1. Bài soạn 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới' số 1
Bố cục
Phần 1 (từ đầu… càng nổi trội): Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới
Phần 2 (tiếp… điểm yếu của nó): Yêu cầu, thách thức của thời đại
Phần 3 (tiếp … hội nhập): Điểm mạnh, yếu của người Việt
Phần 4 (còn lại):
Câu 1 (Trang 30 sgk ngữ văn 9 tạp 2)
Tác giả viết bài này vào đầu năm 2001 khi chuyển giao hai thế kỉ của toàn thế giới, với nước ta tiếp bước công cuộc đổi mới từ cuối thế kỉ trước
- Vấn đề: chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới→ có tính thời sự, có ý nghĩa với sự phát triển lâu dài, hội nhập của đất nước
- Nhiệm vụ: nhìn nhận hạn chế để khắc phục, bắt kịp thời đại. Đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đẩy mạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Câu 2 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)
Trình tự lập luận của tác giả:
- Chỉ ra sự cần thiết trong nhận thức của người trẻ về cái mạnh, yếu của người Việt Nam
- Phân tích đặc điểm con người Việt (điểm mạnh, yếu, mặt đối lập)
- Con người Việt Nam tự thay đổi, hoàn thiện để hội nhập với toàn cầu
Câu 3 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)
Tác giả cho rằng 'sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất'
- Máy móc, các yếu tố khác có tân tiến tới đâu cũng là sản phẩm do con người sáng tạo, không thể thay thế con người
- Trong nền kinh tế tri thức, sự nhạy bén của con người vẫn quyết định sự phát triển của xã hội
Câu 4 (Trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)
Điểm mạnh yếu của con người Việt Nam tác động tới nhiệm vụ đất nước:
- Thông minh nhạy bén cái mới, thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực thành → Không thích ứng với nền kinh tế mới
Cần cù sáng tạo, thiếu tỉ mỉ, không coi trọng quy trình → ảnh hưởng nặng nề phương thức sản xuất nhỏ, thôn dã
- Đoàn kết, đùm bọc trong chiến đấu nhưng đố kị trong làm ăn, cuộc sống → Ảnh hưởng tới giá trị đạo đức, giảm đi sức mạnh, tính liên kết
- Thích ứng nhanh dễ hội nhập, nhưng kì thị trong kinh doanh, thói khôn vặt, khôn lỏi → Cản trở kinh doanh, hội nhập
Câu 5 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)
Nhận xét tác giả với sách lịch sử, văn học:
+ Giống: phân tích, nhận xét ưu điểm người Việt: thông minh, cần cù, sáng tạo, đoàn kết trong chiến đấu…
+ Khác: phê phán khuyết điểm, hạn chế, kĩ năng thực hành, đố kị, khôn vặt
- Thái độ người viết: khách quan khoa học, chân thực, đúng đắn
Câu 6 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)
Những câu thành ngữ được sử dụng: nước đến chân mới nhảy, liệu cơm gắp mắm, bóc ngắn cắn dài, trâu buộc ghét trâu ăn
- Tục ngữ có tính chân xác bởi được đúc rút từ kinh nghiệm của cha ông thế hệ trước
→ Giúp bài viết trở nên sinh động, gần gũi, dễ hình dung hơn.

3. Bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới' số 3
I. Hồ sơ tác giả
- Vũ Khoan (sinh năm 1937)
- Quê hương: huyện Phú Xuyên, Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội)
- Sự nghiệp và cuộc đời:
+ Vũ Khoan được biết đến là một chính trị gia và nhà ngoại giao xuất sắc của Việt Nam
+ Ông bắt đầu hoạt động ngoại giao cho quốc gia từ năm 1956, bắt đầu với công việc phiên dịch
+ Năm 1990, ông làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
+ Từ 28 tháng 1 năm 2000 đến ngày 8 tháng 8 năm 2002, ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương mại
+ Ông là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ tháng 8 năm 2002 đến cuối tháng 6 năm 2006
+ Với nhiều đóng góp cho nền ngoại giao quốc gia, ông được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Lao động hạng Nhì
II. Sáng tác
1. Bối cảnh sáng tác
- Bài viết xuất bản trên tạp chí Tia sáng năm 2001, thuộc tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002
1. Bối cảnh sáng tác
- Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là yếu tố quan trọng nhất khi bước vào thế kỷ mới
- Phần 2: tiếp theo đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và nhiệm vụ của đất nước
- Phần 3: tiếp theo đến hết. Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của họ khi bước vào thế kỷ mới
3. Giá trị nội dung
- Tác phẩm đưa ra bình luận chi tiết về điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó提出 những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỷ mới
4. Giá trị nghệ thuật
- Bài viết đặt ra vấn đề nóng hổi, cấp thiết với cách nhìn nhận khách quan kết hợp với lí lẽ lập luận giản dị, chặt chẽ và thái độ tôn trọng đối tượng, tinh thần trách nhiệm của tác giả. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí liên quan đến ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, cách diễn đạt giản dị, dễ hiểu, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ sinh động, cụ thể và giàu ý sâu cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm
Câu 1. Tác giả viết văn bản này trong thời điểm và tình cảnh nào của đất nước ? Từ đó nêu ý nghĩa cấp thiết của vấn đề mà bài báo này đặt ra.
Trả lời:
Đọc lại văn bản và chú thích (★) ở trang 29, trong SGK Ngữ Văn 9, tập hai, để nắm bắt thời điểm và tình cảnh đất nước khi Vũ Khoan sáng tác bài báo này. Từ đó thấy rõ ý nghĩa cấp thiết của vấn đề mà tác giả提出 để thảo luận. Tính cấp thiết của một vấn đề cần được đánh giá ít nhất ở hai khía cạnh sau :
- Tính kịp thời hay tính thời sự của vấn đề.
- Tầm quan trọng, sự cần thiết hay tính thiết yếu của vấn đề.
Câu 2. Vấn đề cơ bản của văn bản nghị luận này đã được nêu ra trong câu văn nào ? Để triển khai vấn đề ấy, tác giả đã đưa ra hệ thống luận điểm như thế nào ? Đánh giá hệ thống luận điểm ấy (có chặt chẽ, chính xác, toàn diện không).
Trả lời:
Đọc lại phần mở đầu để xác định câu văn chứa vấn đề cơ bản của bài báo. Hệ thống luận điểm để phát triển vấn đề cơ bản đó như sau :
- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì sự chuẩn bị bản thân con người là yếu tố quan trọng nhất.
- Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước.
- Cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam cần được nhận ra khi bước vào thời kỷ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước trong thế kỷ mới.
- Thế hệ trẻ cần chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới bằng cách từ bỏ những điểm yếu, phát triển thói quen tích cực từ những công việc nhỏ.
Những luận điểm của tác giả không chỉ đầy đủ và chặt chẽ mà còn thể hiện cái nhìn đa chiều, khách quan về dân tộc mình, đồng thời đặt trong bối cảnh so sánh với dân tộc khác, trong ngữ cảnh thế giới ngày nay.
Câu 3. Câu 3, trang 30, SGK.
Trong bài này, tác giả cho rằng: “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Điều đó có đúng không, vì sao ?
Trả lời:
Đọc lại đoạn văn từ “Trong những hành trang ấy” đến “điểm mạnh và điểm yếu của nó”, tìm những luận cứ mà tác giả提出 để khẳng định sự chuẩn bị hành trang con người là quan trọng nhất. Có thể bổ sung bằng những hiểu biết của em về vai trò quyết định của con người trong mọi vấn đề xã hội, kinh tế.
Câu 4. Phần chính của văn bản tập trung nói về những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, đối chiếu với yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp, hiện đại hóa đất nước. Ngoài việc khẳng định những điểm mạnh, tác giả cũng đặc biệt lưu ý đến những điểm yếu của con người Việt Nam. Em hãy liệt kê lại những điểm mạnh và điểm yếu mà tác giả提出 để làm rõ nhận định trên.
Nhận định về cách nêu điểm mạnh, điểm yếu và thái độ của tác giả.
Trả lời:
Đọc lại đoạn văn từ “Cái mạnh của con người Việt Nam' đến “quá trình kinh doanh và hội nhập”.
Liệt kê những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam được tác giả提出 và nhận định. Lưu ý rằng số lượng câu chữ tác giả dành để nói về điểm yếu nhiều hơn rất nhiều so với số lượng câu chữ nói về điểm mạnh.
Câu 5. Bài luyện tập 2, trang 31, SGK.
Em nhận thấy ở bản thân mình có những điểm mạnh và điểm yếu nào trong những điều tác giả đã提出, và còn những điều mà tác giả chưa đề cập ? Nêu phương hướng khắc phục những điểm yếu.
Trả lời:
So sánh với nhận xét của tác giả về điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam, sau đó liên kết với bản thân để nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình.
Có thể提出 những luận điểm mà tác giả chưa đưa ra trong bài báo. Đồng thời, cần đối chiếu với yêu cầu, nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh lớp 9 và yêu cầu của một công dân trong tương lai đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để nhận rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của mình, đề xuất phương hướng khắc phục điểm yếu.

3. Tác phẩm 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới' số 2
Khám phá những Điều Thú Vị
1. Cộng đồng người Việt Nam tỏa sáng với nhiều phẩm chất đẹp, như lòng yêu nước, sự cần cù và dũng cảm, cùng tinh thần 'lá lành đùm lá rách', 'thương người như thương thân'... Những phẩm chất này không thể phủ nhận, đã được kiểm nghiệm và khẳng định qua lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, để tự hoàn thiện, chúng ta cần nhận thức và sửa đổi những hạn chế. Hiểu rõ những điểm mạnh để phát triển, đồng thời nhận thức những điểm yếu cần khắc phục là rất quan trọng, giúp mỗi người và cộng đồng Việt Nam ngày càng tiến bộ, đáp ứng những thách thức mới của lịch sử đất nước.
2. Phó Thủ tướng Vũ Khoan, trong bài viết khai mạc thế kỷ mới, đưa ra những vấn đề quan trọng đối với người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ - nhóm quyết định sự thành công của quá trình phát triển quốc gia trong thế kỷ mới.
3. Cấu trúc bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới'
– Phần 1: Mở đầu… sâu rộng hơn nhiều: Bàn về nguyên nhân cần chuẩn bị hành trang và vai trò của con người trong thiên niên kỷ mới.
– Phần 2: Tiếp theo…. kinh doanh và hội nhập: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam.
– Phần 3: Đoạn còn lại: Xác nhận vai trò của việc chuẩn bị hành trang đối với thế hệ trẻ.
Đọc - hiểu văn bản
Câu 1 - Trang 30 SGK
Tác giả viết bài này vào thời điểm nào của lịch sử? Bài viết đã đề cập đến vấn đề gì? Ý nghĩa thời sự và ý nghĩa lâu dài của vấn đề đó là gì?
Trong bối cảnh quan trọng, bài viết ra đời vào năm 2001, thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ và hai thiên niên kỷ. Công cuộc đổi mới cuối thế kỷ trước đã đạt được những thành tựu vững chắc.
Bài viết đề cập đến thách thức của dân tộc Việt Nam khi bước vào thế kỷ mới, cần vượt qua tình trạng chậm phát triển, nghèo đói để trở thành một quốc gia công nghiệp vào năm 2020. Riêng đối với thế hệ trẻ, họ đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Câu 2 - Trang 30 SGK
Đọc lại toàn bộ bài và tạo dàn ý theo trình tự của tác giả.
a) Mở đầu
- Để bước vào thế kỷ mới, thế hệ trẻ cần nhận thức về ưu và nhược điểm của mình, rèn luyện thói quen tích cực để thích ứng với sự phát triển toàn cầu.
b) Thân bài
- Thời gian chuyển tiếp qua Tết Tân Tị là dịp quan trọng, con người là động lực chính cho sự phát triển của lịch sử.
- Thế giới đang phát triển với công nghệ thông tin, chúng ta cần nỗ lực để hội nhập vào nền kinh tế và văn hóa thế giới. Mặc dù người Việt có nhiều điểm mạnh, nhưng cũng có những hạn chế cần vượt qua để hội nhập thành công.
- Để hội nhập, chúng ta cần giải quyết 3 nhiệm vụ: thoát khỏi cảnh nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cũng như phát huy mặt mạnh và giảm thiểu điểm yếu.
- Một số điểm mạnh của người Việt bao gồm sự thông minh và nhạy bén với cái mới, nhưng cũng phải đối mặt với hạn chế về kiến thức cơ bản và sự kém cẩn trọng trong thực hiện công việc.
- Đoàn kết là quan trọng, nhưng chúng ta cần vượt qua thói quen đố kị, nhỏ nhen để hội nhập thành công.
c) Kết bài
- Mỗi người cần nỗ lực rèn luyện điểm mạnh và khắc phục điểm yếu để phát triển và cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quốc gia.
Câu 3 - Trang 30 SGK
Tác giả cho rằng 'Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất'. Điều này đúng không? Tại sao?
Đúng. Chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất vì con người là động lực chính cho sự phát triển của lịch sử. Trong thời kỷ công nghiệp tri thức, vai trò của con người ngày càng trở nên quan trọng.
Những lý lẽ này đặt nền móng cho cả bài viết, từ cổ chí kim đến tình hình phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tri thức.
Câu 4 - Trang 30 SGK
Tác giả đã nêu và phân tích điểm mạnh và điểm yếu nào trong tính cách và thói quen của người Việt Nam? Mối quan hệ giữa điểm mạnh, điểm yếu đó với nhiệm vụ đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa như thế nào?
a) Điểm mạnh và điểm yếu
- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành và sáng tạo do học nặng về lý thuyết.
- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mỉ và không quen với cường độ làm việc khẩn trương.
- Đoàn kết nhất trong chiến đấu chống ngoại xâm, nhưng thường đối mặt với thách thức trong làm ăn và lối sống.
- Thích ứng nhanh giúp vượt qua thách thức, nhưng cũng gặp khó khăn trong kinh doanh và không coi trọng chữ tín.
b) Mối quan hệ với nhiệm vụ đưa đất nước đi lên
- Nhận thức về điểm mạnh và điểm yếu giúp chúng ta chuẩn bị hành trang phù hợp để vượt qua thách thức và đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay.
- Thế hệ trẻ, làm chủ đất nước, cần nhìn nhận đúng về bản thân để phát triển những thói quen tích cực từ những việc nhỏ nhất.
Câu 5 - Trang 30 SGK
Em đã đọc nhiều về phẩm chất truyền thống của dân tộc Việt Nam. Những nhận xét của tác giả có điểm gì giống và khác so với những điều em đã học?
Trước đây, chúng ta thường tập trung khẳng định ưu điểm của phẩm chất truyền thống. Tuy nhiên, tác giả không chỉ nhìn nhận điểm mạnh mà còn chỉ ra những điểm yếu. Thái độ của tác giả là khách quan, toàn diện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, đồng thời thẳng thắn nêu lên những hạn chế, không tự mãn hay tự ti dân tộc.
Câu 6 - Trang 30 SGK
Trong văn bản, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ. Hãy tìm và giải thích ý nghĩa, tác dụng của chúng.
- Thành ngữ và tục ngữ sử dụng
• Nước đến chân mới nhảy.
• Liệu cơm gắp mắm.
• Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
• Trâu buộc ghét trâu ăn.
• Bóc ngắn cắn dài.
- Ý nghĩa và tác dụng
• Mô tả tâm trạng chuẩn bị đối mặt với thách thức.
• Nhấn mạnh sự quan trọng của sự chuẩn bị cẩn thận.
• Mô tả tình trạng nỗ lực và khám phá khả năng.
• Nói về sự quan trọng của sự đồng lòng và hợp tác.
• Mô tả sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sự kiên nhẫn trong cuộc sống.

4. Bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới' số 5
Câu 1 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Tác giả ver 2 bài vào năm 2001, khi thế giới chào đón thế kỷ mới
Bài viết đưa ra vấn đề chuẩn bị cho thế kỉ mới:
- Ý nghĩa thời sự: Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng để bước vào thế kỉ 21
- Ý nghĩa lâu dài: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, đây là bước chuẩn bị quan trọng để điều hòa với thế giới
Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho đất nước và thế hệ trẻ:
- Duy trì sự phát triển và thoát khỏi tình trạng kém phát triển của nền nông nghiệp
- Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
- Chấp nhận thách thức của nền kinh tế tri thức
Câu 2 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Dàn ý bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới':
- Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, tập trung vào việc tự chuẩn bị bản thân con người
- Bối cảnh thế giới hiện nay và mục tiêu phát triển của đất nước
- Những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam trong thời đại hội nhập
Câu 3 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Trong chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới, tác giả đặt sự chuẩn bị bản thân con người lên hàng đầu vì:
- Con người là yếu tố quyết định sự sống còn và phát triển của quốc gia, dân tộc
- Chỉ khi con người trang bị cho bản thân những điều có ích, quốc gia mới có thể tiến lên
- Trong thời đại hội nhập, vai trò của con người trở nên ngày càng quan trọng
Câu 4 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam:
Điểm mạnh:
- Nhạy bén với những thay đổi mới
- Năng động, sáng tạo
- Tinh thần đoàn kết trong chiến đấu
- Khả năng thích ứng nhanh
=> Đáp ứng được yêu cầu sáng tạo, đóng góp tích cực cho nền kinh tế với kỉ luật cao, khai thác được cơ hội
Điểm yếu:
- Kiến thức cơ bản và khả năng thực hành còn hạn chế
- Thiếu tinh thần tỉ mỉ, không coi trọng quy trình công nghệ
- Thách thức trong kinh doanh và hội nhập do thái độ đố kị, nhỏ nhen
=> Khó thích ứng với nền kinh tế tri thức, không phù hợp với sản xuất quy mô lớn, gặp khó khăn trong quy trình kinh doanh và hội nhập
Câu 5 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Tác giả không chỉ tập trung vào việc tán dương hay phê phán một chiều, mà còn nhìn nhận từ nhiều góc độ, phản ánh toàn diện. Ông coi trọng giá trị truyền thống nhưng cũng không tránh khỏi chỉ ra những hạn chế còn tồn tại. Đây là đánh giá khách quan, xuất phát từ thực tế xã hội hiện nay và mong muốn thế hệ trẻ nhận thức rõ để dẫn dắt đất nước tiến lên
Câu 6 trang 30 SGK văn 9 tập 2:
Trong văn bản, tác giả đã sử dụng nhiều thành ngữ và tục ngữ như 'nước đến chân mới nhảy', 'trâu buộc ghét trâu ăn', 'liệu cơm gắp mắm', 'bóc ngắn cắn dài'
=> Bài viết trở nên sống động, hấp dẫn hơn, cụ thể và chứa đựng nhiều ý nghĩa
Luyện tập Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới
Câu 1 trang 31 SGK văn 9 tập 2:
Dùng các ví dụ trong thực tế để làm rõ điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam:
Một số tấm gương đáng học hỏi:
- Nông dân sáng tạo, tự mày mò, phát minh ra máy phun thuốc sâu và máy tưới nước tự động
- Những người dũng cảm và hy sinh trong chiến tranh: như mẹ Nguyễn Thị Suốt chèo thuyền đưa bộ đội qua sông, chị Võ Thị Sáu, anh La Văn Cầu…
Những hạn chế vẫn còn tồn tại:
- Kỹ năng lao động của người Việt Nam còn thấp, dẫn đến hiệu suất lao động không cao
- Một số tiểu thương sử dụng hàng hóa kém chất lượng, bán hàng giả mạo
- Các doanh nghiệp sử dụng chất cấm để bảo quản thực phẩm

5. Bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới' số 4
Bài tập 1: Tác giả đã viết bài này vào thời kỳ nào trong lịch sử? Bài viết đã đề cập đến vấn đề gì? Ý nghĩa thời sự và ý nghĩa lâu dài của vấn đề đó. Những yêu cầu và nhiệm vụ quan trọng và khẩn cấp mà đặt ra cho đất nước và thế hệ trẻ hiện nay là gì?
Trả lời
Thời kỳ lịch sử: Tác giả viết bài vào đầu năm 2001, một thời điểm quan trọng khi thế giới chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới.
Nội dung vấn đề: Nói về chuẩn bị hành trang cho mọi người, đặc biệt là giới trẻ, để bước vào thế kỷ mới.
Ý nghĩa: Việc chuẩn bị hành trang để bước vào thế kỷ mới không chỉ mang tính thời sự mà còn quan trọng lâu dài đối với sự phát triển và hội nhập của đất nước.
Yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cho đất nước và giới trẻ ngày nay là: Nhận thức được những khuyết điểm và ưu điểm của bản thân để tự hoàn thiện, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước và bản thân.
Bài tập 2: Hãy đọc lại toàn bộ bài viết và tạo dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả?
Trả lời
Trình tự lập luận của tác giả trong bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới' như sau:
Vai trò của nhận thức của giới trẻ về điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam
Nêu rõ điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, phân tích mặt tích cực và hạn chế của chúng
Sự cần thiết của việc con người Việt Nam phải tự cải thiện, hoàn thiện bản thân để hội nhập toàn cầu.
Bài tập 3: Trong bài viết, tác giả cho rằng 'trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất'. Điều này có đúng không và tại sao?
Trả lời
Điều này là chính xác. Bởi vì:
Con người là chủ nhân của đất nước, mọi hoạt động xã hội đều phụ thuộc vào con người. Việc chuẩn bị bản thân là quan trọng nhất để xã hội tồn tại và phát triển.
Các công cụ và thiết bị hiện đại chỉ là hỗ trợ, không thể thay thế vai trò của con người trong sự vận động của xã hội.
Bài tập 4: Tác giả đã đề cập và phân tích những điểm mạnh và điểm yếu nào trong tính cách và thói quen của người Việt Nam? Mối quan hệ giữa điểm mạnh, điểm yếu đó với nhiệm vụ đưa đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại hiện nay là gì?
Trả lời
Người Việt Nam có sự thông minh, sáng tạo, nhưng cũng thiếu kĩ năng thực hành và có xu hướng khôn vặt. Điều này sẽ là thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển công nghiệp hoá.
Sự đoàn kết trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm có lợi, nhưng trong sản xuất và kinh doanh lại xuất hiện thái độ đố kị và khôn vặt, làm suy giảm sức mạnh và tính liên kết.
Khả năng thích ứng nhanh của người Việt Nam là một điểm mạnh, nhưng sự cực đoan và khôn vặt trong hội nhập có thể tạo ra khó khăn và xung đột.
Bài tập 5: Những nhận xét của tác giả có điểm gì giống và khác với những thông tin em đã đọc trong sách vở lịch sử và văn học? Thái độ của tác giả là như thế nào khi đưa ra nhận xét?
Trả lời
Giống nhau: Cả tác giả và sách vở đều nhấn mạnh những ưu điểm như thông minh, cần cù, sáng tạo của người Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả còn đề cập đến những khuyết điểm và hạn chế.
Khác nhau: Tác giả không chỉ giới hạn ở những điểm tích cực, mà còn nhìn nhận và phê phán những khía cạnh tiêu cực, điều này thể hiện sự khách quan và khoa học trong đánh giá.
Thái độ của tác giả: Thái độ của tác giả là khách quan và khoa học khi đưa ra nhận xét, không chìm đắm trong quan điểm lịch sử hay văn hóa.
Bài tập 6: Trong văn bản, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ và tục ngữ. Hãy tìm hiểu những thành ngữ, tục ngữ đó và mô tả ý nghĩa và tác dụng của chúng.
Trả lời
Các thành ngữ và tục ngữ sử dụng trong bài viết như 'nước đến chân mới nhảy', 'liệu cơm gắp mắm', 'trâu buộc ghét trâu ăn', 'bóc ngắn cắn dài'... tạo nên sự sinh động, cụ thể và gần gũi với đời sống. Chúng giúp làm nổi bật vấn đề quan trọng và truyền đạt cảm xúc một cách hiệu quả.
Luyện tập
Bài tập 1: Hãy nêu các ví dụ về thực tế xã hội và trong nhà trường để minh họa cho nhận định về điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam.
Trả lời
Điểm mạnh:
Thông minh, cần cù, sáng tạo: Thành tích cao trong các cuộc thi trí tuệ quốc tế, sáng tạo ra các thiết bị hỗ trợ nông nghiệp như máy tuốt lạc, thuốc trừ sâu thiên nhiên...
Yêu thương, đùm bọc lẫn nhau: Hoạt động từ thiện, chương trình 'Áo ấm cho em', 'Ngôi nhà tình nghĩa'...
Điểm yếu:
Thiếu tinh thần kỉ luật, trách nhiệm trong công việc: Bệnh lề mề, thói quen đổ lỗi
Khôn vặt: Chặt chém khách du lịch, đi trễ, về sớm...

6. Bài viết 'Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới' số 6
I. GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
- Vũ Khoan, một chính trị gia có nhiều kinh nghiệm, từng đảm nhận các vị trí quan trọng như Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Phó Thủ tướng Chính phủ.
- Bài viết mang tựa đề 'Chuẩn bị hành trang' được đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001 và in trong tập 'Một góc nhìn của tri thức', Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh năm 2002. Tác giả tập trung phân tích đặc điểm mạnh và yếu của con người Việt Nam, đặt ra yêu cầu cấp bách phải khắc phục nhược điểm, hình thành đức tính và thói quen tích cực khi đất nước bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỷ mới.
II. GỢI Ý ĐỌC - HIỂU
Câu 1. Thời điểm tác giả viết là vào dịp Tết năm Tân Tị 2001, mở đầu cho thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, đánh dấu sự chuyển giao giữa hai thế kỷ, hai thiên niên kỷ. Đây là thời điểm quan trọng, nơi mọi người thường xem xét, tự đánh giá trên hành trình đã qua và chuẩn bị cho chặng đường mới. Đối với Việt Nam, đây là thời điểm quyết định nhiệm vụ cơ bản để trở thành một quốc gia công nghiệp vào năm 2020. Bài viết 'Chuẩn bị hành trang' mang ý nghĩa không chỉ thời sự mà còn lâu dài, đó là quá trình phát triển của đất nước.
Câu 2. Lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả
a) Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người đứng đầu.
Lập luận này mở đầu cho cả bài văn, nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc chuẩn bị bản thân trong hành trang mới.
Lập luận này được chứng minh thông qua các lý do:
- Con người luôn là động lực phát triển của lịch sử từ xưa đến nay;
- