1. Bài luận tham khảo số 1
Câu 1 (Trang 146 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Có thể phân chia bài thơ thành 2 phần:
+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): mô tả về thiên nhiên buồn bã, huyền bí của mùa thu
+ Phần 2 (4 câu thơ cuối): tình cảm của nhà thơ đối với quê hương, đồng bào
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Thay đổi bốn câu đầu cảnh nhìn nhận rộng và xa:
+ Sương trắng phủ rừng phong,
+ Núi Vu, núi Kẽm hiên ngang
+ Lòng sông, sóng vỗ chân trời
+ Mây trôi thấp xuống đất
- Bốn câu thơ sau, không gian thu hẹp lại: chiếc thuyền, khóm cúc kết nối tâm hồn nhà thơ với quê hương
+ Sự chuyển động của không gian do bình minh buông, tầm nhìn thu hẹp lại
+ Sự thay đổi phù hợp với cấu trúc bốn câu thơ, từ bối cảnh đến tình cảm
→ Sự thay đổi phản ánh tâm trạng và cảm xúc, tạo nên cấu trúc bài thơ
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Mối liên kết giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ cuối: cả hai đóng góp vào việc tạo nên không gian hình ảnh của mùa thu trầm lắng, sâu sắc
+ Bốn câu thơ đầu: mô tả về cảnh mùa thu trong không gian rộng lớn, vô tận
+ Bốn câu thơ sau: cảnh mùa thu chi tiết, sinh động, đầy tình cảm
- Mối quan hệ này tạo nên sự chuyển động trong bốn câu thơ, từ cảnh sang tình cảm, cảnh mở ra tình cảm, tình cảm thấm sâu vào cảnh
Tên của bài thơ là Thu hứng, trong toàn bộ bài thơ, hình ảnh và lời chữ phản ánh tâm hồn của thi sĩ trước vẻ đẹp của mùa thu.
+ Bốn câu thơ đầu mặc dù mô tả về cảnh mùa thu, nhưng mang đầy nỗi buồn
+ Bốn câu thơ cuối là tâm trạng của tác giả nhớ về quê hương, thương nhớ cuộc sống
Luyện tập
Bài 1 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
So sánh với bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ (phiên âm và dịch nghĩa):
- Ưu điểm: Bản dịch thơ khá gần gũi với tinh thần của bài thơ, thể hiện được sự tinh tế khi sử dụng ngôn ngữ
Nhược điểm: Một số chênh lệch so với bản phiên âm:
+ Câu đầu tiên, tác giả chưa dịch chính xác từ “điêu thương- đây là tính từ nhưng lại đóng vai trò làm động từ trong câu thơ. Cần phải diễn đạt được sắc thái tàn phá khắc nghiệt của sương đối với rừng phong.
+ Chữ “thẳm” diễn đạt không đầy đủ nghĩa, nó khiến bản dịch bài thơ bị giảm sức mạnh
+ Câu 5, khi dịch tác giả làm mất từ “lưỡng khai” quan trọng, từ này có ý nghĩa nhấn mạnh vào sự lặp lại
+ Câu 6, tác giả không truyền đạt hết sự cô đơn, trống trải của người lưu hương trong chữ “cô” phần phiên âm
Bài 2 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Chữ “lệ” trong câu “Tùng cúc lưỡng khai tha nhạt lệ” được hiểu theo cả hai cách nước mắt của nhà thơ và nước mắt của “hoa cúc”:
+ Mỗi khi ngắm nhìn hoa cúc, lòng tác giả lại tràn ngập nhớ về quê cũ, nước mắt rơi không kiểm soát được
+ Hoa cúc “lưỡng khai” nở gợi lên sự ra đi không trở lại nhưng cũng kích thích tưởng tượng về dòng nước mắt chứa đựng tình cảm không chỉ rơi một lần
+ Nhìn cúc nở mà tưởng như cúc đã nhỏ lệ
Bài 3 (trang 147 sgk Ngữ văn 12 tập 1)
Học thuộc lòng bài thơ.

