1. Bài luận 'Hồi tưởng về rừng' số 1
Chia làm 5 phần:
+ Phần 1: Rơi vào bẫy và trở thành đồ chơi của đám trẻ ngạo mạn.
+ Phần 2 và phần 3: Hồi tưởng về thời kỳ rực rỡ và niềm tự hào oanh liệt.
+ Phần 4: Phản đối trước sự giả dối của công viên.
+ Phần 5: Những kỷ niệm và ước mơ vô tận.
Câu 1 (trang 7 sgk Ngữ văn 8 tập 2):
- Phần 1: Niềm oan trái của con hổ khi bị nhốt trong lồng sắt làm thú vui.
- Phần 2 và 3: Hồi tưởng về những ngày làm chúa tể oai hùng.
- Phần 4: Con hổ phê phán sự giả dối và tầm thường của cảnh công viên.
- Phần 5: Kỷ niệm về rừng và khát vọng tự do của con hổ.
Câu 2 (trang 7 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):
a, Phần 1 và 4: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt và tâm trạng phẫn nộ, căm hận của con hổ.
+ Oan trái khi bị nhốt.
+ Bị nhốt cùng bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự.
+ Khinh loài người nhỏ bé ngạo mạn.
+ Cảnh sửa sang tầm thường, giả dối.
+ Nhớ về cảnh đại ngàn cao cả, âm u.
→ Phê phán sự tầm thường, căm phẫn kẻ tầm thường. Muốn vượt thoát bằng ký ức về thời đại ngàn.
Phần 2 và 3 mô tả vẻ đẹp của núi rừng làm nổi bật vẻ oai phong, tráng lệ của chúa tể.
+ Con hổ đầy quyền uy, sức mạnh, tham vọng trước đại ngàn.
+ Hồi tưởng về thời kỳ huy hoàng, oanh liệt.
→ Tiếc nuối những ngày huy hoàng trong quá khứ của chúa tể.
b, Phần 2 và 3: đặc sắc về hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu.
- Về từ ngữ:
+ Miêu tả vẻ đẹp, vẻ oai phong của đại ngàn bằng những từ ngữ như: bóng cả, cây già, giang sơn.
+ Sử dụng những động từ mạnh mẽ để thể hiện sự oai hùng của chúa tể: thét, quắc, hét, ghét.
+ Sử dụng từ cảm thán, câu hỏi tu từ để gợi nhắc lại quá khứ oai hùng và tiếc nuối những ngày tự do.
- Về hình ảnh:
+ Sức mạnh của con hổ được mô tả bằng hình ảnh: mắt thần đã quắc, lượn tấm thân như sóng cuốn nhịp nhàng, uống ánh trăng tan, ngắm giang sơn, giấc ngủ tưng bừng.
+ Hình ảnh núi rừng từ đêm, mưa, nắng, hoàng hôn, bình minh đẹp lộng lẫy, bí ẩn.
+ Về giọng điệu: đanh thép, hào sảng tái hiện lại thời oanh liệt, tráng lệ của chúa sơn lâm khi còn tự do.
c, Sự đối lập sâu sắc giữa cảnh vườn bách thú và cảnh đại ngàn.
+ Vườn bách thú tù túng, chật hẹp, tầm thường, giả dối >< đại ngàn tự do, phóng khoáng, hoành tráng, bí ẩn.
+ Tâm trạng chán chường, căm phẫn, khinh ghét của con hổ (ở vườn bách thú) >< tâm trạng vui vẻ, oai phong, lẫm liệt của con hổ khi ở đại ngàn.
→ Tâm sự của con hổ ẩn dụ cho tâm trạng của người dân mất nước luôn cảm thấy căm hờn, tủi nhục, chán ngán với hiện tại, họ nhớ tiếc thời oanh liệt, vàng son của cha ông.
Bài 3 (trang 7 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):
- Tác dụng của việc mượn 'lời con hổ ở vườn bách thú' là thích hợp vì:
+ Thể hiện được thái độ ngao ngán với thực tế tù túng, tầm thường, giả dối.
+ Khao khát vượt thoát để được tự do, không thỏa hiệp với hiện tại.
+ Hình ảnh con hổ bị nhốt trong vườn bách thú cũng là biểu tượng của sự giam cầm, mất tự do, thể hiện sự sa cơ, chiến bại, mang tâm sự uất hận.
+ Mượn lời con hổ để tránh sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân.
- Việc mượn lời của con hổ còn giúp tác giả thể hiện được tâm trạng, khao khát tự do thầm kín của mình.
Câu 4 ( trang 7 sgk Ngữ văn 8 tập 2):
- Hoài Thanh trong nhận định về thơ Thế Lữ 'Đọc đôi bài, nhất là bài Hồi tưởng về rừng… không thể cưỡng được' nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ tinh tế, điêu luyện, đạt tới mức chính xác cao.
+ Thế Lữ sử dụng từ ngữ trong bài Hồi tưởng về rừng xuất phát từ sự thôi thúc của tâm trạng khinh ghét, căm phẫn cuộc sống hiện thời.
+ 'chữ bị xô đẩy' bắt nguồn từ giọng điệu linh hoạt lúc dồn dập oai hùng, lúc trầm lắng suy tư.
+ 'dằn vặt bởi sức mạnh phi thường' : khao khát tự do, vượt thoát khỏi thực tại tầm thường, tù túng.
+ Ngôn ngữ có chiều sâu: tạo dựng được ba hình tượng với nhiều ý nghĩa ( con hổ, vườn bách thú, núi rừng).
+ Thế Lữ cũng là cây bút tiên phong cho phong trào Thơ Mới vì thế sự thôi thúc vượt thoát khỏi những chuẩn mực cũ giúp ông chủ động khi sử dụng ngôn từ.

2. Bài viết 'Trải lòng với ký ức rừng' số 3
I. Tác giả, tác phẩm
1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Thế Lữ trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).
2. Tác phẩm
* Trải lòng với ký ức rừng là một trong những bài thơ độc đáo của Thế Lữ, góp phần mở cánh cửa cho sự thịnh vượng của Thơ mới.
* Thể thơ: Văn bản Trải lòng với ký ức rừng được viết theo thể thơ 8 chữ.
Câu 1:
Bài thơ được chia thành 5 đoạn:
- Đoạn 1: Hình ảnh bị giam cầm và cảm xúc uất hận, ngao ngán, từ bỏ và sự vô vọng của con hổ.
- Đoạn 2 + 3: Nỗi nhớ thương, lòng khao khát tự do toát lên qua những ký ức về cảnh núi rừng vô song, tráng lệ, hoàn toàn xứng đáng với sức mạnh của vị chúa tể sơn lâm.
- Đoạn 4: Sự phê phán của con hổ đối với hình ảnh nhà thú cảnh quan, hoàn toàn trái ngược với sự hùng vĩ tại nơi rừng.
- Đoạn 5: Nỗi đau đớn và sự tuyệt vọng của người anh hùng sa cơ và những ký ức về núi rừng huyền bí khi xưa với giấc mơ tan vỡ.
Câu 2:
Trong bài thơ có 2 cảnh được miêu tả sống động: cảnh nhà thú cảnh quan, nơi con hổ bị giam giữ (đoạn 2 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ trị vì những “ngày xưa” ( đoạn 2 và 3).
a)
* Cảnh tượng tại nhà thú cảnh quan là cảnh tù túng, ngột ngạt
- Đoạn 1: thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hận, uất ức của con hổ khi bị hạn chế trong chuồng sắt, biến thành một đồ chơi, trò tiêu khiển cho con người, được đặt cùng những loài thú “dở hơi”, “vô tư lự”. Mặc dù vậy, chúa sơn lâm vẫn vượt qua sự hạn chế bằng trí tưởng tượng, sống trong sự nhớ về cảnh núi rừng đại ngàn.
- Đoạn 4: cảnh nhà thú cảnh quan hiện ra dưới con mắt của con hổ thực sự là nhân tạo, tầm thường, giả dối, nhạt nhòa đến mức “không bao giờ thay đổi” => Thái độ ngao ngán và phê phán xã hội hiện tại.
* Cảnh núi rừng hùng vĩ, oai nghiêm
Đoạn 2 và 3 mô tả cảnh núi rừng đại ngàn – nơi con hổ trị vì những “ngày xưa”. Nơi này, mọi thứ đều toàn vẹn, cao cả và phi thường (bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi). Trong đoạn thơ này, chúa sơn lâm xuất hiện với vẻ đẹp không chỉ tinh tế mà còn mạnh mẽ, tượng trưng.
b) Có thể nói, việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3 rất đặc biệt. Cảnh núi rừng được mô tả với loạt từ ngữ chỉ sự cao cả, lớn lao, phi thường (bóng cả, cây già, gào, hét, thét). Trong khi đó, chúa sơn lâm xuất hiện với phong thái chậm rãi, khoan thai, được so sánh với sóng cuộn nhịp nhàng.
