1. Bài soạn 'Chí khí anh hùng' trích 'Truyện Kiều' số 1
I. Thông tin tổng quan về đoạn trích
1. Vị trí: Câu 2213 đến câu 2230 trong tác phẩm Truyện Kiều
2. Bố cục: Ba phần chính thể hiện chí khí anh hùng của Từ Hải
3. Giá trị nghệ thuật: Sử dụng bút pháp lí tưởng hóa nhân vật và tượng trưng hình ảnh
II. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1:
- Lòng bốn phương: ý chí vươn lên, khát vọng khắp nơi
- Phi thường: vượt trội, xuất chúng
→ Miêu tả phẩm chất, tài năng của Từ Hải
- Sử dụng từ ngữ trân trọng, kính phục Từ Hải:
+ Tôn xưng cao quý
+ Hình ảnh lớn lao, kì vĩ
+ Hành động dứt khoát
→ Miêu tả Từ Hải với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng, ngợi ca người anh hùng
Câu 2:
- Ngôn ngữ mạnh mẽ, quyết đoán của Từ Hải với Thúy Kiều, không quyến luyến vì tình yêu
+ “Tâm phúc tương tri
Sao chưa dứt khỏi nữ nhi thường tình.”
- Thái độ và hành động mạnh mẽ, quyết định của Từ Hải
+ “Bao giờ mười vạn tinh binh
… rước nàng nghi gia”
- Lời hẹn ước ngắn gọn, dứt khoát, chân thành đúng với khí phách anh hùng
Câu 3:
- Hình ảnh anh hùng oai hùng thông qua tượng trưng và lý tưởng hóa nhân vật
+ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
+ Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
- Hình ảnh cánh chim tự do trên bầu trời
- Sử dụng từ ngữ chỉ bậc trượng phu: thoát, quyết, dứt, lòng bốn phương, tinh binh, phi thường, bốn bể, dặm khơi
- Ngôn ngữ đối thoại kết hợp miêu tả, nhân xưng, ước lệ tạo điểm nhấn lí tưởng hóa trong bức tranh của Nguyễn Du

2. Bài soạn 'Chí khí anh hùng' trích 'Truyện Kiều' số 3
I. Tìm hiểu chung
* Vị trí đoạn trích: Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 nói về sự dứt áo của Từ Hải
* Bố cục: Phân thành 3 phần chính thể hiện chí khí anh hùng của Từ Hải
1. 4 câu đầu: Khát vọng lên đường và chia tay sau nửa năm sống chung
2. 12 câu tiếp: Cuộc đối thoại Từ Hải với Kiều - thể hiện tính cách anh hùng
3. 2 câu cuối: Hành động dứt khoát ra đi của anh hùng Từ Hải
II. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1:
* Hàm nghĩa của các cụm từ:
Lòng bốn phương: chí nguyện lập nên công danh sự nghiệp
Mặt phi thường: tính chất khác người, xuất chúng
=> Từ Hải vóc lớn như vũ trụ
* Từ ngữ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du: trượng phu, lòng bốn phương, mặt phi thường, thoắt, trông vời, trời bể mênh mang, thanh gươm yên ngựa,…
Câu 2:
Từ Hải thể hiện lí tưởng anh hùng qua lời nói với Kiều
- Trách Kiều là tri kỉ mà không hiểu mình, anh hùng không quyến luyến tình yêu mà quên lí tưởng cao cả
- Từ Hải tự tin về tương lai thành công: “Chầy chăng là một năm sau vội gì“
- Lời hẹn ước ngắn gọn, dứt khoát, chắc nịch, đúng với khí phách của anh hùng
Câu 3:
Đặc điểm miêu tả Từ Hải: khuynh hướng lí tưởng hóa nhân vật bằng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ. Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ để tạo hình anh hùng
Nhân vật anh hùng với chí khí “bốn phương”, suy nghĩ ngắn gọn, dứt khoát. Phần tình cảm giản đơn, nhưng anh hùng rực rỡ hơn.

3. Bài soạn 'Chí khí anh hùng' trích 'Truyện Kiều' số 2
Câu 1 (trang 114 SGK Ngữ văn 10 tập 2)
Anh (chị) hãy cho biết hàm nghĩa các cụm từ “lòng bốn phương” và “mặt phi thường”. Tìm những từ ngữ thể hiện sự trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải.
Lời giải chi tiết:
* Giải thích từ ngữ:
- “Lòng bốn phương”: Nghĩa là ý chí muốn vùng vẫy khắp thiên hạ.
=> Từ Hải nghe tiếng gọi của bốn phương dậy lên trong lòng trượng phu chí lớn. Bốn phương ở đây có ý nghĩa chỉ thiên hạ, thế giớ. “Lòng bốn phương” đồng nghĩa với “Chí tang bồng”, “Chí làm trai”...
- "Mặt phi thường" là cụm từ chỉ phẩm chất xuất chúng, hơn người.
=> Điều đó không chỉ đơn giản thể hiện một cách cụ thể ở dung mạo bên ngoài (Râu hùm hàm én, mày ngài / Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao) mà quan trọng hơn là toàn bộ phẩm chất, tính cách cũng như cuộc đời, sự nghiệp của con người xuất chúng (trong trường hợp này “mặt phi thường” đồng nghĩa với “người phi thường”, “đời phi thường”, “sự nghiệp phi thường”...).
=> Hai cụm từ: “lòng bốn phương” và “mặt phi thường” và có ý nghĩa chỉ khái niệm đồng thời cũng chính là hình tượng văn học. Chúng có quan hệ tương hỗ để làm nổi bật quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Du: những người anh hùng là những người xuất chúng, phi thường, phi phàm, mang tầm vóc vũ trụ chứ không phải người thường. Điều đó thể hiện rõ qua việc sử dụng các yếu tố của thi pháp tả người anh hùng là gắn với các hình tượng thiên nhiên, không gian vũ trụ.
* Nguyễn Du sử dụng rất nhiều từ ngữ biểu thị thái độ trân trọng, kính phục Từ Hải:
- Từ ngữ có sắc thái tôn xưng như: “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường”...
- Từ ngữ chỉ hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “mười vạn tinh binh”, “bóng tinh rợp đường”, “gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”...
- Từ ngữ diễn tả hành động dứt khoát: “thoắt đã động”, “trên đường thẳng dong”, “quyết lời dứt áo ra đi”...
=> Miêu tả Từ Hải với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng và ngợi ca, Nguyễn Du đã dồn tất cả vẻ đẹp của người anh hùng lí tưởng, giấc mơ của nhân dân vào trong hình tượng này.
Câu 2 (trang 114 sgk Ngữ văn 10 tập 2)
Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình qua lời nói với Thúy Kiều như thế nào?
Lời giải chi tiết:
Lí tưởng anh hùng của Từ Hải được Nguyễn Du khai thác tinh tế qua cảnh tiễn biệt với Thuý Kiểu, đặc biệt qua những lời nói với nàng.
- Khác với cảnh tiễn biệt giữa Kiều với Kim Trọng và Kiều với Thúc Sinh, đây là cảnh tiễn biệt của Kiều với một trượng phu chí lớn. Chí khí, lòng quyết tâm của Từ Hải là không gì lay chuyển. Quan niệm về người anh hùng theo Từ Hải là phải tạo dựng sự nghiệp lớn để thực hiện giấc mơ công lí. Vì thế sau hơn nửa năm gắn bó, khát vọng ấy đã thôi thúc trái tim chàng, chàng ý thức được đã đến lúc phải lên đường. Vì vậy việc ra đi của Từ Hải là công việc tất yếu, quan trọng hàng đầu.
- Miêu tả một cách ước lệ, để Từ Hải lên ngựa và “lên đường thẳng dong'” rồi Nguyễn Du mới nói đến lời tiễn biệt của Kiều chính là vì muốn tôn vinh Từ Hải như một nhân vật anh hùng nổi bật.
- Coi Kiều khác hẳn với những người vợ “nữ nhi thường tình” mà là "tâm phúc tương tri” của mình (người hiểu biết lòng dạ mình một cách sâu sắc)
- Khẩu khí lời nói của Từ Hải rõ là của bậc trượng phu chí lớn, đàng hoàng, đĩnh đạc, có hào khí. Khẩu khí ấy một phần được tạo nên bởi các hình ảnh phi thường, hào hùng: “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “bốn bể không nhà”.
=> Lời của Từ Hải nói với Kiều không chỉ là lời của người yêu với người yêu, của người chồng với người vợ mà hơn hết đó là lời của một trang anh hùng với người “tâm phúc tương tri”. Qua lời Từ ta thấy hiên lên tính cách, phẩm chất, chí khí và khát vọng của một trang anh hùng hảo hán.
