1. Bài soạn tham khảo số 1
Khung Trích Dẫn
- 2 câu đầu: Sức Mạnh Khói Lửa của Quân Tướng Trần
- 2 câu cuối: Lòng Kiệt Xuất của Tâm Hồn Nghệ Sĩ
Câu 1 (Trang 116 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
- Phiên bản dịch chưa chứa hết tinh hoa của chữ Hán, từ “múa giáo” không thể bao dung đầy đủ ý nghĩa của “hoành sóc”
+ “Hoành sóc” là biểu tượng của sức mạnh và vẻ kỳ vĩ, vang lên hùng tráng hơn từ “múa giáo”
- Hình ảnh con người xuất hiện trong không gian và thời gian rộng lớn
+ Bao phủ chiều rộng của núi sông và chiều cao của sao Ngưu (Ngân Hà)
+ Thời gian không đo bằng ngày, tháng, mà đo bằng năm (cáp kỉ thu) tăng tính thời gian
+ Con người trong không gian kì vĩ, thời gian đậm chất vũ trụ, đồng thời mang vóc dáng hùng tráng với non sông
Câu 2 (Trang 116 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
“Tam quân khí thế mạnh nuốt trôi trâu” có hai góc nhìn:
- Góc nhìn 1: Ba quân khí mạnh mẽ hủy diệt trôi chiếc trâu
- Góc nhìn 2: Ba quân khí hùng mạnh vượt trội như sao Ngưu (Ngân Hà)
+ Quân đội nhà Trần có sức mạnh trí tuệ và lực lượng, chiến thắng mọi thách thức
+ Điều này được chứng minh qua những danh tướng như Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải…
Câu 3 (Trang 116 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Nghĩa của “Nợ công danh”:
- Góc nhìn 1: Lập công danh theo lý tưởng Nho giáo, tôn vinh sự cao quý của người nam nhi
+ Truyền thống cao đẹp khuyến khích con người hướng tới công danh để sống có ý nghĩa
+ “Nợ” công danh như một món nợ trí tuệ cần thanh toán của người nam nhi
- Góc nhìn 2: Nợ công danh là trách nhiệm với dân tộc, với đất nước
+ Trong bối cảnh xã hội cần nam nhi chống giặc, giữ vững lợi ích cộng đồng
+ “Nợ” công danh thể hiện ý thức trách nhiệm và lòng hi sinh cho cộng đồng và quốc gia
Câu 4 (Trang 116 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Thái độ “Thẹn” của tác giả:
+ Vì thiếu đi tài năng và trí tuệ như Gia Cát Lượng, cũng như hạn chế về trí và lực trong cuộc chiến xây dựng giang sơn
+ Ông thẹn trước sứ mệnh lớn lao còn dang dở và áp lực bất tận
→ Sự thẹn này không làm Phạm Ngũ Lão trở nên yếu đuối mà ngược lại, làm tôn lên nhân cách và tâm hồn cao quý
Câu 5 (Trang 116 sgk Ngữ văn 10 tập 1)
Vẻ đẹp của Trang Nam Nhi thời Trần:
+ Sức mạnh vũ trụ, lòng dũng cảm và tình yêu quê hương
+ Sự hi sinh, tận trung và đoàn kết, làm nên sức mạnh tập thể
+ Gửi gắm tư duy và tư tưởng cao đẹp cho thế hệ trẻ hôm nay
→ Họ là nguồn động viên, là nguồn hình mẫu cho thế hệ trẻ bám rễ và phát triển
- Thế hệ trẻ ngày nay cần lấy họ làm gương, học tinh thần và lòng dũng cảm để xây dựng tương lai tươi sáng hơn
Bài Tập Thực Hành
Nhớ lòng bài thơ (phiên âm và dịch thơ)

3. Bài tham khảo số 2
Cấu Trúc
- 2 câu đầu: Sức Mạnh của Quân Tướng Trần
- 2 câu cuối: Tâm Hồn Nghệ Sĩ Bi Thảm
Hướng dẫn Soạn Bài
Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Hai từ “Hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo được dịch là “múa giáo” thật chưa sát nghĩa và chưa bộc lộ hết sự hào hùng về con người, không gian trong câu “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Trong câu thơ này:
+ Thời gian: kháp kỉ thu
+ Không gian: giang sơn (đất nước)
+ Con người: một tráng sĩ đang cầm ngang ngọn giáo
Ở đây, tác giả khắc họa hình tượng người tráng sĩ dưới thời Trần, với ngọn giáo cầm ngang, vững chãi. Không gian trải dài, mênh mông vô tận, thời gian đằng đẵng, trải dài từ năm này qua năm khác. Sự kết hợp giữa không gian rộng lớn, thời gian “kỉ thu” mênh mông vô tận ấy khiến hình ảnh người tráng sĩ hiện lên với tầm vóc vũ trụ, với ý chí bảo vệ đất nước - vẻ đẹp được bộc lộ cả bên trong lẫn bên ngoài. Còn hai từ “múa giáo” chỉ thể hiện được một phần vẻ đẹp bên ngoài: khả năng chiến đấu.
Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách
Cách đầu tiên: thể hiện sức mạnh cùng ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần hùng mạnh như loài hổ báo – những động vật mạnh nhất của rừng xanh và sức mạnh ấy có thể “nuốt trôi trâu”.
Cách hiểu thứ hai: sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần rất lớn, sức mạnh ấy có thể át cả sao Ngưu trên bầu trời – sức mạnh của vũ trụ rộng lớn, có thể thay đổi cả giang san đất nước.
Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Trong thời kì này, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến quan niệm, lối sống của con người, đặc biệt là đấng nam nhi. Sinh ra trong đời, đấng quân tử luôn mang theo mình một món “nợ tang bồng”. Món nợ ấy thể hiện chí làm trai theo tinh thần của Nho giáo: lập công (để lại sự nghiêp) và lập danh (để lại tiếng thơm). Và ở đây, từ “nợ” còn là nỗi trăn trở của tác giả khi chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân với nước.
Câu 4 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Phạm Ngũ Lão là bậc anh hùng của dân tộc, dưới thời Trần ông đã lập rất nhiều chiến công và là đấng quân tử đáng được người đời sau tôn trọng. Tuy nhiên, ông vẫn thấy “thẹn” bởi ông thấy những điều mình làm chưa được coi là lớn lao như Vũ Hầu đã từng giúp Lưu Bị. Nhưng nỗi “thẹn” ấy không làm cho hình tượng của Phạm Ngũ Lão nhỏ bé đi mà nó còn khiến người đời thêm hiểu về tấm lòng của ông– luôn muốn được làm những điều tốt đẹp, lớn lao dành cho nhân dân, đất nước
Câu 5 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Nam nhi thời nhà Trần mang trong mình vẻ đẹp của ý chí chiến đấu bên trong và tầm vóc bên ngoài sánh ngang với vũ trụ, một hào khí được cả dân tộc noi gương – hào khí Đông A. Đó là vẻ đẹp của tinh thần chiến đấu, sự đoàn kết khi đất nước có giặc ngoại xâm đô hộ, là tinh thần luôn muốn đem sức lực của mình để cống hiến, bảo vệ quê hương.
- Từ bài thơ này, ta hiểu thêm về một thời kì lịch sử của những vị anh hùng như Phạm Ngũ Lão – những con người dành cả đời mình để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay như được củng cố, động viên tinh thần bảo vệ tổ quốc. Để làm được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần học tập và không ngừng học hỏi để giúp đất nước ngày càng phát triển hơn nữa.

2. Bài tham khảo số 3
Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
- Bản dịch chưa chính xác với bản gốc chữ Hán, từ “múa giáo” không thể truyền đạt đầy đủ ý nghĩa của “hoành sóc”.
+ “Hoành sóc” mang nghĩa cầm ngang giáo, kiên giữ biên cương non sông. Cảm giác kích thích từ “hoành sóc” tạo nên bức tranh hùng vĩ và lớn lao...
- Hình ảnh con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian rộng lớn.
+ Không gian mở rộng theo chiều ngang của núi sông, chiều cao của sao Ngưu đẹp tận cùng.
+ Thời gian được đo lường bằng năm (kỳ thu vài năm).
- Con người đặt trong không gian kỳ vĩ trở thành một phần của vĩ đại hơn.
=> Hình ảnh con người vươn lên, với tầm vóc bằng vũ trụ, gìn giữ biên cương non sông.
Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách:
- Hiểu cách thứ nhất là: “ba quân khí mạnh hơn đối với trâu”.
- Hiểu cách thứ hai là: “Tam quân hùng mạnh, khí thế át sao Ngưu”.
