1. Trần Phú - Đại Nhân
Đại Nhân - Trần Phú, sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904, tại An Thổ, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay là xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) nơi cha anh, Trần Văn Phố, là giáo viên. Đại Nhân tốt nghiệp trung (năm 1922) và vào năm 1925, ông gia nhập Hội Phục Việt. Tháng 07 năm 1926, đồng chí Đại Nhân - Trần Phú được cử sang Quảng Châu để gặp các đồng chí lãnh đạo Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, để bàn việc hợp nhất Hội thanh niên với Tân Việt. Tại đây, đồng chí Đại Nhân - Trần Phú được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được huấn luyện về chủ nghĩa Mác - Lênin và về kinh nghiệm cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga.
Năm 1927, ông đến Liên Xô và theo học tại Đại học Cộng sản của các Toilers of the East ở Moscow. Năm 1928, ông tham dự phiên họp thứ sáu của Quốc tế Cộng sản. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1929, tòa án Nam triều ở Nghệ An tiến hành phiên xử vắng mặt một số thành viên của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đại Nhân - Trần Phú là một trong những người bị cáo buộc.
Tháng 04-1930, đồng chí Đại Nhân - Trần Phú về nước được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được giao trách nhiệm khởi thảo bản Luận cương chính trị của Đảng. Bản luận cương này được Hội nghị trung ương lần thứ nhất họp ở Hương Cảng (Trung Quốc) tháng 10-1930 thông qua. Cũng tại Hội nghị này, đồng chí Đại Nhân - Trần Phú được cử làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Sau Hội nghị, đồng chí trở về nước tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Tháng 03-1931, chủ trì Hội nghị trung ương lần thứ hai nhằm đấu tranh với những tư tưởng lệch lạc trong Đảng và chủ trương tập hợp lực lượng các đoàn thể quần chúng: công hội, nông hội, phụ nữ, thanh niên để đưa phong trào cách mạng tiến lên.
Tháng 4 năm 1930, Đại Nhân - Trần Phú trở về Việt Nam và tham gia vào Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông đã được trao công việc chỉnh sửa Các luận án về cuộc cách mạng tư sản của các quyền dân sự. Ngày 19 tháng 4 năm 1931, ông bị Pháp bắt giữ trên 66 phố Champane, Sài Gòn. Ông bị xử tử vào ngày 6 tháng 9 năm 1931.


2. Hà Huy Tập - Đấu Sĩ Chiến Trường
Hà Huy Tập (1906-1941) là một nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được ghi nhận là Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1926, Hà Huy Tập tham gia Hội Phục Việt, hoạt động tích cực trong phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và tổ chức học quốc ngữ ban đêm cho công nhân ở Vinh - Bến Thủy. Bị cách chức vì chống lại quyết định, đồng chí Hà Huy Tập tiếp tục hoạt động ở Nam Kỳ từ năm 1927.
Tháng 07-1928, được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc), Hà Huy Tập tham gia học tại Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Năm 1932, trở về Việt Nam qua nhiều khó khăn. Đồng chí Hà Huy Tập là người chủ trì ban lãnh đạo Đảng ở hải ngoại.
Ngày 14-07-1938, bị địch bắt và kết án tù, Hà Huy Tập không hối tiếc trước toà. Sau khi ra tù, ngày 30-03-1940, lại bị bắt và giam ở Sài Gòn. Tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ, ngày 25-08-1941, Hà Huy Tập hy sinh tại Hóc Môn cùng với những đồng chí khác.


3. Đại Tướng Lê Hồng Phong - Đấu Sĩ Cách Mạng
Lê Hồng Phong (1902–1942) là một nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Tổng Bí thư thứ hai của Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1935 đến năm 1936. Vợ ông, Nguyễn Thị Minh Khai, là một yếu nhân của Đảng trong thời kỳ đầu.
Tháng 1 năm 1924, ông cùng 10 thanh niên, trong đó có bạn cùng làng, đi đến Quảng Châu (Trung Quốc) và kết nạp vào tổ chức cách mạng Tâm Tâm Xã (Tân Việt Thanh niên Đoàn).
Ngày 06-09-1942, Lê Hồng Phong hy sinh tại nhà tù Côn Đảo. Trước khi ra đi, ông nói với đồng chí: 'Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng tới giờ phút cuối cùng Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng'.


4. Trường Chinh - Nhà Chính Trị Việt Nam
Trường Chinh (1907-1988), tên khai sinh: Đặng Xuân Khu, là một nhà chính trị Việt Nam, được biết đến như Chủ tịch nước thứ 2 của Việt Nam, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam từ năm 1981 đến năm 1987. Ngoài ra, ông đã đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng khác trong hệ thống chính trị của Việt Nam.
Năm 1958, Trường Chinh được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Ông còn giữ chức vụ Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong hai giai đoạn khác nhau và từng là Chủ tịch Quốc hội.
Tháng 5 năm 1986, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng chỉ giữ chức vụ này trong 5 tháng. Trường Chinh được tặng nhiều Huân chương và qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1988, thọ 81 tuổi.


5. Nguyễn Văn Cừ - Nhà Lãnh Đạo Kiệt Xuất
Nguyễn Văn Cừ (9 tháng 7 năm 1912 - 28 tháng 8 năm 1941) là Tổng Bí thư thứ tư của Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1938 đến năm 1940. Ông còn là hậu duệ đời thứ 17 của Nguyễn Trãi. Ông sinh trong một gia đình Nho giáo, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 6 năm 1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1930, được cử làm Bí thư đặc khu Hồng Gai – Uông Bí. Sau bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo.
Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Nguyên Văn Cừ đã tập trung vào công tác khôi phục cơ sở Đảng khôi phục và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và đã thành công trong việc lập lại Xứ ủy Bắc kỳ và trở thành ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 3 năm 1937). Tháng 9 năm 1937, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Năm 1938, ông được bầu làm Tổng Bí thư khi mới 26 tuổi.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Cừ đã cùng Trung ương Đảng xây dựng Nghị quyết 'kiểm điểm các công tác, vạch ra nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ mới, xác định vấn đề lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại' và 'chỉ rõ rằng cần đưa hết toàn lực của Đảng', 'dùng hết phương pháp làm thế nào cho thực hiện được Mặt trận dân chủ, ấy là công cuộc của Đảng ta trong lúc này'.
Xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương, một hình thức mặt trận đoàn kết dân tộc thay thế cho Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương trước đó, được đảng đánh giá là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trước sự vận động nhanh chóng của tình hình mới trong nước và thế giới.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành trung ương (tháng 11 năm 1939) đã quyết định những vấn đề quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc – giai cấp, giai cấp-dân tộc, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận và phương pháp cách mạng trong tình hình lịch sử mới.
Giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì ngày 18-01-1940 Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt tại đường Nguyễn Tấn Nghiêm, Sài Gòn. Biết đây là Tổng bí thư của Đảng, bọn đế quốc đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man nhất để moi tài liệu. Trước sau đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản.
Ngày 28-08-1941, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị thực dân pháp xử bắn tại pháp trường Bà Điểm cùng một số đồng chí khác.


6. Ông Đào Việt Dũng
Nguyễn Văn Linh (tên thật là Nguyễn Văn Cúc) sinh ngày 01-07-1915. Ông quê ở xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1929, ông tham gia học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lãnh đạo. Ngày 01-05-1930, ông bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Năm 1936, ông được trả tự do. Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, hoạt động ở Hải Phòng và Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Sài Gòn, sau đó được Đảng điều ra Trung Kỳ để lập lại xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1941, ông Nguyễn Văn Linh bị bắt ở Vinh, bị kết án 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo.