Câu 3 (trang 114 SGK Ngữ văn 10 tập 2)
Nêu nhận xét về đặc điểm của cách miêu tả (hiện thực hay lí tưởng hoá) người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích. Đây có phải là cách miêu tả phổ biến của văn học trung đại không?
Lời giải chi tiết:
Từ Hải là nhân vật lí tưởng Nguyễn Du đã dựng chân dung Từ Hải với cảm hứng ngợi ca bởi Từ chính là giấc mơ công lí của tác giả. Vì vậy miêu tả theo bút pháp hiện thực sẽ không làm nổi bật được điều đó mà phải miêu tả theo bút pháp ước lệ, lí tưởng hoá.
a. Nhà thơ đã khắc hoạ những hình ảnh phóng túng, oai hùng, con người “thanh gươm yên ngựa”, “tưởng như che cả trời đất” (Hoài Thanh). Đoạn thơ khép lại bằng cách mở ra hình ảnh cánh chim bằng lướt gió tung mây “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
b. Nhà thơ sử dụng hệ thống từ ngữ chỉ bậc “trượng phu": thoắt, quyết, dứt (áo), lòng bốn phương, thẳng rong, dậy đất, rợp đường, tinh binh, phi thường, bốn bể, dặm khơi...
c. Ngôn ngữ đối thoại cùng với những biện pháp miêu tả có tính nhân xưng, ước lệ cũng góp phần làm cho khuynh hướng lí tưởng hoá trong ngòi bút Nguyễn Du thêm phần nổi bật. Hình ảnh Từ Hải được hiện lên với vẻ đẹp của sự phi thường.
Anh hùng, tráng sĩ là mẫu nhân vật lí tưởng truyền thống của văn học trung đại. Hình tượng Từ Hải của Nguyễn Du vừa nằm trong hệ thống thi pháp tả người anh hùng của văn học trung đại đồng thời có những nét riêng biệt, độc đáo, đặc biệt là Nguyễn Du đã khéo léo lồng những phẩm chất rất anh hùng ở Từ Hải vào trong những phẩm chất rất nhiều khiến cho nhân vật anh hùng nhưng không cách biệt với đời thường.
Bố cục
Bố cục: 3 phần
- 4 cầu đầu: Khát vọng lên đường của Từ Hải
- 12 câu tiếp: Lí tưởng anh hùng của Từ Hải
- 2 câu cuối: Từ Hải ra đi
Nội dung chính
Qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du thể hiện lí tưởng về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ công lí

4. Bài soạn 'Chí khí anh hùng' từ 'Truyện Kiều' số 5
I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG
1. Vị trí đoạn trích
Trốn thoát khỏi sự đày đoạ của Hoạn Thư, Thuý Kiều như một lối thoát khỏi cuộc sống giam giữ và tăm tối ở lầu xanh. Nhưng Từ Hải không mãi chịu sống trong sự êm đềm, an nhàn bên Kiều. Anh ta quyết tâm đối mặt với thách thức, lập nên một công danh to lớn. Sau nửa năm bên nhau, Từ Hải, không chấp nhận cuộc sống yên bình, quyết định rời bỏ Kiều để theo đuổi ước mơ lớn. Đoạn này được trích từ câu 2213 đến câu 2230 trong 'Truyện Kiều'.
2. Chí khí anh hùng là đoạn trích thể hiện lý tưởng anh hùng của Nguyễn Du, với những phẩm chất xuất chúng của Từ Hải. Đồng thời, nó là sự tôn trọng và ngợi ca của tác giả đối với nhân vật này.
II - HƯỚNG DẪN ĐỌC - HlỂU VĂN BẢN
Câu 1. Trong thơ ca trung đại, việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên để tô điểm cho phẩm chất con người là phổ biến. Nguyễn Du sử dụng hai khái niệm “lòng bốn phương” (tượng trưng cho ý chí lập nên sự nghiệp) và “mặt phi thường” (biểu hiện phẩm chất xuất chúng) để vẽ nên bức tranh về vóc dáng phi thường của Từ Hải.
