1. Xe tăng khí động học T-55 Progrev-T
Thay vì khẩu pháo tiêu chuẩn, chiếc xe tăng T-55 Progrev-T này có một điểm độc đáo khá kỳ lạ và trông rất đáng sợ, không phải là một vũ khí khoa học viễn tưởng mà là một động cơ phản lực.
Xe tăng khí động học T-55 Progrev-T được chế tạo bằng cách sử dụng thân tàu từ một trong những loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất mọi thời đại - T-54. Progrev-T sử dụng loại xe tăng chiến đấu chủ lực và thay thế tháp pháo bằng giá treo động cơ phản lực, động cơ này được lấy từ một Tiêm kích MiG-15. Progrev-T được thiết kế để dọn đường và phát hiện bom mìn. Nguyên lý hoạt động của xe tăng T-55 Progrev-T là sử dụng sức nóng và luồng gió từ động cơ phản lực để quét sạch lớp đất và đá cuội trên cùng, để lộ các quả mìn gài phía dưới.
Dù không thành công như mong đợi, xe tăng khí động học T-55 Progrev-T không phải là chiếc xe tăng cuối cùng của Liên Xô được trang bị động cơ phản lực. Liên Xô đã tiếp tục phát triển các mô hình thành công hơn như “Big Wind” sử dụng luồng không khí cực mạnh từ động cơ để chữa cháy mìn hơn là rà phá bãi mìn.


2. Xe tăng Krupp Kugelpanzer
Năm 1945, trong thời kỳ cuộc chiến thứ II đang diễn ra tại Mãn Châu, quân Nhật thu được một chiếc xe tăng hình tròn độc đáo. Cho đến ngày nay, chuyên gia vẫn chưa giải mã được mục đích thực sự của chiếc xe kỳ lạ này. Được trưng bày tại Bảo tàng Xe tăng Kubinka ở Moscow, Nga, Xe tăng Krupp Kugelpanzer là một trong những phương tiện quân sự độc đáo và bí ẩn nhất của Thế chiến II.
Theo nghiên cứu, chiếc xe tăng Krupp Kugelpanzer có khả năng được chế tạo bởi hãng Krupp ở Đức trong Thế chiến II và sau đó được vận chuyển đến Nhật. Vỏ giáp mỏng 5mm, động cơ 2 thì. Về vũ khí, có thể trang bị khẩu súng máy MG34 cỡ 7,92mm và khẩu súng MG42. Có ý kiến cho rằng xe tăng này có thể được sử dụng như một xe trinh sát bọc thép với 1 người lái.
Đây không phải là thiết kế kỳ quặc duy nhất trong lịch sử, có lẽ nó lấy ý tưởng từ những mô hình xe tăng một bánh trước đó như Hansa-Lloyd Bremen Treffas-Wagen (Thế chiến I), One Wheeled War Tank, và xe tăng Sa hoàng Nga.


3. Xe tăng ZIL-2906
Trong giai đoạn phục hồi của Liên Xô, trước khi bức màn chia cắt Liên Bang Xô Viết và thế giới phương Tây tan rã, Liên Xô đang cần một loại phương tiện đặc biệt để vận chuyển nhà du hành và mô-đun lái tàu vũ trụ ở những địa hình khó khăn. Lúc này, xe tăng Liên Xô có giới hạn về tầm hoạt động, và việc đưa tàu đệm khí vào cũng trở nên khó khăn. Do đó, Liên Xô đã đề xuất phát triển một loại xe chuyên dụng phù hợp với mọi địa hình.
Công ty ZiL (Zovad imeni Likkhachova), chuyên sản xuất xe tải, thiết bị nặng, xe bọc thép, đã được giao nhiệm vụ phát triển một mô hình xe đặc biệt. Mô hình này không sử dụng bánh xe hoặc xích, thay vào đó là hai xi-lanh lớn ở hai bên với vỏ ngoài hình vít xoắn. Khi hoạt động, hai vít xoắn này quay ngược chiều, tạo lực đẩy làm cho xe tiến về phía trước. Để quay xe, người lái cần kích hoạt một xi-lanh, mô hình này giống như cách xe tăng hoạt động. Trong đầm lầy, ZiL-2960 có thể di chuyển với tốc độ 30 dặm/giờ, nhưng trên đường nhựa hoặc bê tông, tốc độ chỉ khoảng 4 dặm/giờ. Mũi khoan ở gầm xe có thể làm hỏng mặt đường, tạo ra tiếng ồn lớn, dễ bị phát hiện và tấn công.
Dự án Zil-2960 được Liên Xô giữ bí mật, chỉ có những người tham gia chương trình Soyuz mới biết về nó. Hiện vẫn còn một số chiếc Zil-2960, nhưng hầu hết đã bị hủy hoặc han gỉ khi trưng bày ngoài trời trong các bảo tàng.