2. Bài viết tham khảo số 3
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Bài thơ có thể phân thành 2 phần
+ Phần 1 (4 câu đầu): mô tả cảnh mùa thu
+ Phần 2 (4 câu thơ sau): cảm xúc của thi nhân khi cảnh thu về trên đất xa
Vì lý do này, bài thơ, mặc dù là thất ngôn bát cú Đường luật, vẫn có thể chia thành hai phần để nghiên cứu và phân tích.
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Góc nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau có sự thay đổi:
+ Bốn câu đầu: là không gian trong tầm nhìn xa (rừng phong), là cảnh thu 'đậm' (hàm) tình thu
+ Bốn câu sau: từ không gian xa hẹp lại vào không gian gần (khóm cúc, con thuyền) để rồi sau đó cảnh thực tế tràn ngập vào tâm cảnh.
- Giải thích sự thay đổi: do sự biến đổi của thời gian nên tầm nhìn cũng có sự thay đổi. Bình minh buông, tầm nhìn con người sẽ bị thu hẹp. Ngoài ra, để phù hợp với tứ thơ lần từ cảnh đến tình, không gian từ rộng lớn cũng thu lại thành một không gian nội tâm.
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Mối liên kết giữa bốn câu đầu và bốn câu sau: cả hai đều đóng góp vào việc tạo nên một bức tranh mùa thu trầm lắng, hùng vĩ. Bốn câu đầu mô tả về cảnh mùa thu trong không gian rộng lớn, vô tận, bốn câu sau mô tả về cảnh mùa thu trong không gian hẹp. Nó cũng thể hiện mối liên hệ trong cách tổ chức của tứ thơ, di chuyển từ cảnh đến tình, cảnh mở ra tình và tình thấm sâu vào cảnh.
- Mối liên kết giữa toàn bộ bài và tiêu đề: Bài thơ có tiêu đề là 'Thu hứng' (cảm xúc mùa thu). Do đó, toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến lời chữ, đều truyền đạt cảm xúc của thi nhân trước vẻ đẹp của mùa thu. Bốn câu đầu mặc dù mô tả cảnh mùa thu nhưng ẩn chứa nỗi buồn, bốn câu sau là tâm sự của thi nhân thấm đẫm vào cảnh, từ tình mà cảnh tạo ra, hai hình ảnh mang đến sự buồn đến ám ảnh.
Luyện tập
Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện khá tốt tinh thần của bài thơ. Bản dịch có thể coi là đạt. Tuy nhiên, cũng có những chỗ không sát hoặc thậm chí khác biệt hoàn toàn so với bản phiên âm và dịch nghĩa. Ở câu đầu, bản dịch chưa thể chuyển tải được ý nghĩa của từ 'điêu thương' – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì vậy trong bản phiên âm, nó mang ý nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương đối với rừng phong. Chữ 'thẳm' trong câu ba (bản dịch) chưa thực sự chính xác nghĩa. Đồng thời, nó làm cho âm hưởng thơ trầm xuống. Câu 5, bản dịch đã mất chữ 'lưỡng khai' – một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh vào sự lặp lại. Cũng như ở câu 6, chữ 'cô' chưa được dịch chính xác làm cho câu thơ không thể thực sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương.
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Chữ 'lệ' trong câu thứ 5 có nhiều cách hiểu. Có thể hiểu là nước mắt của hoa cúc nhưng trong nguyên tác chữ Hán, hoa cúc nở hai lần, tác giả so sánh những cánh hoa cúc với giọt nước mắt nên nói rằng hoa cúc nhỏ lệ hai lần. Cũng có thể hiểu là hai lần hoa cúc nở cũng như là hai lần nhà thơ nhỏ lệ (nhà thơ đã xa quê hương hai năm)
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Học thuộc lòng bài thơ

3. Bài viết tham khảo số 2
I. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Bố cục: 2 phần
+ Bốn câu đầu: mô tả cảnh mùa thu
+ Bốn câu sau: thể hiện tâm tư của Đỗ Phủ khi ngắm thu về đất xa xôi.