Những từ ngữ như “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” (được sử dụng để tôn xưng nhân vật), từ “thoắt” (thể hiện sự dứt khoát, nhanh nhẹn, quả quyết trong tính cách của Từ Hải)...
Câu 2. Đoạn trích là biểu hiện rõ ràng về lý tưởng của anh hùng Từ Hải. Ngoài lời ngợi của Nguyễn Du, trong cuộc trò chuyện với Kiều, Từ Hải cũng tỏ ra quyết đoán với lý tưởng của mình:
Từ rằng: 'Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
...................................................
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đêh kì dặm khơi.
Với lời thoại của Từ Hải, có thể nhận thấy anh ta không bị trói buộc, lạc quan với tương lai rạng ngời:
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rỗ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Và khẳng định sự thành công là điều tất yếu: “Chầy chăng là một năm sau vội gì'. Lời hẹn ước của Từ Hải ngắn gọn, quyết đoán và chắc chắn phản ánh tinh thần anh hùng của một vị tướng quân uy vũ.
Câu 3. Cách Nguyễn Du mô tả anh hùng có hai đặc điểm chính: Hình ảnh nhân vật không chỉ thể hiện lý tưởng mà còn mang tầm vóc vũ trụ. Mô hình người anh hùng là một truyền thống trong văn học trung đại. Nó thường được mô tả theo một khuôn mẫu đã được các nhà văn xây dựng qua quá trình sáng tạo. Đối với Từ Hải, các cụm từ như: “Lòng bốn phương' (tượng trưng cho lý tưởng con người vượt trội trong vũ trụ) hay “trông vời trời bể mênh mang' (tạo ấn tượng về vóc dáng phi phàm của Từ Hải)...
Theo cách thể hiện nghệ thuật này, anh hùng cũng có đặc điểm khác, đó là suy nghĩ và hành động ngắn gọn, dứt khoát. Họ thường được miêu tả nhiều hơn ở khía cạnh trí óc, phần tình cảm có vẻ giản đơn và ít nhiều nhoà nhạt.

5. Đoạn trích 'Chí khí anh hùng' từ 'Truyện Kiều' số 4
A- KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ ĐOẠN TRÍCH
1. Vị trí đoạn trích
- Thuộc phần 'Gia biến và lưu lạc' từ câu 2213 đến 2230 trong Truyện Kiều.
2. Nội dung đoạn trích
- Đoạn trích tôn vinh chí khí anh hùng của Từ Hải, làm nổi bật tình cảm tình tri kỉ giữa Thuý Kiều và Từ Hải. Kiều bị lừa và rơi vào lầu xanh lần thứ hai, nhưng Từ Hải xuất hiện đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục, thể hiện chí khí vĩ đại của nhân vật.
- Cuộc chia tay giữa Kiều và Từ Hải được miêu tả qua 3 đoạn nhỏ: chia tay, cuộc nói chuyện, và ý chí rời đi của Từ Hải.
3. Bố cục đoạn trích
Đoạn trích được phân thành 3 đoạn nhỏ, mỗi đoạn thể hiện một giai đoạn quan trọng trong cuộc chia tay giữa Kiều và Từ Hải.
4. Ý nghĩa nhan đề
“Chí khí anh hùng”: Tôn vinh tinh thần mục đích của người anh hùng, muốn tạo dựng điều vĩ đại, lưu danh thiên hạ và làm nên sự nghiệp cá nhân.
B- HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1: Hàm nghĩa của cụm từ “lòng bốn phương” và “mặt phi thường”. Từ ngữ thể hiện sự trân trọng của Nguyễn Du với Từ Hải.
Trả lời:
a) “Lòng bốn phương” là biểu tượng cho tâm hồn lớn lao, quyết tâm vươn ra bốn phương, muốn làm nên điều to lớn trong thế giới. Nguyễn Du sử dụng những từ ngữ như “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” để tôn vinh nhân vật Từ Hải.
b) “Mặt phi thường” là miêu tả về phẩm chất xuất chúng, hơn người, làm nổi bật sự xuất sắc và đặc biệt của Từ Hải. Nguyễn Du sử dụng những từ ngữ như “mặt phi thường”, “lòng bốn phương” để thể hiện sự kính trọng và ngưỡng mộ.
c) Sự trân trọng của Nguyễn Du được thể hiện qua các từ ngữ như “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường”, làm nổi bật vị thế và phẩm chất cao quý của Từ Hải.
d) Miêu tả Từ Hải với những từ ngữ như “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” thể hiện lòng kính trọng và tôn trọng của Nguyễn Du đối với nhân vật này.
Câu 2. Lí tưởng anh hùng của Từ Hải và cách anh ấy bộc lộ nó khi tiễn biệt Kiều.
Trả lời:
Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình khi tiễn biệt Kiều. Anh ta coi Kiều không chỉ là vợ mình mà còn là “Tâm phúc tương tri”, người hiểu biết tâm hồn anh. Lí tưởng của Từ Hải là phải tạo dựng sự nghiệp lớn, thực hiện giấc mơ công lí. Cuộc nói chuyện và lời tiễn biệt của Từ Hải thể hiện chí khí, ý chí và lòng quyết tâm của một anh hùng.
* Từ Hải coi Kiều là “Tâm phúc tương tri”, người hiểu biết tâm hồn anh. Điều này thể hiện sự kết nối tinh thần giữa họ, không chỉ là mối quan hệ vợ chồng thông thường mà còn là tình tri kỉ, tri âm.
* Lí tưởng anh hùng của Từ Hải là tạo dựng sự nghiệp lớn, thực hiện giấc mơ công lí. Cuộc nói chuyện và lời tiễn biệt của Từ Hải làm nổi bật chí khí, ý chí và lòng quyết tâm cao cả.
Câu 3: Nhận xét về cách miêu tả người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích.
Trả lời:
Cách miêu tả Từ Hải trong đoạn trích là sự kết hợp giữa hiện thực và ước lệ. Nguyễn Du tạo ra hình ảnh một anh hùng có tính cách hiện thực, nhưng cũng đặc biệt và phi thường. Sử dụng những từ ngữ như “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” làm tôn vinh phẩm chất anh hùng của nhân vật.
- Có sự ước lệ trong cách diễn đạt với các từ ngữ như “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” nhưng vẫn giữ được sự hiện thực qua các tình huống và tâm trạng của nhân vật.
- Cách miêu tả của Nguyễn Du có tính chất phổ biến trong văn học trung đại, nhất là trong việc xây dựng hình tượng anh hùng. Từ Hải không chỉ là một anh hùng xuất sắc mà còn được kết hợp với những đặc điểm riêng biệt, tạo nên một nhân vật hùng hậu và đầy đặc sắc.
- Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ đối thoại và miêu tả kết hợp, tạo nên một hình ảnh anh hùng đa chiều, phong cách và sâu sắc.
TỔNG KẾT
Đoạn trích không chỉ là sự tôn vinh chí khí anh hùng của Từ Hải mà còn là sự kết hợp giữa hiện thực và ước lệ trong cách diễn đạt văn bản. Hình tượng Từ Hải được xây dựng phong cách và sâu sắc, đặc biệt nhờ vào sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc kết hợp các yếu tố văn hóa và tâm lý của nhân vật.

6. Bài soạn 'Chí khí anh hùng' trích 'Truyện Kiều' số 6
A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1. Tác giả:
Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên ông là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam
Cuộc đời
Ông xuất thân trong một gia đình có hai truyền thống lớn đó là truyền thống làm quan và truyền thống văn học. Cha là nguyễn Nghiễm học rộng tài cao làm quan đến chức tể tướng, mẹ là con quan lớn. Anh trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng ra làm quan -> đây chính là điều kiện tiền đề để Nguyễn Du phát triển tài năng văn học của mình
Mười năm lang bạt đất Bắc, Nguyễn Du được nếm trải cuộc sống khó khăn, đói khổ và chứng kiến số phận đau đớn của nhân dân -> Trải nghiệm cuộc sống phong trần, vốn sống của ông phong phú, suy ngẫm về xã hội, thân phận con người
Được cử đi sứ Trung Quốc 2 lần, lần một năm 1813, được tiếp xúc với nền văn hóa Hán mà ông quen thuộc từ nhỏ, chuyến đi để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ văn của ông; lần hai năm 1820, chưa kịp đi thì ông bệnh và mất.
Sự nghiệp văn học
Sáng tác chữ Hán: 3 tập thơ với 249 bài là Thanh Hiên thi tập (78 bài), Nam Trung tạp ngâm (40 bài) và Bắc hành tạp lục (131 bài)
Sáng tác chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) và Văn chiêu hồn
Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm bác học.