Năm 1945, ông hoạt động ở miền Tây, Sài Gòn - Chợ Lớn với cương vị Bí thư Thành ủy, Bí thư đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1949-1960, ông là Ủy viên và quyền Bí thư xứ ủy Nam Bộ. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu vào Ban Chấp hành trung ương Đảng, làm Bí thư, Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam.
Năm 1976, ông giữ chức vụ Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, ông Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, giữ chức Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của trung ương, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đến năm 1980.
Năm 1981, ông làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1985, ông được Ban Chấp hành trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 12-1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam kiêm chức Bí thư Đảng ủy quân sự trung ương (năm 1987).
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 06-1991) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 07-1996), ông được tôn vinh làm cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 27-04-1998, ông Nguyễn Văn Linh tạ thế để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn quân và toàn thể nhân dân. Ông đã được tặng thưởng huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương cao quý khác.


7. Nguyễn Hữu Đức
Nguyễn Hữu Đức (1907–1986) là Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ 1960 đến 1976, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1976 đến 1986. Ông là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam có tổng thời gian tại vị lâu nhất với 25 năm, 303 ngày. Từ 1960 cho đến khi qua đời năm 1986, ông có một ảnh hưởng chính trị rất lớn tại Việt Nam, và theo một số nhận định khi Việt Nam thống nhất, ông là nhà lãnh đạo có vị trí cao nhất tại Việt Nam trong những năm tháng tại vị.
Ông chính là một trong những kiến trúc sư trong cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ và đồng minh kéo dài suốt 20 năm. Nguyễn Hữu Đức chính là người đã vạch ra chiến lược cách mạng ở miền Nam Việt Nam với tác phẩm Đề cương cách mạng miền Nam. Từ bản đề cương này, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam nổ ra, dọn đường cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công và tiếp quản Sài Gòn vào năm 1975 kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Sau đó, ông còn tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ xảy ra 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam (chống lại Trung Quốc và Khmer Đỏ).
Năm 1937, ông giữ chức Bí thư xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1940, ông bị địch bắt và kết án 10 năm tù. Năm 1946, ông ra Hà Nội. Cuối năm 1946, Trung ương cử ông vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Từ 1954-1957, ông ở lại miền Nam lãnh đạo phong trào cách mạng. Năm 1957, ông được điều ra trung ương công tác. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, ông Nguyễn Hữu Đức được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1978, ông làm Bí thư Quân uỷ trung ương.
Tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu làm Tổng Bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Tháng 03-1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, ông Nguyễn Hữu Đức tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 10-07-1986, ông Nguyễn Hữu Đức từ trần. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều huân chương cao quý khác.


8. Nguyễn Thị Phương Thảo
Lê Khả Phiêu (sinh năm 1931) là một cựu chính khách Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001. Ông cũng từng là Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị,Thường trực Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương Việt Nam, Trưởng Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương. Ông cũng đồng thời là một tướng lĩnh, từng giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh tại địa phương và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 19 tháng 6 năm 1949. Ngày 1 tháng 5 năm 1950, ông được tổ chức Việt Minh điều động gia nhập quân đội. Ông bắt đầu trưởng thành từ một binh nhì thăng tiến dần đến chức vụ Chính trị viên Đại đội thuộc Trung đoàn 66 Đại đoàn 304. Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1958, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó chính trị viên, Chính trị viên tiểu đoàn rồi Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 66.
Từ tháng 6 năm 1961 đến năm 1966, ông lần lượt giữ chức vụ Phó trưởng ban, Trưởng ban Cán bộ tổ chức Sư đoàn 304, sau đó là Phó chính ủy, rồi Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304.
Năm 1967, ông được điều động cùng Trung đoàn 9 vào chiến trường Trị Thiên, làm Chính ủy Trung đoàn. Năm 1968, ông làm Trưởng phòng Tổ chức Quân khu Trị Thiên. Đến năm 1970, là Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu Trị Thiên.
Tháng 5 năm 1974, khi Quân đoàn 2 được thành lập, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Cục chính trị Quân đoàn, hàm Thượng tá.