- Cách phân chia bố cục thành hai phần dựa trên nội dung cụ thể của bài thơ.
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Sự thay đổi tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau:
+ Bốn câu đầu: cảnh nhìn từ tầm quan sát rộng và xa (rừng phong, núi Vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…)
+ Bốn câu sau, không gian thu hẹp lại (khóm cúc, con thuyền) rồi gần hơn nữa, chúng “lặn” vào tâm hồn của nhà thơ.
- Sự thay đổi như vậy là do:
+ Thời gian gần kết thúc (chiều dần buông, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp).
+ Phù hợp với sự chuyển động của tứ thơ: từ cảnh đến tình.
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Bốn câu thơ đầu: cảnh thu tiêu điều, hiu quạnh, mãnh liệt =>gợi nỗi buồn thâm thúy, nỗi lo lắng của nhà thơ.
- Bốn câu thơ sau: tình thu, nỗi lòng đau đớn với quê hương.
=> Mối liên kết phù hợp với sự chuyển động tứ thơ: từ cảnh đến tình, tình thấm sâu vào cảnh.
- Tiêu đề bài thơ là Thu hứng nên tất cả các câu thơ đều đề cập đến mùa thu với tâm trạng buồn sâu sắc, trầm ngâm
II. Luyện tập
Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
So sánh bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và phần dịch nghĩa:
- Ưu điểm: bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được bản chất của bài thơ.
- Nhược điểm: Bản dịch vẫn còn một số chỗ chưa chính xác so với bản phiên âm.
+ Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa thể hiện rõ ý nghĩa của từ “điêu thương”.
+ Ở câu ba, chữ “thẳm” trong bản dịch chưa đúng nghĩa và làm giảm đi hiệu ứng thơ ca.
+ Câu năm, bản dịch bỏ chữ “lưỡng khai” – một từ quan trọng trong bản phiên âm.
+ Câu sáu, bản dịch không dịch chữ “cô” nên không thể hiện được tâm trạng của kẻ li hương.
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Chữ “lệ” trong câu “tùng cúc lưỡng khai tha nhạt lệ” có thể hiểu theo cả hai cách là nước mắt của nhà thơ và nước mắt của “hoa cúc”
- Mỗi khi nhìn thấy hoa cúc, nhà thơ rơi nước mắt và nhớ về quê hương.
- Những cánh hoa cúc nở giống như cúc rơi nước mắt.
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Học thuộc lòng bài thơ

5. Bài viết tham khảo số 7
Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Bài thơ có thể được phân thành bao nhiêu phần? Tại sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của từng phần?
Lời giải chi tiết:
Bố cục: 2 phần
- Phần 1 (4 câu đầu): mô tả cảnh mùa thu
- Phần 2 (4 câu thơ sau): cảm hứng của thi nhân khi cảnh thu về trên đất xa xôi
- Chia như vậy bởi hai phần này có sự độc lập nhất định (4 câu đầu chủ yếu là miêu tả cảnh, 4 câu dưới chủ yếu là tả tình).
Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Nhận xét về sự thay đổi tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau. Tại sao có sự thay đổi đó?
Lời giải chi tiết:
- Bốn câu thơ đầu là cảnh nhìn từ tầm quan sát rộng và xa (rừng phong, núi vu, kẽm vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…).
- Bốn câu sau, không gian bị thu hẹp lại (khóm cúc, con thuyền) rồi gần hơn nữa, chúng “lặn” vào tâm hồn của nhà thơ. Sự thay đổi như vậy là do thời gian đang gần kết thúc (chiều dần buông, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp).
=> Sự thay đổi nhằm phù hợp với sự chuyển động của tứ thơ (từ cảnh đến tình).
