1. Cha tôi và Biển Đông
Đã hơn 30 năm, liệu mùa xuân có lần nữa ghé thăm đảo, mang theo sắc thắm của hoa đào và sự rực rỡ của hoa mai?
Trường Sa ơi..! Bao giờ Trường Sa mới được bình yên, nơi luôn chịu bão giông từ đại dương, nơi mỗi người lính đều là một con sóng trên biển. Đảo Trường Sa nhìn lên là trời, nhìn xuống là biển, bước xuống cũng là biển bao la... Liệu bao giờ Tổ Quốc chúng ta sẽ quên biển?! Biển vẫn là nguồn cảm hứng vô tận, biển đau thương vẫn đứng vững vì ai? Biển đưa ta về với lòng yêu thương, là nơi mầm mống tình yêu quê hương nảy mầm trên cát mặn, nơi biển xao lãng mỗi khi hoàng hôn buông xuống...
Qua hơn 30 năm, những ký ức về đảo Trường Sa và hình ảnh người cha già vẫn in sâu trong trái tim tôi. Bố tôi, là trưởng đảo Trường Sa, thường kể về cuộc sống ở đảo, những câu chuyện như trong phim khiến tôi mê mải. Ở đây, chỉ có nắng và gió biển làm bạn. Ban ngày, nhiệt độ cao như đốt, những người lính da sạm đen vì nắng nóng, bố tôi cũng không phải là ngoại lệ.
Bố tôi trông già hơn nhiều, gương mặt gầy khô của bố, mẹ và anh em thương bố. Môi trường khắc nghiệt, thức ăn không đủ, rau xanh thiếu thốn (do không thể trồng), và nước ngọt khan hiếm. Lương thực và nước mới đến đảo mỗi tháng một lần, theo bố tôi. Nước dùng phải tiết kiệm, mọi thứ đều không được lãng phí. Thiếu thốn nhất là khi ai đó bị ốm. Đi từ đất liền ra đảo mất ít nhất hai ngày, lúc đó biển yên, còn không thì thực sự là khó khăn.
Kỷ luật quân đội ở đảo rất cao. Một lần, có một lính mới chưa hiểu biết, vì thiếu thốn, đã săn một con chim hải âu để làm thực phẩm. Bị phát hiện, bị tạm giam 15 ngày. 'Luật' ở đảo là như vậy. Kỷ luật cao giúp những người lính ở đây trở nên nghiêm túc, chấp hành mệnh lệnh mỗi khi có lệnh. Hàng ngày, ngoài việc tập trận chiến thuật, học võ thuật, mỗi người lính phải bơi ít nhất 15 km. Họ có thể ở dưới nước cả ngày. Tập bằng cách bơi từ tầu ra đảo. Bố tôi nói như vậy, nên tất cả đều giỏi bơi.
Luyện tập như vậy, những người lính ở đảo luôn phải giữ cảnh giác cao. Sống và tập luyện khắc nghiệt, nhưng họ lại là những người lính vui vẻ, đầy lãng mạn. Họ hát và làm thơ khi có thời gian rảnh. Đêm trăng sáng, tiếng sóng biển rì rào.... Chỉ có biển và đảo tạo nên giai điệu đẹp về Trường Sa yêu dấu!
Lãng mạn nhưng khi Tổ Quốc cần, họ là những người lính kiên cường, tinh thần sắt đá, trái tim nhiệt huyết của tuổi thanh xuân. Những bức thư là cầu nối giữa người lính ở đảo và gia đình, người thân ở quê hương.
Sau này, khi mẹ tôi cho đọc lại những bức thư mà mẹ viết cho bố, đọc bức thư của bố viết cho mẹ, tôi không thể không ngưỡng mộ tình yêu của họ. 'Chiều chiều, khi hoàng hôn buông dần trên đảo... cũng là lúc hải âu bay về tổ, lòng anh có nghĩ và nhớ tới em không...?' Đằng sau bức ảnh hai người chụp chung, mẹ tôi còn viết 'giữ trọn lời thề thuỷ chung'.
Người lính ở đảo rất đoàn kết, như anh em trong một gia đình. Một lần, bố kể về một gia đình trong đơn vị, mẹ hoặc bố của một người lính mất. Mọi người quyên góp tiền (bao gồm cả bố tôi) để đưa người lính đó về phép. Tình cảm ở đảo đặc biệt đáng kinh ngạc. Nhưng cái chết, nguy hiểm luôn rình rập, họ luôn phải giữ cảnh giác ở mức cao nhất. Bố còn kể nhiều lần bắt giữ biệt kích của địch. Không chỉ chiến lợi phẩm, mà còn vàng. Lúc đó, tôi thương mẹ tôi nhiều lắm!
Khi tôi hỏi tại sao bố không lấy vàng, bố tôi trả lời: 'Của thiên trả địa thôi con ạ!' Lúc đó, tôi không hiểu rõ, nhưng giờ đây tôi tự hào về quyết định của bố. Cả đời bố tôi hi sinh và cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc. Bố tôi mất cách đây 20 năm. Năm 1988, bố tôi làm trưởng lữ đoàn trưởng 146, trưởng đảo Trường Sa, trưởng đảo Sinh Tồn. Bố về hưu và mất năm 2000, mang theo những ảnh hưởng từ những cuộc chiến, cả đời ông dành cho sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc. Những người con của bố tự hào về người cha anh hùng, người đã hy sinh và sống liêm khiết cả đời.
Hơn 30 năm đã trôi qua... liệu mùa xuân có mang theo sắc thắm của hoa đào, rực rỡ của hoa mai? Tôi nhớ về Trường Sa, nơi có những hạt mưa hiếm hoi, nơi có những ngọn muống biển vẫn vươn lên tận mép nước, nơi Trường Sa như một pháo đài kiên cường giữa biển Đông.
Lê Minh


2. Chất lính của bố
Bố tôi năm nay đã gần 70 tuổi, vẫn tràn đầy năng lượng. Tóc bạc pha lẫn tóc đen, làn da vẫn khỏe mạnh, giọng nói vẫn phát ngôn mạnh mẽ, và khuôn mặt luôn rạng rỡ, đầy nụ cười. Sự khỏe mạnh không chỉ đến từ việc con cái đã trưởng thành, cuộc sống đã dư dả, mà hầu hết là nhờ bố giữ được chất lính với nhiều phẩm chất tốt.
Thời thanh niên, bố tích cực tham gia xây dựng đất nước, từ việc làm đê, kênh tới việc tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam năm 1975. Bức ảnh quý giá ghi lại hình ảnh anh lính trẻ bố với bộ quân phục đã trở thành biểu tượng của quãng thời gian hào hùng ấy. Điều này đủ để làm cho con cái yêu mến và kính trọng bố rất nhiều.
Sau chiến tranh, bố quay về với cuộc sống bình dị ở ngôi làng nhỏ. Tâm hồn lính nhiệt đã giúp bố vượt qua khó khăn, gian khổ. Bố là người không ngần ngại gian lao, từ cày cấy đến buôn bán, bố luôn tích cực và không ngừng nghỉ. Cuộc sống của chúng tôi trở nên ấm cúng, nhờ vào tình thương của mẹ và sự cống hiến của bố.
Dù cuộc sống dần dần thuận lợi hơn, bố vẫn giữ được tính kiên cường, không sợ khó khăn, vẫn là người lính mạnh mẽ, không ngừng chiến đấu. Bố thường nhắc nhở chúng tôi: “Nhìn thấy những khía cạnh đau thương trong chiến tranh, chỉ cần có hòa bình là đã quý rồi”. Bố còn khuyến khích chúng tôi: “Thời của bố, đẹp nhất là khi bảo vệ Tổ quốc. Còn thời của các con, hãy học hành và làm việc chăm chỉ. Nếu cố gắng hết mình, mọi khó khăn sẽ qua thôi!”
Bố giữ phong cách sống giản dị của người lính, không cần đồ ăn ngon miệng, chỉ cần cơm nhà và gia đình. Bố không mê luxuries, chỉ cần nhà thoáng đãng, không cần cao sang. Đặc biệt, bố thường mặc bộ quân phục và đội chiếc mũ cối. Bố cho rằng những thứ này vừa bền, vừa đẹp, và tạo nên sự gần gũi, thân thiện. Thực tế, chúng tôi biết bố thích những thứ này vì tình cảm sâu sắc với cuộc sống lính.
Thói quen sạch sẽ, gọn gàng của bố giống như trong quân đội. Bố không chỉ giữ gìn nhà cửa mà còn thường xuyên lau chùi, sắp xếp. Ngày mới bắt đầu với bố là việc tập thể dục sớm, một thói quen từ thời lính. Những thói quen này đã tạo nên bức tranh vững chãi, lạc quan về người lính của bố.
Bố, với chất lính đặc trưng, đã tạo nên một hình ảnh mạnh mẽ và lạc quan trong tâm hồn chúng tôi, con cái yêu mến chất lính trong bố giống như yêu thương Đảng Cộng sản.
Tác giả: Thu Đình


3. Hồi ức về Tình Yêu Chiến Sĩ
Anh!
Hôm nay, ngày cuối cùng bên anh trên mảnh đất quê nhà, em muốn cầm bút để những dòng chữ này theo bước anh đi. Anh sẽ mang nó như mang em trên suốt chặng đường dài. Để rồi, sang đến bên kia biên giới, có một lúc nào đó chợt tìm thấy nó trong quyển vở này, anh hãy coi đó là niềm an ủi đầu tiên trong những ngày đầu xa người thân yêu".
Đó là đoạn mở đầu bức thư tôi xếp dưới đáy ba lô của anh trong ngày tiễn anh lên đường sang nước bạn Campuchia. Và chuyện tình của anh lính quân y với cô giáo trẻ có lẽ cũng khởi đầu từ một bức thư.
Ngày đó anh đang học năm thứ tư trường Đại học quân y (Học viện quân y bây giờ). Tôi và đứa em con cậu cùng tuổi thường hay mè nheo anh kể chuyện trường, chuyện viện... mỗi khi anh tới chơi. Anh nói nghỉ hè ra chỗ anh chơi, anh sẽ mượn cho 2 đứa 2 cái áo blu và đưa chúng tôi đi khắp viện. Rồi lời hứa chưa được thực thi thì tôi nhận quyết định lên dạy học ở huyện miền núi Lục Ngạn, cách nhà gần trăm cây số. Sau khi đến trường và ổn định, tôi viết thư cáo lỗi với anh. Thư qua thư lại, rồi tình yêu đến lúc nào không hay. Thế là mỗi lần về nhà, tôi lại đạp xe 30km ra chỗ anh. Lần đầu tôi bị các anh trong cùng tiểu đội trêu: "Em là em gái anh Đồng à? Anh ấy không biết em ra hay sao mà lại vừa đi chơi với bạn gái rồi". Tôi bình thản đáp:
-Không sao, em chờ anh ấy về ạ.
- Đi với bạn gái thì chả biết đến tối có về không nữa.
- Tối em cũng chờ được...
Mấy anh lính trẻ nháy nhau: cô bé này rắn ghê.
Tôi cùng các anh ăn bữa cơm của lính, chả biết có phải các anh báo cơm khách hay không mà tươm ra phết. Buổi tối, anh đưa tôi đi xem phim. Có hôm 2 đứa đi chơi dưới hàng cây sau làng Xa La. Dưới ánh trăng thanh, tôi ngồi bên anh líu lo kể chuyện trường, chuyện lớp. Có những khi cả 2 im lặng tận hưởng cái không khí mát dịu, êm đềm. Hàng cây xạc xào trong gió, tiếng côn trùng rả rích gọi bạn, làn gió nhẹ vuốt ve làn tóc mềm... tất cả như đồng lõa chở che cho đôi trẻ đang rộn ràng đôi tim hòa chung nhịp đập. Rồi anh đưa tôi về nhà khách, mắc màn cho tôi, dặn tôi đóng cửa, còn anh quay về tiểu đội. Mấy anh lính trẻ ngạc nhiên: "Sao không ngủ đấy lại về?" Anh ngượng nghịu gãi đầu: "Ai lại thế..."
Có những ngày nghỉ cuối tuần, anh đạp xe hơn trăm cây số lên trường thăm tôi. Mấy chị em khu lẻ bọn tôi thết anh bằng bữa cơm nhà giáo: lạc rang, đậu rán, rau luộc. Anh dạy tôi và Cự hát bài "Ngày mai anh lên đường". Giọng anh khỏe và sáng hòa cùng giọng hát của hai cô giáo trẻ vang cả khu trường làm mấy đứa trẻ trong xóm lóc nhóc địu em chạy ra cổ vũ. Có ai ngờ đó lại chính là bài hát định mệnh cho cuộc tình của chúng tôi. Những ca từ da diết, tình cảm và thật sâu lắng. "...Ngày mai anh lên đường, ngày mai anh ra chiến trường. Gửi lại em yêu dấu cả khoảng trời thành phố lung linh ngàn vì sao sáng trên đường hành quân diệt thù... Bàn tay em xây ngôi trường, bàn tay em gieo lúa vàng, gửi tình lên biên giới cả khoảng trời rừng núi lung linh và trong xanh với bao người bạn thân tâm tình. Như hoa phong lan chờ đợi, mưa nắng không phai tàn..."
Cứ thế, những cánh thư và những lần qua lại kéo dài 2 năm thì anh ra trường, và đám cưới của chúng tôi diễn ra vào một ngày đẹp trời mùa thu 1981. Đám cưới đơn giản của anh bộ đội và chị giáo viên miền núi tưởng chẳng có gì giản đơn hơn thế. Cô dâu mặc quần lụa đen, áo sơ mi màu hoa cà được chú rể đón bằng chiếc xe đạp cũ trên quãng đường gần chục km. Phòng tân hôn là ngôi nhà tranh 3 gian được quây bằng gạch non (gạch không đủ lửa) xếp chồng lên nhau. Hôm sau anh đưa tôi lên trường vì tôi chỉ được nghỉ có 3 ngày. Chưa kịp quen hơi bén tiếng 2 tuần thì anh đã nhận lệnh đi K (chiến trường Campuchia). Bàng hoàng, hẫng hụt, xót xa... Nhưng nước mắt của người vợ trẻ chẳng thể níu chân người chiến sĩ. Nghĩa vụ, trách nhiệm và kỉ luật quân đội cũng không cho phép anh ở lại.
9 năm bên nước bạn với 4 lần về phép, chúng tôi cũng kịp sinh 2 đứa con đủ nếp tẻ. Tình yêu lãng mạn được dần thay thế bằng trách nhiệm và bổn phận của người mẹ, người vợ, người con "làm dâu không chồng". Có ngọt ngào, có đắng cay, có tủi hờn, chua xót trong những đêm cô lạnh. Nhưng trên tất cả là tình yêu và niềm tin chúng tôi dành cho nhau. Những cánh thư không biên giới đã nối liền và lấp đầy khoảng cách xa xăm. Chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện trường, chuyện nhà, chuyện đơn vị. Động viên an ủi nhau vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cái khắc nghiệt của chiến trường bom đạn. Và nhất là cái ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, khi không thể phân biệt được đâu là dân, đâu là Ponpot. Nhớ nhà, nhớ vợ con, anh đều gom vào những con chữ cho thư, và cho thơ. Một tập thơ anh viết cho tôi đầy kín quyển sổ dày tự đóng. Trong đó có bài viết về tháng sinh nhật của 2 đứa (cả 2 chúng tôi đều sinh tháng tư, cách nhau có 4 ngày):
Sàm rông trời nóng như rang
Cháy khô lá cỏ, đốt vàng lá cây
Bầu trời không một bóng mây
Gió vung tay ném cát bay ngang trời...
Áo xanh bạc trắng mồ hôi
Căn phòng yên lặng anh ngồi ghi thư
Yêu sao cái nắng tháng tư
Tháng mà 2 đứa mình từ đó ra
Ngày sinh anh chẳng có quà
Gửi em nỗi nhớ cách xa dặm trường...
Tháng tư là tháng yêu thương
Nắng thì mặc nắng, đừng buồn nghe em.
(THÁNG 4 Ở SÀM RÔNG- Khắc Đồng)
Và sau 9 năm, tôi đón anh về nguyên vẹn trong niềm vui vỡ òa của ngày đoàn tụ. Anh cười rạng rỡ trong bộ quân phục màu xanh, vai áo lấp lánh quân hàm thiếu tá. Trong khi đồng đội anh có người đã nằm lại mãi mãi, có người gửi lại một phần xương máu của mình. Có lẽ niềm tin và tình yêu đã giúp chúng tôi đủ sức vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời gian...
Sau này khi đã nghỉ hưu, anh liên lạc được với đồng đội của đơn vị cũ và cũng 2 lần đưa tôi trở lại thăm chiến trường xưa. Đón chúng tôi là tướng Nixo Van, ủy viên bch Đảng NDCM Campuchia, giám đốc viện TW quân đội, phó cục trưởng tổng cục hậu cần quân đội ND Campuchia, và các đồng đội của anh. Tôi cứ ngỡ ngàng khi một vị tướng đương nhiệm lại có thể bỏ thời gian và công sức ra đưa một anh đại tá về hưu đi thăm thú khắp các danh lam thắng cảnh của nước bạn. Đặc biệt là đưa chúng tôi về thăm bệnh xá của đơn vị cũ, nay đã là bệnh viện tỉnh Xiemriep. Đất nước Campuchia xinh đẹp đã hồi sinh kì diệu sau thảm họa diệt chủng của bè lũ Ponpot. Giây phút chia tay ở sân bay Phnompenh biết bao xúc động và bùi ngùi trong những cái ôm và nắm tay xiết chặt, tôi nhớ mãi cái câu tướng Van đã nói: "Đất nước và nhân dân chúng tôi mãi biết ơn những cống hiến vô điều kiện của quân tình nguyện và đất nước Việt Nam dành cho chúng tôi. Mãi mãi... không bao giờ quên".
Thoắt cái đã 40 năm làm vợ lính, và hơn chục năm làm mẹ lính (các con tôi cũng bước tiếp con đường của bố chúng). Nhìn lại tôi cảm thấy tự hào và may mắn khi có được cuộc sống hôm nay: chưa thật đủ đầy nhưng cũng không hề thiếu thốn. Có người hỏi tôi rằng: "Làm vợ lính rồi có hối hận không em?". Tôi mỉm cười trả lời: "Không hề hối hận".
Trần Tĩnh


4. Dấu Ấn Điện Biên Xưa
Ngày hôm nay, bước qua 68 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, những anh hùng tuổi 20 năm ấy, những người lính dũng cảm, tóc trắng như mây, nhiều người đã trở về với bầu trời xanh mây trắng.
Những anh hùng Điện Biên xưa, những người lính dũng cảm từ chiến trường, có người tiếp tục con đường quân sự, có người về với cuộc sống bình thường.
Nhưng dấu ấn lịch sử vẫn hiện hữu sâu đậm trong ký ức của mỗi người. Mỗi ngày 7/5, tôi vẫn thường chuẩn bị ít bánh kẹo, hoa quả, và ấm nước chè ướp hương nhài để cùng cha và những người đồng đội ông ôn lại những kỷ niệm xưa. Những câu chuyện, mỗi lần được kể lại, luôn đi kèm với một khoảnh khắc im lặng của những đầu tóc đã bạc phơ. Đó là con đường đi qua Suối Rút, Chợ Bờ, nơi mỗi đêm bị đạn bom cày xới. Núi đá vôi bị nổ tung, gạo vãi trắng khắp rừng. Trong những lúc trời nắng chang chang, những chàng trai trẻ mệt mỏi nhận nước từ bàn tay mẹ đứng bên đường, đánh chén xua đi cơn khát. Rồi những ngày mưa bám cứ điểm, ăn cơm nguội dưới mưa rừng, bên chiến hào đẫm máu đồng đội. Rồi anh A, anh Q... rơi xuống khi chỉ còn vài giờ trước chiến thắng. Và cậu H, đẹp như con gái trước khi hy sinh, vẫn cố rút lá thư thấm máu gửi về cho mẹ... Tôi ngồi nghe cha và những người đồng đội ông kể chuyện mà không biết nước mắt chảy ra từ bao giờ. Những câu chuyện ấy khiến tôi hiểu rằng: Cuộc chiến nào cũng có mất mát và hy sinh. Mỗi chiến thắng đều gắn liền với máu và nước mắt của những chàng trai, cô gái đang tuổi thanh xuân.
Những anh hùng làm nên chiến thắng Điện Biên vẫn giữ nguyên phẩm chất bộ đội cụ Hồ và tình đồng đội liên kết qua bao năm tháng. Bước qua cuộc chiến, nhiều lần đối mặt với cái chết, họ hiểu sự sống quý giá đến đâu. Mỗi khi có ai đó ốm đau, họ tự nguyện ngồi túc trực bên giường bệnh. Sẵn sàng chia đến đồng tiền cuối cùng để giúp đỡ bạn mình. Đối với họ, tình đồng đội là thứ thiêng liêng, quan trọng hơn cả máu mủ và ruột rà. Tôi nhớ một lần bố tôi ốm vì vết thương cũ tái phát. Suốt một tuần ông không chạm vào bất kỳ thứ gì, cơ thể gầy khô như dán xuống giường. Mẹ tôi phải nhờ đến đồng đội của ông. Kỳ lạ là chỉ cần nghe vài câu động viên, trêu đùa từ bạn mình, ông đã ngồi dậy ngoan ngoãn ăn hết bát cháo của bạn mình, bón và nở nụ cười như chưa từng nằm ốm mấy ngày. Tình đồng đội giống như phép màu, giúp cha tôi vượt qua bệnh tật hiểm nghèo.
Đau lòng khi chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam, bây giờ lại đang bị lãng quên. Thỉnh thoảng tôi hỏi một số người:
- Ngày 7/5/1954 là ngày gì?
- Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi vào ngày nào?
Thật buồn khi không ít người không nhớ được dấu mốc lịch sử quan trọng này. Dấu mốc mà để có, để có ngày giải phóng Điện Biên, đã có biết bao chàng trai cô gái ngã xuống khi tuổi đời còn non trẻ. Mỗi nắm đất trên đồi A1, trên cánh đồng Mường Thanh, đều chứa đựng máu xương của biết bao người. Bất ngờ tôi có một liên tưởng kỳ lạ: Giá mà những người lính bước ra từ cuộc chiến đó cũng quên đi những đau thương mất mát thì tốt biết mấy. Họ sẽ không phải đau lòng khi nhớ về những đồng đội đã trút hơi thở trước giờ chiến thắng. Họ sẽ không phải đau lòng, dày vòi bởi những mảnh đạn còn nằm trong người mỗi khi gió trở trời.
Những anh hùng Điện Biên năm ấy giờ đã trở thành những cụ ông trên dưới 100 tuổi. Mỗi năm, một vài đồng đội của cha tôi lại cưỡi hạc về với trời xanh. Khi nghe tin bạn mất, ông lại buồn lâu dài. Bởi ông biết, từ giờ trở đi, ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên, ông sẽ không còn gặp họ, không còn ôn lại những câu chuyện xưa. Nhiều lần quên mất, nhớ nhớ, ông hỏi các con:
- Sao lâu rồi không thấy bác ấy, chú ấy sang chơi?
Các con tôi lại phải bìu môi nói về sự vắng bóng của đồng đội ông mà lòng thấy xa xôi.
Năm nay, khi tôi về thăm cha, tặng ông cuốn sách về những anh hùng của Trung đoàn 52 Tây Tiến. Nhìn người lính già run run lật từng trang sách, tôi không thể không ngậm ngùi. Những anh hùng, những nhân chứng lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ ở thành phố Hòa Bình, giờ chỉ còn lại vài người và con đường Tây Tiến các ông từng đi qua năm nào giờ chỉ còn độc nhất. Có thể là năm, mười năm nữa, thế hệ tương lai chỉ biết về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ qua con số, qua những tư liệu khô khan.
Thời gian có thể làm mờ nhiều thứ, nhưng hy vọng rằng không ai quên những dấu mốc lịch sử quan trọng mà thế hệ cha ông đã trả giá bằng máu xương mình. Đừng ai quên những anh hùng đã trải qua cuộc chiến. Bởi dù thời gian có lùi xa bao lâu, ký ức về một thời hào hùng và cũng không ít đau thương sẽ không bao giờ phai nhạt trong trái tim họ.
Hồng Vân


5. Khi ánh sáng ban mai rọi
Mỗi khi bước chân vào tháng Ba, tôi không thể không ngập tràn trong hồi ức và cảm xúc. Trái tim bỗng dưng rạo rực, nhớ ngay đến những dòng thơ dịu dàng nhưng sâu lắng trong bài “Mùa hoa bưởi” của Nghiêm Thị Hằng: 'Chẳng phải vô tình em nhớ tháng Ba/Nhớ về anh, nhớ về hoa bưởi/Cánh hoa rơi lòng em bối rối/Chút hương thầm làng bãi lan xa...'.
Tháng Ba, cái se lạnh vẫn còn lưng chừng, nhưng ánh nắng mặt trời đã làm tan chảy mái tóc, làm ấm áp không khí. Tháng Ba thật tuyệt vời, trữ tình và luôn gắn liền với những người mơ mộng và cảm xúc....
Tháng Ba trở lại với những tia nắng vàng như những giọt mật ngọt. Ánh sáng mặt trời ôm lấy tâm hồn, tạo nên không khí trong lành, nhẹ nhàng. Tháng Ba bước ra từ sự ẩm ướt của tháng giêng, làm hồi sinh sức sống tuyệt vời. Cả bầu trời, mọi thứ tựa như tỉnh giấc, cây cỏ nảy mầm khắp nơi. Cuộc sống trở lại với nhịp điệu vui tươi.
Tháng Ba mang theo bao ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ Việt Nam. Đó là tháng của niềm tin, hy vọng, của những hoạt động tình nguyện. Tháng Ba là tháng của sự nhiệt huyết, những trái tim luôn sẵn sàng hy sinh… Và với thế hệ Bác Hồ, tên gọi “Tháng Thanh niên” vẫn là biểu tượng tuyệt vời nhất.
Với những người lính biển, Tháng Ba - Tháng Thanh niên mang đến biết bao cảm xúc. Là một lực lượng lớn, họ hiện diện ở mọi nơi, từ đất liền đến biển cả, từ nhà máy đến những con tàu xa xôi. Tháng Thanh niên là cơ hội để những người lính biển thể hiện bản lĩnh. Những chiến sĩ trẻ biển đã biến Tháng Thanh niên thành những hành động thiết thực, khuyến khích học tập, rèn luyện, sáng tạo và mang tới tình cảm, lòng nhân ái đến với cộng đồng.
Trước mắt, hình ảnh những giọt mồ hôi rơi xuống đất, hứa hẹn những bông hoa thơm, quả ngọt trong tương lai. Những giọt mồ hôi làm cho các chiến sĩ trẻ trở nên mạnh mẽ, chín chắn hơn, sớm trở thành cột mốc chủ chốt, tiếp nối truyền thống, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc mỗi khi cần.
Trong ánh nắng vàng của tháng Ba, giữa không gian rộn ràng, những chiến sĩ trẻ vẫn hăng say rèn luyện từng chi tiết kỹ thuật chiến đấu. Mỗi cá nhân đều tự hào thể hiện tinh thần thi đua, rèn luyện chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu. Họ đã và đang thể hiện quyết tâm cao nhất để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những giọt mồ hôi tuôn rơi, làm ướt vai áo lính. Mồ hôi dài chảy trên khuôn mặt đầy nắng. Mồ hôi rơi từng giọt xuống bệ pháo, từng bộ phận trên tàu, trạm. Mồ hôi rơi trên trang sách giữa bài giảng ngoài trời. Mồ hôi rơi xuống bãi cát như nồng nàn hương thơm. Dù nắng nóng, dù mưa gió, dù mồ hôi đã làm khô cơ thể, những người lính biển vẫn kiên trì luyện tập, tập trung vào từng chi tiết, mục tiêu huấn luyện. Gương mặt họ rạng rỡ, thể hiện tinh thần vượt khó khăn, dũng cảm và kiên nhẫn. Những giọt mồ hôi là minh chứng cho sự cố gắng phi thường của họ, vì đã là người lính, họ nhớ khẩu hiệu: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu!”. Đó là tôn chỉ, mục tiêu để mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân trui rèn, khổ luyện, phấn đấu vươn lên. Sự khổ luyện đó là niềm tin vào ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
“Thanh xuân như một ly trà” - những người lính trẻ đã và đang chứng minh trách nhiệm, năng lực của mình trong mọi lĩnh vực. Họ sẽ ghi lại những khoảnh khắc, kỷ niệm đáng nhớ trong cuốn album thanh xuân của mình. Khi nhắc đến tuổi thanh xuân, tôi chắc chắn ai cũng sẽ nhớ về tháng Ba dấu yêu...
“Tháng Ba về lòng trào dâng ngọn sóng/ Vai áo mềm ướt đẫm giọt mồ hôi/ Thao trường nắng nở hoa trên nòng pháo/ Tiếng biển khơi rộn rã trong tôi...!”...
- Mạnh Thường -


6. Kỷ niệm Ngày 30/4 trong hồi ức người lính
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng những ký ức về ngày 30 tháng 4 năm 1975 - những người lính không bao giờ quên.
Trung đoàn tôi, đơn vị tên lửa phòng không, đã tham gia tiêu diệt máy bay xâm phạm bầu trời Quân Khu Bốn cùng với các đơn vị khác.
Chúng tôi, từng bước tiến vào cuộc chiến giải phóng miền Nam trong không khí hồi hộp và háo hức. Sẵn sàng đối mặt với mọi thách thức.
Với đội ngũ chiến sĩ và vũ khí hiện đại, chúng tôi dẫn đầu hành trình với niềm tin vào chiến thắng cuối cùng.
Đi qua những thị trấn, thành phố, chúng tôi cảm nhận niềm vui tự do lan tỏa, và niềm hạnh phúc khi chứng kiến lá cờ giải phóng hiện hữu trên đỉnh Dinh Độc Lập.
Thời khắc ấy, không gian trở nên rộng lớn, màu xanh của cây lá và biển xanh hòa quyện với niềm vui trong lòng mỗi người.
Chúng tôi, những người lính, đã chung lòng, đồng lòng giúp đất nước thắng lợi. Hành quân không ngừng, với tâm huyết và niềm tin vào một Việt Nam thống nhất.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dinh Độc Lập chính thức được giải phóng, đánh dấu sự kết thúc của hành trình gian khổ nhưng đầy ý nghĩa của chúng tôi.
Là một phần của lịch sử lẫn lòng dũng cảm của những người lính, chúng tôi tự hào vì đã đóng góp vào chiến thắng lịch sử, tạo nên ngày 30 tháng 4 quốc gia.
Hòa bình và tự do đã trở lại, không còn tiếng súng, bom nổ. Đất nước hòa mình trong một hạnh phúc mới, không gian đầy niềm vui và tương lai tươi sáng.
Chúng ta, từ nay, hãy xây dựng cuộc sống an bình, không có chia lìa, không có đau thương. Mỗi con người Việt Nam đều có quyền sống tự do, hạnh phúc, và mơ ước về một tương lai hòa bình.
Cùng nhau bước đi, xây dựng đất nước đẹp đẽ, và giữ mãi kỷ niệm về ngày 30 tháng 4 - ngày chiến thắng toàn dân tộc.
Phạm Minh Giang


7. Những bức thư từ thời kỳ chống Mỹ
Trong thời đại hiện đại với Internet và điện thoại thông minh, nhiều người có lẽ không còn quan tâm đến lá thư nhưng với chúng tôi, những người lính, lá thư vẫn giữ nguyên giá trị thiêng liêng và lung linh trong ký ức.
Lá thư nhà, những bức thư gửi từ hậu phương, vẫn mãi là những đại sứ của sự nhớ nhung, là đại sứ của tình yêu chung thủy và niềm tin vững bền của hàng triệu con người Việt Nam trong những thời điểm khó khăn.
Phạm Minh Giang


8. Tiếp tục hát khúc quân hành
Màu xanh của cỏ úa luôn hiện hữu trong trái tim tôi, từ những ngày thơ bé hát vang bài “Cháu yêu chú bộ đội” đến những kỷ niệm ngọt ngào với những lá thư trải dài về giảng đường đại học...
Duyên phận không làm cho tôi trở thành vợ lính, nhưng tôi không ngừng yêu màu xanh của quân phục và những giai điệu về người lính. Một trong những bản nhạc yêu thích của tôi là “Hát mãi khúc quân hành”. Những ngày đại dịch, hình ảnh những người lính trên đường phố Sài Gòn, canh gác mọi nẻo đường, hỗ trợ người dân, làm tôi xúc động. Nhớ về thời chiến tranh, thành phố Vinh quê tôi là điểm chứng kiến của nhiều đơn vị bộ đội từ phía Bắc hành quân xuống Nam. Những người lính trẻ tuổi dừng chân ở mỗi thôn là nguồn cảm hứng với tiếng cười, tiếng hát. Những đứa trẻ như chúng tôi được dạy hát, nghe về những vùng quê xa xôi, được tặng những bài thơ trong cuốn sổ mà hầu như đứa trẻ nào cũng có. Rồi đến ngày chia tay, với nước mắt và những chiếc khăn tay vẫy...
“Dù rằng đời ta thích hoa hồng
Kẻ thù buộc ta ôm cây súng”
Khi những lời ca đẹp ấy vang lên, trước mắt tôi là đoàn quân đi, những khuôn mặt trẻ trung, tươi tắn của những chàng trai mười tám vừa rời trường học. Họ mang theo những kỷ niệm của tuổi học trò, những cảm xúc đầu đời, niềm thương nhớ mẹ cha… để ra đi khi Tổ Quốc gọi. Chiến tranh có vẻ lùi xa, nhưng “giặc Covid” lại đưa họ vào cuộc chiến mới. Họ là những người lính không ngần ngại, luôn ở tuyến đầu trong mọi cuộc chiến…
“Mãi mãi lòng chúng ta
Ca bài ca người lính
Mãi mãi lòng chúng ta
Vẫn hát khúc quân hành ca…”
Nhìn màu xanh áo lính trên đường phố Sài Gòn, tôi nhớ về khúc quân hành của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền, để lại dư âm xao xuyến trong tâm hồn. Mãi mãi trong tôi, tình yêu màu áo xanh – biểu tượng của sự bình yên và niềm tin chiến thắng!
Nguyễn Minh Nguyệt


9. Hồi tưởng!
Nghe bài hát 'Đời là khúc quân hành' giữa bốn phương trời. Dòng nước mắt mặn mòi, hồi ức về Cha nghẹn ngào!
Kí ức từ thời thơ ấu, tiếng hát của Cha rộn ràng trong mỗi buổi sáng, chiều, khi Cha hạnh phúc. Tiếng hát khiến con thuộc lòng, yêu thích những giai điệu như 'Nhạc rừng', 'Lá đỏ'... từ những buổi Cha hát. Con nhớ nhất là khi chiếc đài bán dẫn phát lên những giai điệu của 'Cô gái Sầm Nưa' hay 'Anh lính tình nguyện và cô gái Lào', Cha vẫn múa Lăm Vông nhịp nhàng. Trong những câu chuyện trầm ấm của Cha, con được biết về cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, đồng sả hun hút dưới ánh chiều tím thẫm, và điệu múa của cô gái Lào bên bếp lửa bập bùng... Tuổi trẻ của Cha đã dành cho chiến trường, những năm tháng hùng vĩ xanh của bộ đội tình nguyện trên nước bạn láng giềng...
Người lính của con giữ nguyên phẩm chất anh hùng cụ Hồ trong cuộc sống bình thường. Cha không ngần ngại để chăm sóc gia đình, giúp đỡ họ hàng, bà con láng giềng. Hội cựu chiến binh phường với Cha và các bác cựu chiến binh trở nên sôi động, ý nghĩa. Ngày lễ, Cha trang nghiêm trong bộ quân phục, lấp lánh huân huy chương, bận rộn tập văn nghệ, thổi sáo, múa khèn. Trước mắt con là hình ảnh những chàng trai cô gái rạng ngời như trẻ thơ, sống những ngày 'sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước'. Đứa trẻ là con quá bé để hiểu niềm vui, hạnh phúc của những người đã dành tuổi thanh xuân cho đất nước và giờ đây vẫn được hát khúc quân hành giữa thênh thang hòa bình. Tiếng hát từ kí ức, cho hiện tại và tương lai.
Những ngày nằm giường bệnh, chiếc đài là người bạn đặc biệt của Cha. Trong cơn đau, Người vẫn tìm công tắc để nghe chương trình quân đội nhân dân. Các ca khúc nhạc đỏ vẫn vang lên, nhưng không còn tiếng hát của Cha. Cha nằm im lặng, thấm thía những ca từ trong từng thớ thịt, hơi thở nhọc nhằn. Tiếng hát giữ Cha lại, bồi đắp niềm tin để Người chiến đấu với bệnh tật, trải qua 13 năm vật vã sau hai lần tai biến. Diệu kì thay!!!
Cha biết không, hôm thanh minh về thăm Cha, con đã dừng lại rất lâu nơi cây gạo già đầu xóm. Cây gạo đứng đó từ khi con nhấp nhỏm sau xe Cha về quê ngày Tết, là cọc tiêu để đứa trẻ sinh ra ở thị thành không quên dấu dẫn về quê nội. Từ thân cây nứt nẻ, khô sần đã bật lên những bông gạo đỏ thắm thiết tha. Loài hoa rụng xuống vẫn còn nguyên sắc, chẳng bị úa màu. Con nghĩ về Cha, người lính của con như thân cây già nua, vẫn thao thiết chảy nguồn nhựa sống thiết tha xanh khúc ca với cuộc đời.
Chúng con may mắn và tự hào là con của Người Lính, Cha ơi!
Tháng Mười


10. Đoản cảm từ đỉnh sóng
Xuân đã để lại nỗi nhớ trên cành đào, chính tay con trồng. Nơi con đến là Trường Sa, tấm lá chắn giữa bão giông, thành đồng biển cả nơi đỉnh sóng. Người lính đảo, những người tô màu cờ bằng máu và mồ hôi, tô điểm cho Biển Đông, là Mẹ là Tổ Quốc.
Trường Sa khi con đến, nắng dịu, gió mơn man, biển êm đềm. Đêm Trường Sa, niềm yêu thương chảy trong từng núi đá, từng con sóng nhỏ, từng quả bàng vuông. Mẹ dìu lối con, biển xanh hiền hoà, tiếng sóng là lời ru ấm áp. Tất cả, từng bông bàng, từng hạt cát trắng, từng ngọn muống biển, những con còng bé tẻo teo, là những đứa con của Mẹ, được ôm ấp chở che.
Người Mẹ là cái dấu ngã trải dài từ Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mau. Mẹ chắn che bão tố, ngọn hải đăng giữa đại dương. Cứng rắn nhưng mềm dẻo, sẵn sàng nhấn chìm loài hải tặc nhưng giàu lòng nhân ái. Mẹ không dung tha cho kẻ bán dân, không dung tha cho phường sâu bọ, nhưng thứ tha cho những kẻ lầm lỡ, biết quay đầu hướng về bến bờ lương thiện. Tấm lòng của Mẹ bao dung đến lạ!
Mẹ là ngọn Hải Vân chịu muôn ngàn cơn lốc, đôi vai gầy gánh cả nước non. Mẹ đau nỗi đau miền trung chìm trong bão lũ. Mẹ quặn lòng trong tang tóc Rào Trăng, rớm máu khi con yêu ra đi, mắt đỏ vì đứa con đói cơm lạnh áo. Mẹ thương đàn trẻ thơ, thương thầy cô giáo lặn lội cõng chữ lên ngàn đạp đá tai mèo tứa máu dưới chân. Mẹ thương công nhân tăng ca thêm kíp, thương bàn chân trần không dép trèo núi làm nương dưới cái nắng chang lửa đổ.
Mẹ là khúc dân ca, là ngọn gió thu đưa con vào giấc ngủ say nồng. Mẹ khêu ngọn đèn sáng ước mơ con. Đêm Trường Sa, Mẹ ru con với tiếng sóng, phủ kín không gian, trở về với giấc mơ xưa. Con gối đầu lên trái tim Tổ Quốc, lắng nghe nhịp rung ngân da diết vọng trăm năm. Mẹ ruột miền trung, mắt rơm máu nhìn những đứa con yêu, thương những đám đông đang chống chọi với đại dịch.
Đêm Trường Sa, mảnh chăn trăng phủ kín không gian, đất trời bình yên. Mùa xuân là Mẹ, là nụ cười trẻ thơ, là nỗi yêu thương, là Trường Sa nơi con ở. Mùa xuân là Mẹ, Mẹ là Tổ Quốc trong con!
An Giang