=> Quân đội nhà Trần mạnh mẽ về trí lực và sức mạnh, có những tướng tài mạnh mẽ, đồng đội hoàn thiện...
=> Sức mạnh ấy đủ để làm thay đổi cả thế giới.
Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Món “nợ công danh” mà nhà thơ nhắc đến vừa là ham muốn tạo dựng danh tiếng, để lại dấu ấn, vừa là “chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân, với nước”.
- Trong thời trung đại, những chàng trai hướng đến lý tưởng “Phải gì danh sơn hội” và họ xem việc đóng góp cho đất nước như một món nợ...
Câu 4 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Ý nghĩa của “thẹn” ở câu thơ cuối:
- Là sự ghi chú về vẻ đẹp, phẩm chất của những người anh hùng. Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa có khả năng chiến lược như Vũ hầu Gia Cát Lượng để giúp đỡ dân chúng, bảo vệ non sông.
- Sự “thẹn” của con người có trách nhiệm với đất nước, biên cương.
→ Hình ảnh tinh thần rạng ngời, vì lý tưởng, vì quê hương.
Câu 5 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):
Bài thơ là bức tranh thành công về hình ảnh người anh hùng mạnh mẽ, kiêu hùng, không khuất phục cùng với lý tưởng và hoài bão lớn => Độ hùng vĩ Đông Á.
=> Bài học lớn về lý tưởng và cách sống cho thế hệ trẻ.

4. Bài soạn tham khảo số 5
Câu 1 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Hai từ 'múa giáo' không thể hiện đúng bản chất hùng vĩ của 'hoành sóc' trong câu thơ gốc 'Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu'. 'Hoành sóc' là tư thế cầm ngang giáo, kiên giữ biên cương non sông. Con người xuất hiện với tư thế hiên ngang, lẫm liệt, mang tầm vóc của vũ trụ.
- Trong không gian rộng lớn (giang sơn) và thời gian trải dài dường như vô tận (kháp kỉ thu) đã làm cho hình ảnh con người trở nên kỳ vĩ, hào hùng lạ thường. Ngọn trường giáo dường như được đo bằng chiều dài của sông núi.
=> Cầm ngang ngọn giáo là tư thế con người luôn sẵn sàng chiến đấu, so với phần dịch 'múa giáo' thì hình ảnh đó mạnh mẽ, hào hùng hơn nhiều.
Câu 2 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Câu thơ 'Tam quân tì hổ khí thôn ngưu' có hai cách hiểu:
+ Thứ nhất, ta có thể hiểu là 'ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu'.
+ Thứ hai, Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu.
=> Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mẽ mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất.
Câu 3 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Trong thời phong kiến, lập công danh và lập danh tiếng là nhiệm vụ quan trọng của nam nhi. Đây là chí làm trai theo quan niệm Nho giáo. Lập công danh là món nợ của kẻ làm trai. Chừng nào chưa lập được công danh, chưa tạo được tiếng thơm là chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước. Đặt trong xã hội loạn lạc, đất nước thường xuyên bị xâm lược, chí làm trai có tác dụng mạnh mẽ, động viên con người từ bỏ cái tôi để sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp 'bình quốc an dân', do đó nó mang giá trị tích cực.
Câu 4 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Trong câu thơ cuối, nỗi 'thẹn' đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão 'thẹn' vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh - đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá nhiều thách thức. Nỗi thẹn ấy là minh chứng cho nhân cách cao quý, tâm hồn đẹp của Phạm Ngũ Lão.
Câu 5 (trang 114 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
- Vẻ đẹp của hình ảnh trang nam nhi đời Trần và ý nghĩa của bài thơ đối với thế hệ trẻ hiện nay. Bài thơ tôn vinh vẻ đẹp của con người thời nhà Trần. Hình ảnh con người được đặt ngang tầm vóc của vũ trụ, mang vẻ lẫm liệt, hào hùng. Họ là những con người sống đầy đủ kích thước cuộc sống, luôn hết mình vì dân, vì nước. Mỗi cá nhân đều ý thức tạo nên sức mạnh tập thể, hết mình cống hiến. Chính vì vậy đã tạo nên sức mạnh của thời đại, tạo nên một nhà Trần “bách chiến bách thắng” và hào khí Đông A mà sử sách mãi lưu danh.
- Thế hệ trẻ hiện nay học được từ bài thơ cách sống và cách cống hiến của những người tiền bối. Chúng ta học được lối sống lý tưởng, hoài bão của Phạm Ngũ Lão, một con người dốc lòng vì dân, vì nước. Thế hệ trẻ hiện nay học được cách nuôi dưỡng đam mê, khát vọng cho những giá trị cao cả, đẹp đẽ.
Bố cục: 2 phần
- 2 câu đầu: Khí thế của quân tướng nhà Trần
- 2 câu cuối: Nỗi lòng của nhà thơ
ND chính
Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao, khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

5. Bài tham khảo số 4
Bố cục
- Hai câu đầu: Sức mạnh của tinh thần quân tướng nhà Trần
- Hai câu cuối: Tâm hồn của nhà thơ
Nội dung
- Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao, khắc họa được vẻ đẹp con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng tinh thần hào hùng của thời đại
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Bản dịch chưa phản ánh đúng tinh thần chữ Hán ở câu thơ, từ “múa giáo” không thể hiện đúng ý của từ “hoành sóc”
+ Từ “hoành sóc” thể hiện ý chí lớn lao, kì vĩ, với âm hưởng vang dội hơn từ “múa giáo”
+ ý nghĩa, âm hưởng của từ “hoành sóc” tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn.
- Con người xuất hiện trong không gian và thời gian lớn lao
+ Không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông, chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm.
+ Thời gian đo bằng năm, không chỉ mới một năm mà đã là nhiều năm (cáp kỉ thu).
- Con người hiên ngang ấy mang vẻ đẹp của con người vũ trụ, non sông.
Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu :
+ có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”.
+ cách hiểu khác là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu.
- Quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực:
+ đầy đủ binh hùng tướng mạnh
+ có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…
- Tinh thần của quân đội nhà Trần đủ sức làm thay đổi trạng thái của đất trời
Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Nghĩa của “nợ công danh” có thể hiểu theo hai chiều
- Thể hiện tinh thần theo đạo Nho: lập công, lập danh
+ Lý tưởng này động viên con người từ bỏ cuộc sống tầm thường, nhạt nhòa để sống có ý nghĩa hơn
+ Nghĩa vụ lập công danh là một trách nhiệm của người nam giới. Chưa làm được việc này là chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân, với nước.
- Góc nhìn thứ hai: chưa thể hoàn thành trách nhiệm với đất nước, dân tộc
+ Trong bối cảnh xã hội loạn lạc, đất nước thường xuyên bị xâm lược, tinh thần làm trai có ý nghĩa tích cực, động viên con người từ bỏ cái tôi để sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp 'bình quốc an dân'
⇒ Tất cả đều thể hiện tầm quan trọng của Phạm Ngũ Lão trong việc định rõ giá trị sống của một người đàn ông
Câu 4 (trang 116 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Ý nghĩa của nỗi thẹn trong câu thơ cuối
+ thẹn vì trí và lực của mình giới hạn trong khi nhiệm vụ là khôi phục giang sơn, đất nước còn nhiều thách thức
+ thẹn vì chưa đạt đến sự hiểu biết và chiến lược lớn như Gia Cát Lượng.
- Dù hiểu theo hướng nào, nỗi thẹn đều làm bừng sáng nhân cách của Phạm Ngũ Lão.
- Nỗi thẹn là ngọn lửa thắp lên trong tâm hồn, là động lực cho những khát vọng lớn lao, thể hiện lòng tận trung với quê hương của tác giả.
Câu 5 (trang 116 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Cảm nhận vẻ đẹp của sức mạnh và tinh thần của những trang nam nhi thời nhà Trần:
+ họ mạnh mẽ, hùng mạnh đúng với tầm vóc vũ trụ
+ họ luôn dốc hết tâm huyết, sức mạnh vì dân, vì nước
+ mỗi cá nhân đều ý thức làm nên sức mạnh tập thể, hết lòng hi sinh
- Tinh thần và tâm hồn mạnh mẽ của những con người ấy sẽ luôn là nguồn động viên cho sự nỗ lực và phấn đấu của thế hệ trẻ hiện nay và trong tương lai.

6. Bài tham khảo số 6
Câu 1(trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Chỉ ra sự khác biệt giữa hai câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán và câu thơ dịch. Điều đáng chú ý về không gian, thời gian và tư thế, vóc dáng của con người là gì?
Lời giải chi tiết:
- So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy sự không giống nhau rõ ràng. Hai từ “múa giáo” không thể truyền đạt đầy đủ ý nghĩa của từ “hoành sóc”.