4. Xe tăng Bob Semple
Xe tăng Bob Semple (hay còn gọi là Big Bob) là một chiếc xe tăng hạng nặng được Thiếu trưởng Công trình New Zealand - Bob Semple thiết kế trong Thế chiến II. Xuất phát từ nhu cầu sáng tạo khí tài quân sự từ những vật liệu có sẵn, chiếc xe tăng này được chế tạo từ tấm thép trên nền xe máy kéo. Nó ra đời trong thời kỳ bất ổn, khi New Zealand lo ngại về cuộc xâm lược từ phía Nhật mà không có sự hỗ trợ ngoại vi, và đây là nỗ lực dân sự để thiết kế và tạo ra một phương tiện bảo vệ New Zealand. Xe tăng Bob Semple được thiết kế mà không có bản kế hoạch chính thức, dẫn đến nó có vô số lỗi thiết kế và gặp khó khăn trong thực tế, không bao giờ được sản xuất hàng loạt hoặc sử dụng trong chiến đấu.
Nguyên mẫu đầu tiên được chế tạo trên nền xe máy kéo bánh xích Caterpillar D8, một loại xe đã có sẵn. Vì chiếc D8 không có vũ khí, nó được trang bị thêm sáu khẩu súng máy Bren, mỗi bên ba khẩu, hai hướng về phía trước, một ở tháp pháo và một ở phía sau. Chiếc Bob Semple cao 12 ft (khoảng 3,5m), sử dụng động cơ diesel 6 xi-lanh 95 kW (127 mã lực), tốc độ tối đa 24km/giờ (15 dặm/giờ), và có phạm vi hoạt động lên đến 160 km (99 mi). Do không có tấm giáp bảo vệ đầy đủ, lớp mạ sáng từ margan được sử dụng với hy vọng làm chệch hướng đạn. Buồng lái chứa tới 8 người, với một xạ thủ nằm phía trên tấm đệm trên động cơ để bắn khẩu súng Bren của mình.
Do yêu cầu và nguồn lực hạn chế, kết quả là xe tăng không đủ bảo vệ bảo vệ, cực kỳ nặng (20-25 tấn), không ổn định, bị hạn chế về tốc độ chuyển số và phải dừng lại để chuyển số. Hình dạng và rung động quá mức làm cho việc bắn từ xe tăng trở nên khó khăn và không chính xác. Vì những hạn chế này, xe tăng Bob Semple thường xuyên được coi là 'Xe tăng tệ nhất từng được sản xuất.' Cuối cùng, do tính không thực tế, những chiếc xe tăng này đã bị Quân đội loại bỏ.