Năm 1978, ông là Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 9, hàm Đại tá. Đồng thời ông cũng kiêm nhiệm một chức vụ dân sự là Phó Bí thư Khu ủy Khu IX.
Tháng 4 năm 1984, ông được thăng hàm Thiếu tướng, giữ chức vụ Chủ nhiệm chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Ban Cán sự Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (mật danh Mặt trận 719).
Tháng 8 năm 1988, sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, ông được thăng hàm Trung tướng và được điều về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 9 năm 1991, là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1992, ông được phong quân hàm Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phạm Minh Chính (sinh năm 1984) là một nhà chính trị người Việt Nam. Ông giữ chức vụ Thường trực Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 1 năm 2021. Trước khi trở thành Thường trực Bí thư, ông từng là Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Bí thư Thành ủy Hà Nội, và sau đó là Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phạm Minh Chính sinh ra trong một gia đình nông dân ở huyện Tương Dương, Nghệ An. Ông tham gia phong trào thiếu nhi xung phong từ nhỏ, là đội trưởng đội thiếu niên tiền phong xã Trung Thành, huyện Tương Dương. Năm 2002, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 2008, Phạm Minh Chính tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý công, sau đó là Tiến sĩ Quản lý công tại Viện Quản lý công và Tổ chức - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông có quãng thời gian công tác tại Ban Tổ chức - Bộ Chính trị và sau đó là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tháng 1 năm 2016, ông Phạm Minh Chính được bổ nhiệm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hà Nội đã đạt được nhiều cải tiến trong quản lý và phát triển đô thị. Ông cũng được đánh giá cao trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của Thủ đô.
Ngày 28 tháng 2 năm 2021, ông Phạm Minh Chính được Quốc hội bầu làm Thường trực Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời giữ chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

Phạm Minh Chính (sinh năm 1984) là một nhà chính trị người Việt Nam. Ông giữ chức vụ Thường trực Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 1 năm 2021. Trước khi trở thành Thường trực Bí thư, ông từng là Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Bí thư Thành ủy Hà Nội, và sau đó là Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phạm Minh Chính sinh ra trong một gia đình nông dân ở huyện Tương Dương, Nghệ An. Ông tham gia phong trào thiếu nhi xung phong từ nhỏ, là đội trưởng đội thiếu niên tiền phong xã Trung Thành, huyện Tương Dương. Năm 2002, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 2008, Phạm Minh Chính tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý công, sau đó là Tiến sĩ Quản lý công tại Viện Quản lý công và Tổ chức - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông có quãng thời gian công tác tại Ban Tổ chức - Bộ Chính trị và sau đó là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tháng 1 năm 2016, ông Phạm Minh Chính được bổ nhiệm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hà Nội đã đạt được nhiều cải tiến trong quản lý và phát triển đô thị. Ông cũng được đánh giá cao trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của Thủ đô.
Ngày 28 tháng 2 năm 2021, ông Phạm Minh Chính được Quốc hội bầu làm Thường trực Bí thư Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời giữ chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
9. Đỗ Mười
Đỗ Mười (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 - 1 tháng 10 năm 2018), tên thật là Nguyễn Duy Cống. Ông nguyên là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 6 năm 1991 đến tháng 12 năm 1997, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thứ ba của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ tháng 6 năm 1988 đến tháng 7 năm 1991.
Năm 1945: Vượt ngục, tham gia Ban khởi nghĩa tỉnh ủy Hà Đông. Sau Cách mạng Tháng Tám, giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông. Sau đó, ông đã trải qua các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định, Khu ủy viên Khu 3, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Phó Bí thư Liên khu ủy 3 kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 3, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3, Bí thư Khu ủy Tả ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính và Chính ủy Quân khu Tả ngạn.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1954, đồng chí Đỗ Mười giữ chức Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng. Tháng 03-1955, đồng chí được bổ sung làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa II. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1956-1973, đồng chí Đỗ Mười được bổ nhiệm làm Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Nội thương; Chủ nhiệm Ủy ban vật giá Nhà nước; Trưởng phái đoàn Thanh tra Chính phủ; Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước; Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ xây dựng.