Câu 3 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau, cũng như mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề Thu hứng?
Lời giải chi tiết:
Bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh mùa thu – vừa tiêu điều, hiu hắt (Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong; Núi vu, kẽm vu hơi thu hiu hắt), lại vừa dữ dội (sóng vỗ Trường Giang ; trên cửa ải, mây sa mặt đất). Cảnh ấy vừa gợi nỗi buồn tê tái, vừa ngầm thể hiện nỗi lo âu của nhà thơ (về sự không bình yên ở nơi biên ải).
Cảnh thu ở phần thứ nhất quả thật đã khởi hứng cho cái tình chan chứa ở những câu sau. Hình ảnh khóm cúc, con thuyền khắc sâu vào nỗi nhớ quê hương. Câu thơ có lệ của hoa cúc nhưng dường như cũng là lệ của lòng người. Hai câu cuối là nỗi buồn nhớ đến người thân. Tuy nhiên, nó cũng là sự lo lắng về đất nước chưa yên bình, là sự đồng cảm với những người lính thú đang phải gác đêm giữa những nơi gió lạnh ở xa xôi.
Bài thơ khởi đầu bằng chủ đề “thu” và thực tế mỗi câu thơ đều chạm vào mùa thu. Tuy nhiên, việc phân biệt “thu tình” và “thu cảnh” là một nhiệm vụ khó khăn. Hay nói cách khác, thu cảnh chính là thu tâm (thu – hứng).
Luyện tập
Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 12 tập 1)
Thử đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và dịch nghĩa?
Trả lời:
Đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và phần dịch nghĩa, ta nhận thấy một số điều sau:
- Ưu điểm: Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được bản chất của bài thơ một cách sắc sảo. Bản dịch có thể được đánh giá là khá tốt.
- Nhược điểm: Bản dịch vẫn còn một số chỗ chưa chính xác so với bản phiên âm :
+ Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa thể hiện rõ ý nghĩa của từ “điêu thương” – một tính từ đã được chuyển thành động từ (làm tiêu điều). Vì vậy ở trong bản phiên âm, nó mang nghĩa rất mạnh mẽ – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong.
+ Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời, nó làm cho âm hưởng thơ trầm xuống.
+ Câu 5, bản dịch bỏ chữ “lỡng khai” – là một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại. Cũng như ở câu 6, chữ “cô” chưa được dịch nên không thể hiện được tâm trạng của kẻ li hương.
Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Theo anh (chị), chữ 'lệ' trong câu 5 chỉ nước mắt nhà thơ hay nước mắt của hoa cúc?
Trả lời:
Câu thơ 'Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ' (Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước) là một câu thơ đa nghĩa, phong phú về ý nghĩa.
- Chữ “lệ” ở câu thơ này quả thực là khó phân biệt, liệu đó có phải là lệ của người hay “lệ” của hoa. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng mỗi khi nhìn thấy hoa cúc nở, nhà thơ lại chạnh lòng nhớ đến quê hương. Những giọt nước mắt theo đó cũng tự nhiên rơi, không thể ngăn lại được.
- Hình ảnh hoa cúc “nở rồi lại nở” vừa gợi lên sự trở đi trở lại của nỗi nhớ quê, vừa tạo liên tưởng đến những dòng lệ chứa chan ân tình của nhà thơ.

4. Bài viết tham khảo số 6
Bố cục
- Phần 1 (4 câu thơ đầu): mô tả về thiên nhiên u tối, hiu quạnh của mùa thu
- Phần 2 (4 câu thơ cuối): tâm sự của nhà thơ với tình yêu quê hương, lòng thương dân
Nội dung
- Bài thơ là tâm sự sâu sắc của Đỗ Phủ, đan xen trong đó là tình cảm yêu nước và lòng thương nhớ cuộc sống
- Nghệ thuật thơ Đường thể hiện sự xuất sắc
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Bài thơ có thể chia thành hai phần
+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): mô tả về thiên nhiên u tối, hiu quạnh của mùa thu
+ Phần 2 (4 câu thơ cuối): tâm sự của nhà thơ với tình yêu quê hương, lòng thương dân
- Chia như vậy để tạo ra tính độc lập giữa hai phần
Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Nhận xét
+ bốn câu thơ đầu là cảnh nhìn từ tầm quan sát rộng và xa (rừng phong, núi vu, kẽm vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…).
+ bốn câu sau, không gian bị thu hẹp lại (khóm cúc, con thuyền) rồi chúng “lặn” vào tâm hồn của nhà thơ.
- Sự vận động của không gian như vậy để phản ánh
+ thời gian đang gần kết thúc (chiều dần buông, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp).
+ để phù hợp với sự chuyển động của tứ thơ (từ cảnh đến tình)
Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau: cùng đóng góp vào việc tạo ra không gian thu buồn, lắng đọng
+ Bốn câu thơ đầu: mô tả cảnh thu ở không gian rộng lớn, toàn cảnh
+ Bốn câu thơ sau: hình ảnh thu chi tiết, sâu sắc, mang theo cảm xúc
- Mối quan hệ tạo nên sự lưu động trong tứ thơ, di chuyển từ cảnh đến tình, cảnh là nguồn gốc của tình cảm, tình thấm sâu vào cảnh vật
- Mối quan hệ với nhan đề: toàn bộ bài thơ, hình ảnh và lời văn phản ánh tâm trạng của thi sĩ trước vẻ đẹp mùa thu.
+ Bốn câu thơ đầu, mặc dù mô tả cảnh thu, nhưng đậm chất buồn bã
+ Bốn câu thơ cuối là tâm trạng của tác giả, nhớ về quê hương và lòng thương nhớ đến cuộc sống của nhân dân
LUYỆN TẬP (trang 147 sgk Ngữ văn 10 Tập 1)
1. Đối chiếu với bản dịch của Nguyễn Công Trứ, ta thấy
- Ưu điểm: bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện khá rõ bản chất của bài thơ
- Nhược điểm:
+ Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – một tính từ đã được biến thành động từ (làm tiêu điều), ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong.
+ Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa, làm cho âm hưởng thơ trở nên u ám.
+ Câu 5, bản dịch bỏ chữ “lưỡng khai”, ở câu 6, chữ “cô” chưa được dịch nên làm cho câu thơ không thể hiện rõ tâm trạng của kẻ li hương.
2. Chữ “lệ” trong câu thơ có thể hiểu theo cả hai cách, là nước mắt của nhà thơ và cả nước mắt của “hoa cúc”:
+ Mỗi khi nhìn thấy hoa cúc, tâm hồn tác giả lại xúc động và nhớ về quê hương, giọt nước mắt rơi không thể ngăn cản.
+ Hoa cúc “lưỡng khai” nở làm nổi lên hình ảnh ra đi không trở lại nhưng cũng gợi lên hình ảnh của những giọt lệ đậm chất tình cảm, không chỉ rơi một lần.

9. Bài viết tham khảo số 9
Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Bố cục: 2 phần
- Phần 1 (4 câu đầu): mô tả cảnh mùa thu
- Phần 2 (4 câu thơ sau): cảm nhận của thi nhân khi mùa thu ghé thăm đất khách
Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Trong bốn câu thơ đầu, tầm nhìn của tác giả mở rộng, chiêm ngưỡng không gian từ rừng phong, Vu sơn, Vu giáp, lưng trời, sau đó đến dòng sông, mặt đất. Từ không gian yên bình đến không gian hối hả.
- Bốn câu sau tầm nhìn của nhà thơ thu hẹp về không gian, cảnh vật trước mắt. Sự thay đổi tầm nhìn thể hiện tâm trạng của tác giả. Cảnh mùa thu tráng lệ nhưng “điêu hương” tạo nên nỗi buồn trong tâm hồn của tác giả, tác giả quay về với tầm nhìn hẹp hơn để đối mặt với hiện thực u tối của mình. Ngắm khóm trúc và chiếc thuyền cô đơn để cảm nhận hết nỗi cô đơn của thi nhân.
- Giải thích sự thay đổi đó: do sự chuyển động của thời gian, tầm nhìn trở nên thay đổi. Chiều dần buông, tầm nhìn của con người sẽ bị thu hẹp. Thêm vào đó, để phù hợp với sự di chuyển của tứ thơ (từ cảnh đến tình), không gian từ rộng lớn cũng rút về thành một không gian tâm linh.
Câu 3 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ cuối đều đóng góp vào việc tạo nên bức tranh mùa thu trầm lặng và hùng vĩ, bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh thu trong không gian mở lớn, bốn câu sau miêu tả cảnh thu trong không gian hẹp. Điều này cũng phản ánh mối quan hệ trong cách tứ thơ vận động, từ cảnh đến tình, cảnh là nguồn gốc của tình cảm và tình thấm sâu vào cảnh vật. Bài thơ mang tựa đề là 'Thu hứng' (cảm xúc mùa thu). Do đó, toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến lời văn, đều truyền đạt tình cảm của thi nhân trước vẻ đẹp của mùa thu. Bốn câu thơ đầu, mặc dù mô tả cảnh thu, nhưng chứa đựng sự u uất trong trái tim của thi nhân, bốn câu sau là lời tâm sự của thi nhân thấm đẫm vào cảnh vật, từ tình cảm mà cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến quá khứ ám ảnh: Khóm cúc đổ thêm dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt tình nhà.
- Mối quan hệ với tổng thể và nhan đề: Bài thơ mang tựa đề là 'Thu hứng' (cảm xúc mùa thu). Do đó, toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến lời văn, đều truyền đạt tình cảm của thi nhân trước vẻ đẹp của mùa thu. Bốn câu thơ đầu, mặc dù mô tả cảnh thu, nhưng chứa đựng sự u uất trong trái tim của thi nhân, bốn câu sau là lời tâm sự của thi nhân thấm đẫm vào cảnh vật, từ tình cảm mà cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến quá khứ ám ảnh.
Luyện tập
Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Bản dịch của Nguyễn Công Trứ khá sát, thể hiện sự tài năng của ông. Nhưng thơ Đường, như đã nói, thường là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), “ngôn tận nhi ý bất tận”, “ngôn đáo bút bất đáo” (lời đã hết mà ý không hết), dù dịch thế nào đi nữa cũng khó mà truyền tải đầy đủ tinh hoa của bản gốc chữ Hán.
- Ở câu đầu, bản dịch thơ chưa thể hiện đúng ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì thế, trong bản phiên âm, nó mang nghĩa rất mạnh mẽ – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong.
- Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thực sự sát với ý nghĩa. Đồng thời, nó còn làm cho âm nhạc thơ trầm xuống.
- Câu 5, bản dịch đã bỏ qua chữ “lưỡng khai” – một từ quan trọng trong bản phiên âm – nhấn mạnh sự lặp lại.
- Câu 6, chữ “cô” vẫn chưa được dịch, khiến cho câu thơ không thể hiện rõ tâm trạng của người xa xứ.
Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Dựa vào bản dịch của Nguyễn Công Trứ, có thể nhầm lẫn rằng “lệ” là nước mắt của hoa cúc (một cách hiểu), nhưng trong bản chính thức chữ Hán, câu thơ này có thể hiểu theo hai cách: hoa cúc nở hai lần (tác giả so sánh những cánh hoa cúc với những giọt nước mắt, nên nói hoa cúc hai lần nhỏ lệ), cũng có thể hiểu là hai lần hoa cúc nở đồng thời là hai lần tâm trạng nhỏ lệ của nhà thơ (người làm thơ xa quê hương đã hai năm).