5. Vespa 150 TAP
Vespa 150 TAP là một chiếc xe tay ga chống tăng được sản xuất trong những năm 1950 từ một chiếc xe tay ga Vespa để phục vụ cho lính dù Pháp. Xét về khả năng gây ra sát thương theo trọng lượng chung, không vũ khí nào có thể sánh kịp chiếc xe tay ga nhỏ bé của quân đội Pháp thời bấy giờ.
Chiếc Vespa 150 TAP được sản xuất bởi Ateliers de Construction de Motocycles et Automenses (ACMA), nhà lắp ráp Vespa được cấp phép tại Pháp vào thời điểm đó. Xe được trang bị súng trường không giật M20 75mm (3,0in), vũ khí chống thiết giáp do Mỹ sản xuất. Súng trường rất nhẹ nhưng vẫn đủ sức xuyên thủng lớp giáp dày 100mm bằng đầu đạn HEAT. Khung sườn là chiếc xe tay ga nguyên bản mẫu VB 1T sản xuất dân dụng, động cơ dung tích 150cc, động cơ hai thì, tốc độ tối đa 60km/h, đủ nhanh để húc đổ bất kỳ phương tiện nào cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.
Chiếc Vespa 150 TAP có khả năng vượt địa hình hoàn hảo. Quân đội Pháp có ưu thế trên chiến trường khi sở hữu một chiếc xe chống tăng kết hợp hỏa lực công phá và khả năng chống lại các xe bọc thép hạng nhẹ khác. Hiện nay, phương tiện quân sự này trở thành hiếm có đối với các nhà sưu tập trên khắp thế giới.


6. Xe bọc thép Simms Motor War Car
Rất lâu về trước, khoảng năm 1335, một mẫu thiết kế cho một “chiếc xe chiến đấu” được vẽ bởi Gui da Vigevano, một nhà phát minh người Ý. Sau đó, chúng ta có bản phác thảo nổi tiếng của Leonardo da Vinci về một “chiếc xe bọc thép” vào năm 1485. Xuôi theo dòng lịch sử thêm 400 năm, đến năm 1885, nhà phát minh James Cowen của Anh đã lấy bằng sáng chế đầu tiên cho một chiếc xe bọc thép có bánh và có gắn súng. Nhưng sự ra đời của chiếc xe bọc thép đầu tiên phải nói đến sự đóng góp không nhỏ của một người tên là Frederick Richard Simms. Năm 1899, phương tiện quân sự đầu tiên do ông sáng tạo ra đời, mang tên gọi Motor Scout Quadricycle. Sử dụng Motor Scout làm điểm bắt đầu, Simms bắt đầu thực hiện dự án tiếp theo của mình, Simms Motor War Car.
Simms Motor War Car được thiết kế sử dụng khung gầm xe tải Daimler do chính công ty ông sản xuất. Xe có lớp giáp Vickers dày 6mm và được trang bị động cơ bốn xilanh 3,3 lít, 16 mã lực Cannstatt Daimler, cho tốc độ tối đa khoảng 9 dặm/giờ (khoảng 14,5 km/h). Xe bọc thép Simms Motor War Car bao gồm hai khẩu súng Maxim được đặt trên hai tháp pháo xoay 360 độ. Khi được trang bị đầy đủ, xe bọc thép có chiều dài tổng thể là 28 foot (8,5m), với dầm dài 8 foot (2,4m), một thanh gỗ ở mỗi đầu, hai tháp pháo và hai khẩu súng. Nó có khả năng đi trên các bề mặt rất gồ ghề. Yêu cầu vận hành với một phi hành đoàn gồm bốn người.
Đến khi Simms Motor War Car cuối cùng được chế tạo và ra mắt tại triển lãm Crystal Palace Motor Show ở London vào 02/1902, thì chiến tranh thuộc địa đã tới hồi kết thúc. Lặp tức nó đã không còn cần thiết nữa. Thực tế, Quân đội Anh thậm chí còn không tham dự buổi triển lãm để xem chiếc xe mình đã đặt.