=> Từ ngữ được chọn lọc, phong phú, gợi lên hình ảnh rừng đại ngàn hùng vĩ, lớn lao, mạnh mẽ, phi thường và linh thiêng nơi nơi chúa sơn lâm cai trị.
c)
* Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng trên, tâm trạng của con hổ tại nhà thú cảnh quan được thể hiện với những tình cảm bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm nhớ da diết về quá khứ huy hoàng của nó.
* Tâm trạng của con hổ cũng là tâm trạng của những người Việt Nam mất nước, sống trong cảnh nô lệ và nhớ mãi về thời kỳ oanh liệt với những chiến công vẻ vang của dân tộc ta trong lịch sử.
Câu 3:
Tác giả sử dụng “lời con hổ ở nhà thú cảnh quan” vì nó vừa thể hiện thái độ chán ngán với thực tại tù túng, tầm thường và giả dối, vừa thể hiện khát vọng tự do, mong muốn đạt tới sự cao cả, phi thường. Hơn nữa, bằng cách sử dụng “lời con hổ”, tác giả còn tránh được sự kiểm duyệt nghiêm ngặt của thực dân vào thời điểm đó. Tuy nhiên, bài thơ vẫn thể hiện niềm khao khát tự do thầm kín của thế hệ người Việt Nam cùng thời.
Câu 4:
Phê bình văn học Hoài Thanh có đánh giá về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Trải lòng với ký ức rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một vị chỉ huy điều khiển quân đội Việt ngữ bằng những yêu sách không thể phủ nhận”. Điều này làm nổi bật việc sử dụng từ ngữ tinh tế của Thế Lữ, đạt đến độ chính xác cao. Âm thanh của rừng, Thế Lữ mang đến tiếng gió gào ngàn, giọng núi rừng hét thét, như là bản hòa nhạc rộn ràng. Câu thơ diễn đạt một cách nhịp nhàng, cân đối sự hùng vĩ và tinh tế của con hổ.

3. Bài viết 'Lưu giữ hồi ức rừng' số 2
Câu 1 trang 7 - SGK Ngữ văn 8 tập 2:
Bài thơ được tác giả chia thành 5 phần, mô tả những khía cạnh khác nhau:
- Phần 1: Con hổ bày tỏ lòng căm hận và uất hận khi bị giam cầm trong chuồng sắt.
- Phần 2: Nỗi nhớ về núi rừng và sự oai phong của con hổ.
- Phần 3: Hồi tưởng về thời kỳ oanh liệt và tự do.
- Phần 4: Chán ghét cảnh nhà thú nhân tạo, tù túng và đầy giả dối.
- Phần 5: Giấc mơ và khao khát trở lại với vùng rừng xưa.
Câu 2 trang 7 - SGK Ngữ văn 8 tập 2: Trong bài thơ, có hai bức tranh ấn tượng:
a) Cảnh nhà thú nhân tạo, nơi con hổ bị nhốt (phần 1 và phần 4):
Trong phần 1, con hổ bày tỏ tâm trạng chán ngán và uất ức khi bị nhốt trong chuồng sắt, trở thành thứ đồ chơi và bị xếp cùng các loài động vật khác. Phần 4 mô tả nhà thú nhân tạo qua góc nhìn của con hổ, nhấn mạnh sự giả dối và thấp kém của nó so với rừng.
b) Cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị (phần 2 và phần 3):
Phần 2 và 3 miêu tả cảnh núi rừng đại ngàn, với mọi thứ đều lớn lao, cao cả và phi thường. Chúa sơn lâm xuất hiện với vẻ đẹp tinh tế và mạnh mẽ, tượng trưng cho sức mạnh.
c) Sự tương phản sâu sắc giữa hai cảnh tượng trên thể hiện tâm trạng của con hổ ở nhà thú, biểu lộ sự chán ghét thực tại tầm thường và niềm nhớ mãnh liệt về quá khứ huy hoàng.
Câu 3 trang 7 - SGK Ngữ văn 8 tập 2: Tác giả lựa chọn 'lời con hổ ở vườn bách thú' để thể hiện cảm xúc của nhà thơ. Con hổ, với vẻ đẹp oai hùng và chúa sơn lâm, trở thành biểu tượng tốt cho chủ đề bài thơ. Lời của con hổ giúp tác giả diễn đạt sâu sắc tâm trạng chán ghét thực tại và khao khát tự do.
Câu 4 trang 7 - SGK Ngữ văn 8 tập 2: Nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá Thế Lữ như một 'viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng'. Thế Lữ sử dụng từ ngữ điêu luyện, chính xác, và nhịp nhàng trong bài thơ, tạo ra âm thanh rừng độc đáo và tốt bật. Các câu thơ như là một bản hòa nhạc, diễn đạt tốt sự hùng vĩ và tinh tế của con hổ.
* Ghi nhớ: Bài thơ 'Nhớ rừng' của Thế Lữ mô tả tâm trạng của con hổ bằng lời của nó ở nhà thú, thể hiện sự chán ghét thực tại và niềm khao khát tự do, đồng thời kích thích lòng yêu nước của độc giả.

4. Bài viết 'Ghi nhớ rừng' số 5
I. Thông tin về tác giả Thế Lữ
- Thế Lữ (1907- 1989), tên thật là Nguyễn Thứ Lễ- Quê quán: Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội)- Sự nghiệp sáng tác và cuộc đời: + Là nhà thơ đặc trưng của thơ mới hiện đại (1932 - 1945) + Ngoài viết thơ, Thế Lữ còn là tác giả của nhiều truyện kinh dị và trinh thám... + Hoạt động nghệ thuật sân khấu, đóng góp vào việc phát triển kịch nói ở Việt Nam + Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000 + Tác phẩm nổi bật: Bên đường Thiên lôi, Mấy vần thơ…- Phong cách sáng tác: Thơ của Thế Lữ phong phú, đầy lãng mạn, và chứa đựng những ý sâu sắc.II. Tổng quan về bài viết Nhớ rừng1. Ngữ cảnh sáng tác
- Bài viết được sáng tác vào năm 1934 và xuất hiện trong tập Mấy vần thơ- 1935
2. Kết cấu
- Phần 1 + 4: Hình ảnh con hổ bị nhốt trong vườn bách thú
- Phần 2 + 3: Hình ảnh con hổ trong khung cảnh núi rừng hùng vĩ
- Phần 5: Niềm khao khát tự do mãnh liệt
3. Nội dung
- Viết về sự bất mãn của lớp thanh niên trí thức yêu nước, sử dụng hình ảnh con hổ nhớ về rừng để thể hiện tâm trạng u uất. Hình ảnh con hổ cảm thấy không hòa hợp với cảnh nhà thú nhỏ bé, tù túng, và khao khát tự do, đồng thời là tâm trạng chung của người dân Việt Nam mất nước bấy giờ.
4. Nghệ thuật
- Sử dụng hình ảnh biểu tượng và sáng tạo
- Ngôn ngữ và giai điệu đa dạng, phong phú, và biểu cảm.
III. Hiểu đọc bài viết Nhớ rừng
Câu 1 sgk ngữ văn 8 trang 7
Bài viết được chia thành 5 đoạn, mô tả những khía cạnh khác nhau:
Phần 1 và phần 4: Nói về lòng uất hận của con hổ khi bị giam cầm ở một nơi chật chội, tù túng, và giả dối.
Phần 2 và phần 3: Hồi tưởng về cảnh tự do, mở mắt với núi rừng thời oanh liệt.
Phần 5: Lưu giữ kí ức về núi rừng xưa với giấc mơ ngàn.
Câu 2 sgk ngữ văn lớp 8 trang 7
a.
Hình tượng ở vườn bách thú là một bức tranh đầy tù túng, ngột ngạt.
Phần 1: Tâm trạng chán nản, buồng xuôi, và tuyệt vọng đầy căm hận của chúa sơn lâm khi bị tù tội, bị coi là ngang hàng với lũ dở hơi. Sử dụng ngôn từ mạnh mẽ, tính từ sắc bén, và giọng thơ mạnh mẽ để diễn đạt cảm xúc.
Phần 4: Hình ảnh vườn bách thú trong tâm trạng của con hổ rất đáng khinh. Đó là một cảnh nhân tạo, giả dối, thấp kém, và không có chút gì giống với rừng núi hoang sơ và hùng vĩ, nơi mà con hổ từng ngự trị và tỏ ra hùng dũng. => Thái độ khinh bỉ, chán ghét với xã hội hiện đại.
Cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ từng thống trị trong những 'ngày xưa'.
Phần 2+3: Mô tả cảnh núi rừng đại ngàn với: bóng cả cây già, tiếng gió lao xao ngàn, tiếng hót núi. Thiên nhiên hiện lên hoang sơ, hùng vĩ nổi bật, trong khi hình ảnh chúa sơn lâm mạnh mẽ, oai vệ, và điều này được thể hiện một cách nhịp nhàng.
Cảnh núi rừng hùng vĩ với 'bóng cả cây già' đầy vẻ trang trí.
Trải qua bức tranh hùng tráng với âm thanh dữ dội của 'tiếng gió lao xao', 'giọng hót núi'.
Sự hoang dã của nơi hoang dã không có tên và không biết tuổi.
b. Nhận xét:
Ngôn ngữ phong phú, đa dạng, sử dụng nhiều từ ngữ hình tượng và sáng tạo.
Hình ảnh hùng vĩ, lớn lao, và lẫm liệt.
Giọng vừa oai nghiêm vừa dữ dằn, tràn ngập căm hận và kiệt tác.
c) Sự tương phản mạnh mẽ giữa cảnh vườn bách thú và cảnh núi rừng hùng vĩ thể hiện sự nhớ nhung và tiếc nuối đau đớn của con hổ về những thời kỳ huy hoàng của mình.
Tâm trạng của con hổ là tâm trạng của những người dân Việt Nam mất nước, sống trong tình cảnh khốn khổ và mãnh liệt nhớ về những thời kỳ oanh liệt trong lịch sử đất nước.
Câu 3 sgk ngữ văn lớp 8 trang 7
Với hình ảnh con hổ, tác giả đã chọn một biểu tượng hoàn hảo và quyến rũ để thể hiện chủ đề của bài viết. Con hổ, với vẻ đẹp oai vĩ, hùng vĩ, là biểu tượng lãng mạn tuyệt vời. Hơn nữa, hoàn cảnh của con hổ tương ứng với tâm trạng của nhà thơ, phản ánh cảm xúc của cá nhân lãng mạn đối mặt với thực tại khắc nghiệt.
Câu 4 sgk ngữ văn lớp 8 trang 7
Nhà phê bình Hoài Thanh đã đánh giá Thế Lữ như một 'nhà văn điều khiển đội quân văn chương Việt ngữ bằng những từ ngữ không thể phủ nhận được'. Điều này thể hiện nghệ thuật sử dụng từ ngữ tinh tế, chính xác, và nhịp điệu linh hoạt trong bài viết, tạo ra âm thanh của rừng độc đáo và độc đáo. Những dòng thơ như là một bản giao hưởng, truyền đạt sự hùng vĩ và tinh tế của con hổ một cách xuất sắc.

5. Bài viết 'Hồi ức rừng' số 4
Phần I. Về Người Sáng Tác và Tác Phẩm
1. Người Sáng Tác
Thế Lữ (1907-1989), tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những nhà văn nổi tiếng của báo Phong hoá và Ngày nay. Năm 1937, ông chuyển sang lĩnh vực sân khấu và có những đóng góp quan trọng.
Thế Lữ còn nổi tiếng với nhiều tác phẩm, trong đó có Mấy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936); Lê Phong phóng viên (truyện, 1937); Đòn hẹn (truyện, 1939); Gió trăng ngàn (truyện, 1941); Dương Quý Phi (truyện, 1942); và nhiều kịch bản khác.
2. Tác Phẩm
Bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ là một trong những tác phẩm nổi bật của phong trào Thơ mới. Thể loại thơ mới đã mang lại sự đột phá và sự mới mẻ trong văn chương, đặc biệt là thơ. Những cảm xúc và tư tưởng mới đã làm cho thể thơ cũ không còn phù hợp. Nhớ rừng là minh chứng cho cuộc cách mạng văn chương này.
Phần II. Kiến Thức Cơ Bản
Câu 1. Bài thơ được chia thành năm đoạn, mỗi đoạn diễn tả một khía cạnh của niềm uất hận, tù túng và tình yêu thương của con hổ với rừng nguyên sinh. Từ ngữ và hình ảnh trong bài thơ làm nổi bật sự đối lập giữa vườn bách thú nhân tạo và vẻ đẹp hoang sơ của rừng.
