hiên ngang tỏ rõ khí phách anh hùng của một thiếu nữ Việt Nam làm cho lũ quan tòa và đồng bọn đều phải nể sợ. Chị sang sảng khẳng định: 'Yêu nước chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội'. Và khi tên quan tòa rung chuông ngắt lời chị, tuyên án: 'Tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản', chị đã thét vào mặt y: 'Tao còn mấy thùng rác ở khám Chí Hòa, tụi bây vô mà tịch thu!'. Tiếp đó là tiếng hô: 'Đả đảo thực dân Pháp!'. 'Kháng chiến nhất định thắng lợi!'. Do chị chưa tới tổi vị thành niên nên bọn chúng chưa thực hiện bản án tử. Ngày 23/1/1952, chúng thi hành bản án, bắn chị ở ngoài hòn đảo xa đất liền này sau hai ngày chúng đưa chị ra đây.
Bốn giờ sáng ngày 23/1/1952, sau khi tên chánh án làm thủ tục thi hành án, viên cố đạo liền lên tiếng: 'Bây giờ cha rửa tội cho con'. Chị gạt phắt lời viên cha cố: 'Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội...'. Ông ta kiên nhẫn thuyết phục: 'Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?'. Chị nhìn thẳng vào mặt ông ta và mặt tên chánh án, trả lời: 'Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước'. Đây là những lời nói đanh thép của chị trước lúc hi sinh.


5. Đại tá Đinh Thị Vân
Đại tá Đinh Thị Vân (SN 1916), một nhân vật nữ anh hùng tình báo nổi tiếng Việt Nam, sinh ra tại làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tên thật là Đinh Thị Mậu, trong gia đình nho học, có truyền thống yêu nước. Ngay từ nhỏ, bà đã có ý thức về đấu tranh chống thực dân đế quốc vì độc lập dân tộc. Lớn lên, tinh thần yêu nước của bà càng lớn, và bà đã hi sinh hạnh phúc cá nhân để cưới vợ cho chồng, tạo điều kiện cho bà hoàn thành nhiệm vụ.
Bà là người tổ chức và điều hành mạng lưới tình báo tại Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ. Với tính cách thông minh, nhanh nhẹn, kiên trung, bà đã xây dựng mạng lưới tình báo vững chắc, cung cấp kịp thời thông tin quan trọng cho Trung ương Đảng về các cuộc càn quét của Mỹ. Hệ thống tình báo của bà hỗ trợ đắc lực cho các kế hoạch tấn công của quân đội từ Tết Mậu Thân 1968 đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975.


6. Võ Thị Thắng
Đồng chí Võ Thị Thắng, sinh ngày 10 tháng 12 năm Ất Dậu, 1945, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Ba má và 9 anh chị em cùng đi theo cách mạng.
Đã trải qua những thời kỳ khó khăn và dữ dội từ khi còn nhỏ, Đồng chí Võ Thị Thắng đã thể hiện sự hào hùng và đầy tinh thần cách mạng. 9 tuổi, đã tham gia đưa thư và mang cơm đến cho chiến sĩ cách mạng. 13 tuổi, vào trường Gia Long Sài Gòn, 16 tuổi gia nhập Mặt trận dân tộc giải phóng huyện Bến Lức – Long An. 17 tuổi, chuyển sang hoạt động bí mật trong Phong trào Thanh niên – Sinh viên – Học sinh, sau đó tham gia Phong trào Công nhân và lực lượng vũ trang trong lòng đô thị.
Trong chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân 1968, thực hiện nhiệm vụ trừ gian ở Phú Lâm, Quận 6, Đồng chí bị bắt. Bị giam cầm và tra tấn đầy đọa trong 6 năm, nhưng với tinh thần cách mạng, bà không bị khuất phục trước bạo lực và cường quyền của kẻ thù. Theo Hiệp định Paris, Đồng chí được trao trả về Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại sân bay Lộc Ninh ngày 7/3/1974.
Sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), bà tham gia công tác ở Thành đoàn, Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh. Được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và IX, là Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X và XI. Nhiều nhiệm vụ quan trọng như Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cu Ba đến khi nghỉ hưu.