7. Súng cối 2B1 OKA
2B1 OKA là loại súng cối 420mm tự hành của Liên Xô. Được sản xuất với hàng loạt các hạn chế. Theo nghị định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 18/11/1955, công việc chế tạo súng cối tự hành 2B1 OKA được bắt đầu. Việc phát triển đơn vị pháo binh được Liên Xô giao cho Cục thiết kế cơ khí đặc biệt Kolomna, phòng thiết kế của nhà máy Leningrad Kirov chịu trách nhiệm phát triển khung gầm. 4 máy thử nghiệm đã được sản xuất tại nhà máu Kirov.
Nhà thiết kế chính là B.I. Shavyrin. Nguyên mẫu đầu tiên được sẵn sàng vào năm 1957. Tốc độ bắn 1 phát trong 10,5 phút, tầm bắn 25km, mìn phản ứng chủ động 50km, khối lượng của một quả mìn pháo là 670kg được thiết kế để bắn vũ khí hạt nhân. Vũ khí chính là súng cối nòng tròn 420mm, chiều dài của thùng khoảng 20m. Do súng cối không trang bị thiết bị giật nên khi khải hỏa, chiếc xe đã lùi lại 5m. Mìn được nạp vào từ khóa nòng, làm tăng đáng kể tốc độ bắn 1 phát trong 5 phút. Phần gầm được mượn từ khung gầm của xe tăng hạng nặng T-10.
Vào 07/11/1957, chiếc xe này đã được trình diễn tại một cuộc diễu hành quân sự ở Moscow. Công việc của 2B1 OKA tiếp tục cho đến năm 1960, sau đó chúng đã bị dừng lại bởi một nghị định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.


8. Xe tăng Kliment Voroshilov 2 (KV-2)
Sau khi dự án thiết kế tăng đang nòng T-35 thất bại, quân đội Liên Xô lúc này bắt đầu tìm kiếm một giải pháp khác để thay thế. T-35 được đánh giá là một loại tăng với hỏa lực cực mạnh, bọc giáp kỹ nhưng động cơ thì rất tồi tệ và có khả năng cơ động rất chậm chạp. Trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha đã chó thấy rằng tăng hạng nặng đóng một vai trò khá quan trọng và nó ảnh hưởng đến việc thiết kế tăng giai đoạn trước Thế chiến II. Một vài bản thiết kế đã được hoàn thành, trong đó nổi bật phải kể đến là bản thiết kế có tên KV, phần thân được thiết kế nhỏ gọn và chỉ có một tháp pháo khiến cho việc gia cố ở phía trước và tháp pháo được dày hơn mà vẫn giữ được trọng lượng nhất định không quá nặng. Có hai phiên bản KV được đem ra sản xuất đó là KV-1 và KV-2 (trang bị lựu pháo 152mm).
Tuy rằng KV-2 chỉ sản xuất hạn chế chỉ khoảng 350 chiếc ít hơn so với 4500 chiếc KV-1. Nhưng KV-2 sở hữu những ưu điểm bao gồm: vũ khí chính là pháo 152mm M-10, vũ khí phụ là 3 súng máy hạng nhẹ DT, tầm hoạt động khoảng 140km, tốc độ tối đa 25,6 km/h, lớp giáp cực dày của nó không thể nào bị xuyên qua bởi đa phần các loại pháo chống tăng lúc bấy giờ- trừ khi ở khoảng cách quá gần, hỏa lực mạnh và sự di chuyển êm của xích trên mặt đất. Tuy nhiên nó lại xuất hiện những khuyết điểm: khó để lái, hề truyền động hoạt động không êm, hệ thống công thái học hoạt động yếu và hầu như không có gàu/lồng tháp pháo. Nó hoạt động cũng như tác chiến không được linh động cho dù hoạt động tối đa công suất của động cơ.
Về sau, quân đội Liên Xô nghiên cứu và thiết kế ra được tăng hạng trung T-34 giá rẻ mà vẫn sở hữu sức mạnh chết người nên KV được sử dụng khá hạn chế và chỉ được sử dụng để huấn luyện quân đội. Vào những năm cuối chiến tranh dòng KV2 được sử dụng để làm nền tảng thiết kế ra xe tăng hạng nặng IS.