Câu 2. a) Cảnh tượng ở vườn bách thú là biểu tượng cho sự tù túng. Con hổ chán ngán khi bị coi là đồ chơi và sống trong môi trường nhân tạo. Đối lập với đó, những dòng thơ về rừng mô tả vẻ đẹp hùng vĩ, mạnh mẽ, và tự do.
b) Sử dụng từ ngữ và hình ảnh mạnh mẽ trong đoạn thơ thứ hai và thứ ba nhấn mạnh sự đẹp đẽ và hoang sơ của rừng nguyên sinh. Ánh sáng trăng, tiếng chim hòa mình với thiên nhiên tạo nên không khí trữ tình và quyến rũ.
c) Tình cảm của con hổ với rừng được thể hiện rõ qua ngôn ngữ và biểu đạt tinh tế. Sự đối lập giữa cuộc sống tầm thường ở vườn bách thú và ký ức về rừng hoang sơ làm nổi bật tâm trạng uất hận và hoài niệm.
Câu 3. Sự lựa chọn mượn lời con hổ làm người kể chính là một cách khéo léo để truyền đạt cảm xúc và tư tưởng của tác giả. Con hổ trở thành giọng điệu của lòng tự do và lòng yêu nước, và điều này giúp bài thơ trở nên chân thực và cảm động.
Câu 4*. Thế Lữ được khen ngợi như một nhà văn tài năng, là người điều khiển ngôn ngữ Việt Nam như một chiến tướng. Sự điêu luyện trong từ ngữ, hình ảnh và giọng điệu của ông tạo ra một tác phẩm văn chương độc đáo và sâu sắc.
Phần III. Rèn Luyện Kỹ Năng
- Lời đề từ 'Lời con hổ ở vườn bách thú' làm tăng sự đặc sắc và hấp dẫn của bài thơ. Giọng đọc cần thể hiện sự tự tin và kiêu hãnh của con hổ bị nhốt, giúp người nghe cảm nhận được sự đau đớn và khao khát tự do.
- Kỹ thuật đọc cần nhấn mạnh sự biểu cảm trong bài thơ, từ những lời chán nản ở vườn bách thú đến niềm hạnh phúc và hứng khởi khi nhớ về rừng.

6. Bài viết 'Ghi nhớ rừng' số 6
Câu 1. Hãy liệt kê các từ ngữ miêu tả núi rừng hùng vĩ (đoạn 2, 3) và miêu tả con hổ chốn rừng thiêng (đoạn 2, 3). Nhận xét về sự khai thác từ ngữ của tác giả và tác dụng của việc sử dụng từ Hán Việt.
Trả lời:
Để làm bài tập này, học sinh cần hiểu rõ về trường từ vựng và liệt kê từ ngữ thuộc trường từ vựng của cảnh núi rừng và hình ảnh con hổ. Tác giả đã sử dụng một vốn từ vựng phong phú, đa dạng để khắc hoạ nét đẹp lớn lao của cảnh núi rừng và hình ảnh oai phong của con hổ. Việc sử dụng từ Hán Việt ở các đoạn 2, 3 làm tăng thêm hiệu quả nghệ thuật, tạo ra sự trang trọng và mĩ lệ.
Câu 2. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét về thơ Thế Lữ, đặc biệt là bài Nhớ rừng. Em hiểu ý kiến này như thế nào? Đội quân Việt ngữ mà Hoài Thanh đề cập có những yếu tố gì?
Trả lời:
Ý kiến của Hoài Thanh về bài Nhớ rừng là thể hiện sức mạnh phi thường của cảm xúc trong việc sử dụng ngôn ngữ. Tác giả Thế Lữ được mô tả như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được. Đội quân Việt ngữ này bao gồm từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, mang lại hiệu quả biểu cảm mạnh mẽ.
Câu 3. Vì sao con hổ không chỉ bực bội vì bị nhốt trong cũi sắt mà còn chán ghét toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú (đoạn 1, đoạn 4)?
Trả lời:
Con hổ chán ghét toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú vì nó nhìn thấy những điều tầm thường, giả dối và không đáng chú ý. Nó mong muốn trở về rừng nơi có sự tự do và vẻ đẹp phi thường, chứ không chấp nhận sự nhốt nhát và tầm thường ở vườn bách thú.
Câu 4. SGK Ngữ văn 8 mô tả bài Nhớ rừng là “tràn đầy cảm xúc lãng mạn”. Em hiểu “lãng mạn” là gì? Cảm xúc lãng mạn được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Trả lời:
Lãng mạn là tâm hồn giàu mộng tưởng, khát vọng và cảm xúc sâu sắc. Bài Nhớ rừng tràn đầy cảm xúc lãng mạn qua việc mô tả thế giới mộng tưởng lớn lao và diễn đạt nỗi đau uất hận của con hổ. Tác giả sử dụng ngôn ngữ sôi nổi và da diết để thể hiện tình cảm mạnh mẽ trong bài thơ.