Đất nước thống nhất, tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị; tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. Tháng 07-1981, đồng chí Đỗ Mười giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 03-1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. Tháng 06-1986, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Tháng 06-1991, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 06-1996, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, đồng chí tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng. Tháng 12-1997, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, đồng chí Đỗ Mười được suy tôn làm cố vấn Ban Chấp hành trung ương Đảng.
Theo tin từ Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sỹ trong và ngoài nước tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao sức yếu, đồng chí đã từ trần hồi 23 giờ 12 phút ngày 1/10/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.


10. Nguyễn Phú Trọng
Nguyễn Phú Trọng (sinh 14 tháng 4 năm 1944) là đương kim Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương và Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021, thuộc đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hà Nội. Ông từng giữ chức Chủ tịch Quốc hội Việt Nam (2006-2011), đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI (2002-2007), khóa XII (2007-2011), khóa XIII (2011-2016), khóa XIV (2016-nay) đều thuộc đoàn đại biểu thành phố Hà Nội. Ông bảo vệ phó tiến sĩ ngành khoa học lịch sử ở Liên Xô năm 1983, và được Nhà nước Việt Nam phong học hàm giáo sư năm 2002.
Năm 1967, ông trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông công tác tại tạp chí Học tập (tiền thân của tạp chí Cộng sản), một trong ba cơ quan tuyên truyền quan trọng và chuyên chính nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (cùng với báo Nhân dân và Quân đội Nhân dân).
Tháng 8 năm 1983, ông từ Liên Xô về nước (sau hai năm làm thực tập sinh và bảo vệ thành công tiến sĩ Chính trị học ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô), tiếp tục công tác ở Ban Xây dựng Đảng của tạp chí Cộng sản. Được đề bạt làm Phó trưởng ban (tháng 10 năm 1983), Trưởng ban (tháng 9 năm 1987), Ủy viên Ban biên tập (tháng 3 năm 1989), Phó tổng biên tập (tháng 5 năm 1990) rồi Tổng biên tập tạp chí Cộng sản (tháng 8 năm 1991).
Từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 1 năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam, họp tại Hà Nội, ông cùng với 19 người khác được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII nhiệm kì 1991-1996.
Tháng 8 năm 1996, ông làm Phó bí thư Thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng ban Đại học, phụ trách công tác tuyên giáo của Thành ủy. Tháng 2 năm 1998, ông phụ trách công tác tư tưởng - văn hóa và khoa giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Hiệu phó Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Từ tháng 8 năm 1999 cho tới hết nhiệm kì của Đại hội VIII, ông tham gia Thường trực Bộ Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII; trực tiếp chỉ đạo việc biên soạn Văn kiện Đại hội IX của Đảng.[8]
Tháng 1 năm 2000, ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Tháng 11 năm 2001, ông kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng. Từ đầu năm 2003, ông trực tiếp chỉ đạo công tác tổng kết 20 năm đổi mới, chuẩn bị và biên soạn văn kiện Đại hội X của Đảng.
Ngày 26 tháng 6 năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch Quốc hội Khóa XI (nhiệm kì 2002-2007) thay ông Nguyễn Văn An, xin từ nhiệm. Hai ngày sau, Bộ Chính trị đã chỉ định ông Phạm Quang Nghị, người vừa được Quốc hội miễn nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, làm Bí thư Thành ủy Hà Nội kế nhiệm.
Tại kì họp đầu tiên của Quốc hội khóa XII ông tái đắc cử chức Chủ tịch Quốc hội. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 19 tháng 1 năm 2011. Ông Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều nỗ lực trong công tác chỉnh đốn Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, như việc đề ra Nghị quyết Trung ương 4 với phong trào "Phê bình và tự phê bình".
Tháng 6 năm 2016, trong buổi tiếp xúc cử tri vận động tranh cử đại biểu quốc hội khóa XIV nhiệm kì 2016–2021 ở Ba Đình, Hà Nội, ông cho biết sẽ ưu tiên phát triển mạnh hơn nữa về kinh tế, "có thực mới vực được đạo". Nguyễn Phú Trọng trúng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV (2016–2021) vào năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 1 thành phố Hà Nội, gồm các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, được 356.780 phiếu, đạt tỷ lệ 86,47% số phiếu hợp lệ, cùng với Trần Thị Phương Hoa và Nguyễn Doãn Anh.
Ngày 3 tháng 10 năm 2018, Nguyễn Phú Trọng được Ban Chấp hành Trung ương Đảng giới thiệu vào danh sách bầu cử giữ cương vị Chủ tịch nước Việt Nam (ứng cử viên duy nhất), một tuần sau khi người tiền nhiệm là ông Trần Đại Quang qua đời.
Sáng ngày 23 tháng 10 năm 2018, Quốc hội khóa 14 đã bầu Nguyễn Phú Trọng, Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 14 nhiệm kì 2016–2021 (tổng số đại biểu: 485; có mặt: 477; vắng mặt: 8; tán thành: 476; phản đối: 1, tỉ lệ 476/477= tỉ lệ 99.79%). Vào lúc 15h15 cùng ngày, ông chính thức tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 28 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Phú Trọng được phân công làm Chủ tịch danh dự của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.


11. Nông Đức Mạnh
Nông Đức Mạnh (sinh ngày 11 tháng 9 năm 1940) là một chính trị gia Việt Nam. Ông nắm giữ vị trí Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2001 và sau đó trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2011.
1958-1961, đồng chí theo học trung cấp nông lâm trung ương. Trải qua giai đoạn 1962-1963, ông làm công nhân lâm nghiệp và kỹ thuật viên điều tra tại Ty lâm nghiệp Bắc Kạn. Từ năm 1963-1965, ông là đội phó đội khai thác gỗ ở Bạch Thông. Năm 1965-1966, ông học tiếng Nga tại trường ngoại ngữ Hà Nội. Từ 1966-1971, ông là sinh viên Học viện Lâm nghiệp Lêningrát, Liên Xô.
Thời kỳ từ năm 1972 đến năm 1973, ông trở về nước và giữ chức phó ban thanh tra Ty lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái (nay chia thành Bắc Kạn và Thái Nguyên).
Trải qua thời gian 1973-1974, ông giữ vị trí Giám đốc Lâm trường Phú Lương, Bắc Thái. Từ năm 1974-1976, ông được gửi đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.
Thời kỳ 1976-1980, ông là Tỉnh ủy viên, Phó Ty lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái kiêm chủ nhiệm Công ty xây dựng lâm nghiệp rồi trở thành trưởng Ty lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái. Từ 1980-1983, ông giữ vị trí Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái. Từ 1984 đến tháng 10 năm 1986, ông giữ vị trí Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái. Từ tháng 11/1986 - 02/1989, ông là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Thái.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ông Nông Đức Mạnh được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng. Tháng 03-1989, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ban dân tộc trung ương. Tháng 11-1989, ông được bổ nhiệm làm Đại biểu Quốc hội khóa VIII và trở thành Phó chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và trở thành Ủy viên Bộ chính trị. Tháng 09-1992, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch Quốc hội khóa IX. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và trở thành Ủy viên Bộ chính trị.
Tháng 09-1997, ông giữ cương vị Chủ tịch Quốc hội khóa X và được bổ nhiệm thường vụ Bộ chính trị từ tháng 01-1998.
Tháng 04-2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nông Đức Mạnh được bổ nhiệm làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2006, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, ông tiếp tục được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