9. Xe Kettenkrad HK101
Sd.Kfz.2 là một chiếc mô tô bán đường có một bánh trước, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Kettenkrad HK101. Nó được sử dụng bởi quân đội Đức Quốc xã trong thế chiến thứ II. Nó bắt đầu hoạt động như một máy kéo hạng nhẹ dành cho lực lượng đổ bộ đường không, phương tiện này có lợi thế là máy kéo súng duy nhất đủ nhỏ để nhét bên trong khoang chứa của máy máy bay Junkers Ju 52. Xe Kettenkrad HK101 là một phương tiện quân sự sản xuất hàng loạt nhẹ nhất của Đức, được thiết kế và chế tạo bởi NSU Werke AG tại Neckarsulm, được cấp bằng sáng chế vào tháng 6/1939. Lần đầu tiên nó được sử dụng trong cuộc xâm lược Liên Xô năm 1941.
Kettenkrad HK101 sử dụng động cơ Opel 1,5 lít 4 xi lanh thẳng hàng cho công suất 36 mã lực (26kW) cùng với khả năng chạy với tốc độ 70km/giờ trên địa hình bằng phẳng và có thể leo dốc nghiêng hơn 25 độ. Ngoài ra Kettenkrad đi kèm với một toa moóc đặc biệt có thể được gắn vào xe để cải thiện khả năng chở hàng của nó, rơ mooc chở được 350kg (770 ib).
Kettenkrad HK101 rất được tin tưởng nhờ vào khả năng vượt bùn lầy và cát hiệu quả. Phần lớn xe được sử dụng để chuyên chở binh lính, kéo pháo nhẹ hay lắp cáp. Chiếc moto này vừa khít với máy bay Ju 52 mỗi khi cần đưa đi từ nơi này sang nơi khác. Nó được sản xuất từ 1941 đến 1945. Sau thế chiến việc sản xuất vẫn được tiếp tục tuy nhiên chỉ khoảng 550 chiếc được sản xuất và dành cho nông nghiệp cho tới năm 1948.


10. Xe bọc thép Standard Beaverette
Standard CC 4x2, hay Cả Armored Light Standard, được biết đến nhiều với các tên Beaverette đây là loại xe bọc thép ngẫu nhiên của Anh được sản xuất trong Thế chiến II. Phiên bản đầu tiên của phương tiện này được chế tạo vào năm 1940 bời công ty Standard Motor theo sự xúi giục của Bộ trưởng Bộ sản xuất máy bay. Nó dựa trên khung gầm ôtô thương mại, trên đó gắn một thân tàu bọc thép tán đinh đơn giản. Thân tàu bị hở ở phía trên và phía sau.
Xe bọc thép Standard Beaverette được bao bọc lớp thép dày 11mm được hỗ trợ bởi các tấm ván gỗ sồi dày 3 inch, động cơ xăng 4 xi lanh tiêu chuẩn tương đương 46 mã lực (34kW). Xe được trang bị vũ khí bao gồm một khẩu súng máy hạng nhẹ Bren, có thể bắn qua một khe trên áo giáp Casemate, một số phương tiện khác còn mang theo súng trường chống tăng Boys. Một điểm hạn chế của xe bọc thép Standard Beaverette là tầm nhìn bị hạn chế đòi hỏi người lái phải dựa vào một người quan sát để chuyển tiếp thông tin về phương tiện khác.
Standard Beaverette được sử dụng rộng rãi bởi Home Guard (Vương quốc Anh), Quân đội Anh và Trung đoàn RAF để phục vụ, huấn luyện phòng thủ trong nước và bảo vệ các nhà máy sản xuất máy bay của Lord Beaverbrook.