Truyện Kiều của Nguyễn Du – kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, di sản văn học của nhân loại, là một “tập đại thành” của truyền thống nghệ thuật, văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng “nghĩ tới muôn đời”, vừa là thái độ nâng niu, vun vén cho những giá trị nhân bản cao đẹp của con người.
2. Tác phẩm:
Xuất xứ: trích từ câu 2231 đến câu 2230 tác phẩm Truyện Kiều
Tóm tắt nội dung: Cuộc đời Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn khi lần thứ hai đi vào lầu xanh thì Từ Hải bỗng xuất hiện và đưa Kiều ra khỏi chốn lầu xanh. Hai người sống hạnh phúc khi trai anh hùng gái thuyền quyên đẹp tựa thần tên. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên nàng Kiều mà sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra đi. Đoạn trích là cuộc đối thoại giữa hai người trước khi Từ Hải lên đường cho thấy chí khí của Từ Hải
B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI
Câu 1: trang 114 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Anh (chị) hãy cho biết hàm nghĩa các cụm từ “lòng bốn phương” và “mặt phi thường”. Tìm những từ ngữ thể hiện sự trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải.
Bài làm:
Cuộc đời của Nguyễn Du: sinh ra trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng, các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn tranh giành quyền lực, phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Ông được chứng kiến bão táp của các phong trào khởi nghĩa nhân dân nên ông cảm nhận được không khí của thời đại, cảnh nhân dân lầm than, đau đớn trong chiến tranh. Dù họ là ai, thì cái chết cũng không thể tránh khỏi
Ông sinh trường trong một gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan to và có truyền thống về văn học. Cha là tể tướng Nguyễn Nghiễm. Anh là Nguyễn Khản, đã từng làm tới chức Tham tụng, nổi tiếng phong lưu một thời, rất thân với chúa Trịnh Sâm và là người rất mê hát xướng. Vì thế nên ông được sống trong cảnh giàu sang, phú quý và thấy được sự thối nát, tham lam, xấu xa của cuộc đấu đá, tranh chấp, trụy lạc của chốn quan trường và bọn vua chúa, quan lại.
Quãng thời gian biến động, Nguyễn Du phải sống nhờ ở quê vợ, bôn ba gần 10 năm trên đất Bắc, sống trong cảnh nghèo nàn, túng quẫn. Thời gian này ông đi nhiều, tiếp xúc và tìm hiểu nhiều về văn hóa, phong tục và sống rất gần dân, đặc biệt là những người dân lao động nghèo khổ. Ông hiểu được nỗi thống khổ, lầm than của họ trước sự bất công của xã hội.
=> Tất cả những yếu tố trên đã tác động tới nhận thức, thế giới quan, quan niệm của Nguyễn Du để tạo nên một hồn thơ đau đáu với nỗi đau của con người, với con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”
Câu 2: trang 96 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Cho biết các sáng tác chính của Nguyễn Du và đặc điểm chủ yếu của chúng
Bài làm:
Các sáng tác chính của Nguyễn Du: Nguyễn Du sáng tác cả bằng chữ Hán và chữ Nôm
Chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc Hành tạp lục
Chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn chiêu hồn
Đặc điểm chung:
Đặc điểm chung các tác phẩm: các tác phẩm thể hiện tư tưởng, nhân cách, tình cảm của nhà thơ
Giá trị nhân đạo: đề cao giá trị nhân văn con người. Các tác phẩm đó đều thể hiện sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với cuộc sống của con người, nhất là những người nhỏ bé, bất hạnh, ... đó là kết quả của quá trình quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về con người của tác giả.
Giá trị hiện thực: Lên án, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp con người, lên án xã hội,phong kiến đồng thời mà còn là sự ngợi ca, trân trọng con người và vẻ đẹp kì diệu của tình yêu đôi lứa.
Câu 3: trang 96 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Cách miêu tả người anh hùng Từ Hải : Khuynh hướng lí tưởng hóa nhân vật bằng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ, trong đó ước lệ và cảm hứng vũ trụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Kiểu mẫu người anh hùng vốn là nhân vật truyền thống trong văn học trung đại với nét đặc trưng là chí khí “bốn phương”, suy nghĩ và hành động ngắn gọn, dứt khoát, hơi hướng lí trí hơn tình cảm.

