- - Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, đọc ngày 2/9/1945, khẳng định quyền tự do và độc lập của Việt Nam. Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân Pháp mà còn nhấn mạnh quyền bình đẳng, tự do của tất cả các dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh niềm tự hào dân tộc và sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do, đồng thời phản ánh sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc., Thực dân Pháp đã áp bức và bóc lột nhân dân Việt Nam, gây ra đói khổ và tổn thất lớn, đồng thời bán nước hai lần cho Nhật, dẫn đến nạn đói năm 1945 và các cuộc tẩy chay chính trị. Sau Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chấm dứt sự thống trị của Pháp, Nhật, và vua Bảo Đại. Hồ Chí Minh đã tuyên bố rõ ràng quyền tự do và độc lập của Việt Nam, nhấn mạnh sự đoàn kết và quyết tâm của toàn dân để bảo vệ quyền lợi của mình., Lời tuyên bố độc lập của Việt Nam, mặc dù gặp khó khăn trong việc khẳng định và yêu cầu sự công nhận quốc tế, đã thể hiện rõ sự tự tin và quyết tâm của dân tộc. Bằng lý lẽ sắc bén, bản tuyên ngôn đã chỉ trích sự áp bức của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ toàn cầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh tinh thần tự cường và cam kết bảo vệ độc lập của quốc gia, điều này không chỉ thể hiện sự đoàn kết, mà còn là động lực để xây dựng một đất nước mạnh mẽ, phồn thịnh trong tương lai.
Tuyên ngôn độc lập là một kiệt tác văn chính luận, là bản tuyên ngôn độc lập quyết định việc sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn mạnh mẽ tuyên bố với thế giới về quyền độc lập, chủ quyền đáng được tôn trọng. Phần cuối tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn bộ dân tộc Việt Nam quyết sẽ đóng góp tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ quyền tự do, độc lập ấy”.
Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cuối tác phẩm là biểu tượng sáng ngời của tình yêu nước, ý thức tự lực, tự cường và khát vọng độc lập, tự do cho dân tộc. Người đã khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập”. Điều này là hoàn toàn đúng, vì Việt Nam, giống như nhiều dân tộc yêu nước khác trên thế giới như Pháp, Mỹ, chúng ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn giữ vững quyền tự do, bình đẳng về quyền lợi, những quyền không thể bị xâm phạm được. Người đã mô tả một lập luận rất thông minh và sắc sảo khi tham chiếu đến hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ ở đầu tác phẩm, từ đó xây dựng cơ sở lý luận để khẳng định quyền hưởng độc lập, tự do là quyền lợi chính đáng, phù hợp với đạo lý và pháp lý của dân tộc Việt Nam.
Độc lập, tự do hiện nay là kết quả của cuộc đấu tranh đồng lòng, kiên trì và lâu dài của toàn đảng và toàn dân ta: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”. Lời tuyên bố hùng biện, đanh thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn bộ dân tộc Việt Nam quyết sẽ đóng góp tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” đã khẳng định sức mạnh và quyết tâm mạnh mẽ của toàn dân tộc trong cuộc chiến bảo vệ và duy trì nền độc lập thiêng liêng mà chúng ta đã chiến thắng bằng cả máu và lửa, qua những thăng trầm đầy gian khổ.
Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là lời cảnh báo nghiêm túc đối với thực dân Pháp, những thế lực đen tối phản cách mạng đang âm mưu xâm chiếm, thôn tính Việt Nam một lần nữa. Qua lời tuyên bố của Người, tinh thần yêu nước, ý thức đoàn kết mạnh mẽ của toàn dân, toàn quân đã được đánh thức và thể hiện trong việc bảo vệ nền độc lập và chính quyền trẻ đã được thành lập.
Vì vậy, qua những lập luận chặt chẽ, lý lẽ thuyết phục, ngôn ngữ hùng biện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mạnh mẽ tuyên bố về nền độc lập, tự chủ với niềm tự hào và khẳng định sức mạnh và quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ và duy trì nền độc lập đó.
Minh họa ảnh
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới. Đây là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn trong việc khẳng định quyền tự chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trên toàn thế giới và đánh dấu mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta.
Kết thúc bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đoạn văn trên đã làm rõ những tư tưởng lớn của Người trong toàn bộ bản tuyên ngôn. Đồng thời đây cũng là lời tuyên bố độc lập được rút ra từ những chân lý rằng “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Thay mặt cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đưa ra lời tuyên bố tự do, độc lập thể hiện được tinh thần, ý chí chí của toàn quân, toàn dân ta trong cuộc kháng chiến thực dân Pháp để giữ vững quyền tự do, độc lập. Người trịnh trọng tuyên bố với toàn thể nhân dân trên thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Bởi Việt Nam cũng như bao quốc gia khác, có quyền bình đẳng và quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.Cho nên, bản tuyên ngôn độc lập đã “tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
“Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Sau khoảng thời gian hơn 80 năm chịu sự đô hộ của thực dân Pháp thì lời tuyên ngôn này đã phần nào thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc, sự đoàn kết đồng lòng của quân và dân ta đã mang lại nền độc lập ấy. Để có được điều đó, nhân dân ta đã phải chịu đựng chế độ cai trị hà khắc, dã man của chúng. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở ba miền để ngăn tình đoàn kết và ngăn việc thống nhất đất nước của nhân dân ta. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, trong 5 năm, chúng bán nước ta hai lần cho Nhật…Và dân tộc ta đã “lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”. “Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”.
Không chỉ khẳng định nước Việt Nam là một nước độc lập, Hồ Chí Minh còn khẳng định quyết tâm: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đó như một lời thề thiêng liêng, dù có khó khăn, gian khổ đến đâu thì dân tộc Việt Nam sẽ đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến đấu, bảo vệ nền độc lập, dân chủ.
Lời tuyên ngôn đã khơi dậy lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết ở mỗi người con đất Việt. “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đó còn thể hiện lòng quyết tâm mạnh mẽ, chiến đấu đến cùng để bảo vệ bờ cõi đất nước, chiến đấu đến cùng để chống lại mọi âm mưu xâm chiếm của các thế lực thù địch trên thế giới có dã tâm xâm lược nước ta.
Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực, là văn kiện chính trị lớn tổng kết cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc, chứa đựng nhiều chân lí lớn, sức thuyết phục cao, ngắn gọn mà lời lẽ hết sức giản dị. Đoạn kết của bản tuyên ngôn đã khẳng định lại Việt Nam là một nước độc lập và “toàn thể nhân dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Trình bày hình ảnh
Với sự thành công của Cách mạng tháng Tám, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình và trước mắt hơn nửa triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại diện cho Chính phủ Lâm thời, đã trọng thể đọc bản 'Tuyên ngôn Độc lập'. Đoạn văn này mang đầy ý nghĩa lịch sử: tuyên bố chấm dứt vĩnh viễn chế độ thực dân - phong kiến trên lãnh thổ Việt Nam, thiết lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của độc lập và tự do cho dân tộc.
Chấm dứt 'Tuyên ngôn Độc lập', Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói mạnh mẽ:
'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự, nước ta đã trở thành một quốc gia tự do và độc lập. Toàn bộ dân tộc Việt Nam quyết tâm sẽ đặt tất cả tinh thần và sức mạnh, tính mạng và của cải vào việc bảo vệ quyền tự do và độc lập ấy'.
Một tuyên bố mạnh mẽ và tràn đầy tình thần, làm nổi bật những nội dung quan trọng của 'Tuyên ngôn Độc lập'.
Đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập' vì đó là điều phù hợp với đạo lý và pháp lý. Việt Nam và nhân dân Việt Nam, giống như tất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi con người, 'đều sinh ra bình đẳng (...), đều có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc' ('Tuyên ngôn Độc lập' năm 1776 của Mỹ).
'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập' vì lẽ 'mọi người đều được sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi' ('Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền' của Cách mạng Pháp năm 1791).
Từ khía cạnh nhân quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 'mở rộng ra', nói đến quyền tự quyết của tất cả các dân tộc: 'Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, mọi dân tộc đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do'. Lời tuyên bố ấy không ai có thể chối cãi và truyền đạt một cách thiêng liêng. Sau hơn 80 năm chịu sự thống trị của thực dân Pháp, tuyên bố 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập' là biểu hiện của niềm tự hào dân tộc và khát vọng độc lập, tự do của đất nước và nhân dân Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, 'và thật sự đã trở thành một quốc gia tự do, độc lập'. Đây là một sự thật lịch sử không ai phủ nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ trích những tội ác tàn bạo về chính trị, về kinh tế của thực dân Pháp đối với nhân dân ta trong suốt 80 năm. Họ áp bức, bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, 'làm cho nhân dân ta nghèo đói, thiếu thốn, quốc gia ta suy tàn'. Thực dân Pháp đã tước đoạt tự do, đẩy nhân dân vào máu và nước mắt trong thời kỳ nô lệ: 'Chúng lập nhiều nhà tù hơn là trường học. Chúng không do dự chém giết những người yêu nước của chúng ta. Chúng đổ máu chúng ta vào những cuộc khởi nghĩa'... Thực dân Pháp chỉ trong vòng 5 năm (1940/1945), họ bán nước ta hai lần cho Nhật. Pháp và Nhật đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu (1945), khiến hơn hai triệu người ta chết đói. Trước khi chạy trốn (9/3/1945), chúng 'thậm chí còn tàn nhẫn giết nốt số lượng lớn tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng'.
'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã trở thành một quốc gia tự do, độc lập'. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Cách mạng tháng Tám bùng nổ và chiến thắng, 'nhân dân ta đã giải phóng Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp'. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời khi ba kẻ thù bị lật đổ, thất bại: 'Pháp chạy, Nhật đầu hàng, vua Bảo Đại thoái vị'. Độc lập và tự do là thành quả của cuộc chiến tranh và cách mạng dài, gan góc, lâu dài của nhân dân ta:
'Một dân tộc đã gan góc đối mặt với ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít trong những năm qua, dân tộc đó xứng đáng được tự do! Dân tộc đó xứng đáng được độc lập!'.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố một cách trang trọng, hùng tráng: 'Tuyên bố đứng ra hủy bỏ mọi quan hệ thuộc địa với Pháp, hủy bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký với nước Việt Nam, hủy bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam'.
Độc lập tự do là khao khát, là ý chí của đất nước và nhân dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Lời tuyên bố đầy uyển chuyển của Hồ Chí Minh làm nổi bật quyết tâm và sức mạnh của toàn bộ nhân dân Việt Nam, tự bỏ tất cả tinh thần và sức lực, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập'.
Cụm từ 'Toàn thể dân tộc Việt Nam' là minh chứng cho sức mạnh của sự đoàn kết, hàng triệu tâm hồn Việt Nam hòa mình vào một khối không thể bị kẻ thù hung ác nào đánh bại! 'Tự do hay chết!', 'Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giữ nên độc lập!'. Quyết tâm ấy được thể hiện rõ qua lời tuyên bố hùng hồn của Chủ tịch.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc 'Tuyên ngôn Độc lập': những bước tiến vẻ vang của dân tộc ta đã trải qua những sự kiện đáng tự hào: Cách mạng tháng Tám - Chiến thắng Điện Biên Phủ oai hùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng - Non sông liền một dải, Bác hồ đoàn tụ miền Nam và miền Bắc...
'Tuyên ngôn Độc lập' xứng đáng là một bức tranh 'thiên cổ hùng văn'. Nó đã kế thừa truyền thống vinh quang của 'Nam quốc sơn hà', 'Bình Ngô đại cáo'. Đó là bài hát cao cả và thiêng liêng, thể hiện sâu sắc tư tưởng vĩ đại: 'Không có gì quý hơn độc lập tự do', thể hiện ý chí và sức mạnh của Việt Nam.
Đọc những dòng cuối cùng của 'Tuyên ngôn Độc lập', chúng ta lại càng cảm nhận sự tự hào về độc lập, tự do mà dân tộc ta đã giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ và của bao anh hùng liệt sĩ.
Minh họa
4. Tài liệu tham khảo số 5
Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam. Ông đã đặt dấu ấn vững chắc trong nền văn hóa dân tộc qua nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, và thơ ca. Mỗi tác phẩm của ông đều là biểu tượng xuất sắc. Trong văn chính luận, tác phẩm nổi bật nhất là 'Tuyên ngôn Độc lập' năm 1945. Kết thúc bản tuyên ngôn, những lời tuyên bố mạnh mẽ của ông đã làm bùng nổ niềm tự hào dân tộc và khát vọng độc lập, tự do của Việt Nam.
Ông khẳng định: 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập', nhấn mạnh vào chính lý và lý luận. Việt Nam, giống như mọi quốc gia khác, mọi dân tộc khác, mọi con người, đều được sinh ra với quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền hạnh phúc. 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập' vì con người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, luôn phải được bảo vệ quyền tự do và quyền bình đẳng. Từ quan điểm nhân quyền, ông nói về quyền tự quyết của mọi dân tộc: 'Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, mỗi dân tộc đều có quyền sống, quyền hạnh phúc và quyền tự do'. Lời tuyên bố này không chỉ là sự chối bỏ lịch sử 80 năm bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột mà còn là sự khẳng định niềm kiêu hãnh và khao khát tự do của Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, 'và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập'. Đây là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Hồ Chủ tịch đã lên án tội ác của thực dân Pháp, ánh sáng lên tình hình đau thương mà dân tộc phải chịu đựng trong 80 năm. Họ bóc lột, đánh đuổi dân tộc đến mức nghèo đói, khốn khổ, đất nước trở nên yếu đuối. Thực dân Pháp đã tước đoạt tự do, ngập nhấn dân tộc trong biển máu và nước mắt, 'xây những nhà tù nhiều hơn cả những trường học, chém giết những người yêu nước, đặc biệt ở Yên Bái và Cao Bằng' trước khi chạy trốn (9.3.1945). 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập'. Đây là lịch sử không thể phủ nhận. Cách mạng tháng Tám thắng lợi, 'dân ta đã giành lại nước Việt Nam từ tay Nhật, không phải từ tay Pháp'. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời khi ba kẻ thù bị lật đổ: 'Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị'. Độc lập và tự do là thành quả của cuộc chiến tranh dài, gan góc và bền bỉ của dân tộc Việt Nam.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử, và Hồ Chủ tịch đã tuyên bố một cách đanh thép, hùng hồn: 'Tuyên bố chấm dứt mọi liên kết thuộc địa với Pháp, hủy bỏ mọi hiệp ước Pháp đã ký với Việt Nam, loại bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam'.
Thứ hai, ông nhấn mạnh rằng Độc lập và tự do không chỉ là mong muốn, mà còn là ý chí của cả đất nước và con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Lời tuyên bố của ông như một lời thề cao cả, chấn động lòng người: 'Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm sử dụng tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và tài sản để bảo vệ quyền tự do, độc lập của chúng ta'. Cụm từ 'Toàn thể dân tộc Việt Nam' thể hiện sức mạnh của sự đoàn kết, triệu triệu con người Việt Nam tự hào hòa mình vào một tinh thần không thể bị khuất phục bởi bất kỳ kẻ thù nào! Ông tuyên bố rằng: 'Chúng ta sẽ hy sinh tất cả, nhưng sẽ không bao giờ mất nước, sẽ không bao giờ làm nô lệ!'. (Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến - 19.12.1946).
'Tuyên ngôn Độc lập' là một bản văn 'thiên cổ hùng văn'. Nó kế thừa truyền thống của 'Nam quốc sơn hà', của 'Bình Ngô đại cáo'. Đây là một bản văn thiêng liêng, biểu tượng cho niềm kiêu hãnh và lòng tự hào về độc lập, tự do mà dân tộc Việt Nam đã chiến đấu và giành được.
Hình vẽ minh họa
5. Tài liệu tham khảo số 4
Tuyên Ngôn độc lập là một tác phẩm mang giá trị lịch sử và chính trị to lớn, mở ra một kỷ nguyên mới trong số phận của dân tộc, một thời kỳ độc lập, tự do với nhiều thách thức và khó khăn phía trước. Tác phẩm thể hiện niềm tự hào, khao khát sâu sắc về một đất nước hoàn toàn độc lập, cũng như sức mạnh của tinh thần đoàn kết lớn lao của dân tộc Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả, nhưng quyết không chấp nhận mất nước.
Khi nói về Hồ Chí Minh, ta đang nói về một định nghĩa rộng lớn nhất của hai chữ 'con người'. Người đã dành cả cuộc đời mình cho nhiệm vụ đấu tranh và giải phóng dân tộc. Ngay cả trong sáng tác văn thơ, Hồ Chí Minh cũng đã khéo léo sử dụng nó như một vũ khí chiến đấu hiệu quả, với sức mạnh lớn để phục vụ cho mục tiêu chính trị và quân sự cao cả của mình. Trong vô số các tác phẩm, từ thơ ca, văn chính luận, truyện ngắn đến ký sự,... Tuyên Ngôn độc lập được coi là kiệt tác, kinh điển không chỉ về mặt văn học mà còn về mặt lịch sử và chính trị, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sử sách của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, phần kết của tác phẩm với lời tuyên bố sắc bén, mạnh mẽ, xác nhận một cách rực rỡ nền độc lập mới của nước Việt Nam sau hơn 80 năm chịu ách nô lệ, mở ra một kỷ nguyên mới của độc lập và hy vọng cho dân tộc.
Sau khi lập luận vững về cơ sở pháp lý, chứng minh từ hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ, kèm theo thực tế, bộc lộ mặt tàn ác và xảo trá của thực dân Pháp tại Việt Nam, lời tuyên bố về quyền tự chủ của Nhật, chứ không phải Pháp, đã trở nên thuyết phục và hợp lý. Điều này là cơ sở đủ để Hồ Chí Minh đưa ra tuyên bố mạnh mẽ về quyền tự do và tự chủ, xác nhận độc lập chính trị của đất nước, đồng thời phản bác những âm mưu phi lý và ác ý mà Pháp đã đặt ra trong suốt mấy chục năm qua, mở ra một tương lai mới cho nhân dân Việt Nam, một con đường mới, độc lập và tự mạnh, thoát khỏi cái bóng của 'sự bảo hộ', 'sự khai sáng' giả tạo mà thực dân đã cố gắng thiết lập để đánh lừa nhân dân và cộng đồng quốc tế. Mặc dù việc tự khẳng định độc lập và yêu cầu sự công nhận của thế giới đối với một quốc gia nhỏ như Việt Nam là điều khó khăn, nhưng với bút sắc và logic rõ ràng, không chỉ đưa ra chân lý của thời đại mà còn vạch trần sự gian xảo và đen tối của đế quốc, cũng như những nỗ lực đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam suốt hơn một thế kỷ qua với biết bao giọt mồ hôi và huyết của các anh hùng liệt sĩ, lời tuyên bố này trở nên rất hợp lý và thuyết phục, dễ dàng thu hút sự đồng thuận và hỗ trợ từ các dân tộc anh em trên thế giới.
Ngoài ra, một điểm chung quan trọng của phần kết là lời lẽ hùng hồn, xúc động, thể hiện sự tự tin, mạnh mẽ của một dân tộc dù nhỏ bé nhưng anh hùng, gan góc, sẵn sàng đối đầu với thực dân, phát xít, quyết tâm giữ vững từng tấc đất mà cha ông đã gìn giữ qua hàng ngàn năm, xây dựng. Bên cạnh việc khẳng định nền độc lập, tự do mà Bác hàng tâm huyết bấy lâu, bản tuyên ngôn còn nhấn mạnh và đặc biệt lưu ý những điểm sáng rất quan trọng trong việc thoát ly hoàn toàn khỏi ách thống trị của Pháp, 'Chúng tôi, là Chính phủ tạm thời của nước Việt Nam mới, đại diện cho toàn bộ dân tộc Việt Nam, tuyên bố độc lập toàn bộ quan hệ thực dân với Pháp, hủy bỏ mọi hiệp ước mà Pháp đã ký với Việt Nam, loại bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam'. Lời tuyên bố này đã mạnh mẽ khẳng định sự độc lập chính trị của đất nước, đồng thời bác bỏ những âm mưu và mưu đồ phi lý của Pháp áp đặt lên Việt Nam, mở ra cho nhân dân và Tổ quốc ta một tương lai mới, một con đường mới, độc lập và tự chủ, thoát khỏi cái cản 'bảo hộ', 'khai sáng' giả tạo mà thực dân đã dùng để đánh lừa nhân dân và ý thức cộng đồng quốc tế. Tuy biết rằng, việc tự khẳng định độc lập và yêu cầu thế giới công nhận sự độc lập của một quốc gia nhỏ là một công việc không dễ dàng, nhưng với ngòi bút sắc sảo và hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, lời tuyên bố này trở nên hết sức hợp lý và thuyết phục, dễ dàng nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của các dân tộc anh em trên khắp thế giới. Ngoài ra, đất nước 'Rũ bùn đứng dậy sáng lòa' cũng cần một khởi đầu mới từ cái tên mới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất trong phần kết là 'Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa', càng làm nổi bật tinh thần tự cường, độc lập, và quyết tâm xây dựng một đất nước mới, phồn thịnh trong tương lai.
Kết thúc bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam lại một lần nữa khẳng định về nền độc lập tự do, cũng như cam kết bảo vệ và giữ gìn nền độc lập quý báu đó bằng mọi giá: 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn bộ dân tộc Việt Nam quyết sẽ dùng tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ quyền tự do và độc lập đó'. Lời tuyên bố này không chỉ là tâm huyết, sự đoàn kết mạnh mẽ, ý chí chiến đấu, mà còn là tấm lòng yêu chuộc hòa bình, trân trọng nền tự do và độc lập đã được giành về bằng mồ hôi và máu của cha ông, là lời cảnh báo mạnh mẽ tới những kẻ có ý định xâm chiếm quê hương, muốn xâm lược, hủy hoại đất nước. Đồng thời, đây cũng là những lời động viên, động viên tinh thần mạnh mẽ để khích lệ tình yêu nước, sự đoàn kết chống giặc và cùng nhau xây dựng một đất nước vững mạnh, xứng đáng với các cường quốc trên thế giới, trên nền tảng của một đất nước non trẻ, mới mẻ.
Tuyên Ngôn độc lập không chỉ là một tác phẩm có giá trị lịch sử và chính trị to lớn, mà còn là một bản tuyên ngôn của niềm tự hào và khát khao về một đất nước hoàn toàn độc lập. Nó là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết và lòng quyết tâm hy sinh cho nền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.
Ilustration