+ “Hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ “hoành sóc” mang lại cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn từ 'múa giáo'
- Trong câu thơ đầu, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian rộng lớn. Không gian mở rộng theo chiều rộng của núi sông và cao lên theo chiều của sao Ngưu. Thời gian không đo bằng ngày, tháng mà đo bằng năm, không chỉ mới một năm mà đã là mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo (ngang bằng với chiều ngang của non sông), được đặt trong không gian và thời gian như vậy, thật là kì vĩ. Con người hiên ngang mang vẻ đẹp của con người vũ trụ, non sông.
Câu 2 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Ảnh hưởng của câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” đối với sự mạnh mẽ của quân đội nhà Trần là thế nào theo anh (chị)?
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách:
- Thứ nhất, có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”.
- Hoặc cách hiểu khác: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu.
Quân đội nhà Trần không chỉ mạnh về trí và lực, mà còn có đầy đủ binh hùng tướng mạnh và những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Do đó, không có gì quá ngạc nhiên khi nói rằng khí thế đó có đủ sức làm thay đổi trạng thái của đất trời.
Câu 3 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Ý nghĩa của “nợ công danh” theo tác giả là gì?
Lời giải chi tiết:
“Nợ công danh” trong bài thơ có thể được hiểu theo hai khía cạnh:
- “Nợ” công danh là chí làm trai theo tinh thần Nho giáo: lập công, lập danh. Điều này thể hiện lòng tận trung của con người, từ bỏ cuộc sống tầm thường để sống có ý nghĩa với trời đất muôn đời. Công danh trở thành một “nợ” mà kẻ làm trai phải trả.
- “Nợ” công danh là chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân, với nước. Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, chí làm trai đồng nghĩa với việc phải chống giặc ngoại xâm, cứu nước và cứu dân. Đây là trách nhiệm lớn, và lòng tận trung của Phạm Ngũ Lão đối với dân tộc được thể hiện rõ qua ý thức này.
=> Như vậy, “nợ công danh” không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn là trách nhiệm đối với cộng đồng và quê hương, là quan niệm sống cao đẹp và tích cực không chỉ trong thời kỳ phong kiến mà còn áp dụng cho con người hiện đại.
Câu 4 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Phân tích ý nghĩa của “thẹn” trong hai câu thơ cuối.
Lời giải chi tiết:
- Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa có tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nước. Thẹn vì trí và lực của mình có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước vẫn còn quá nhiều.
- Cảm giác thẹn còn xuất phát từ việc chưa có những đóng góp lớn như Gia Cát Lượng.
Dù hiểu theo hướng nào, nỗi thẹn không làm con người trở nên nhỏ bé. Ngược lại, nó làm tôn vinh nhân cách con người. Nỗi thẹn là ngọn lửa hướng đến những khát vọng cao đẹp, thể hiện lòng tận trung và trách nhiệm báo quốc của tác giả.
Câu 5 (trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Qua bài thơ, hình ảnh trang nam nhi thời Trần được tô điểm như thế nào? Ý nghĩa của điều đó đối với thế hệ trẻ ngày nay và trong tương lai như thế nào?
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh của trang nam nhi thời Trần trong bài thơ được ca ngợi với vẻ đẹp lẫm liệt, hào hùng. Họ sống đúng với quy luật của cuộc sống, luôn hết mình vì dân, vì nước. Mỗi cá nhân đều ý thức tạo nên sức mạnh tập thể, hết lòng hi sinh. Chính sức mạnh này đã tạo nên thời đại hùng mạnh của nhà Trần, làm cho hào khí của Đông Á vẫn mãi vang vọng.
- Thế hệ trẻ hôm nay học được từ bài thơ cách sống và cách cống hiến của những người anh hùng xưa. Họ học được lí tưởng sống và hoài bão của Phạm Ngũ Lão, người hết lòng vì dân và nước. Điều này giúp thế hệ trẻ nuôi dưỡng đam mê, khát vọng cho những ý nghĩa cao cả và đẹp đẽ trong cuộc sống.
Bố cục: 2 phần
- 2 câu đầu: Khí thế của quân đội nhà Trần
- 2 câu sau: Nỗi lòng của nhà thơ
Nội dung chính
Bài thơ “Tỏ lòng” của Đường luật ngắn gọn, súc tích, mô tả vẻ đẹp của con người với sức mạnh, lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.
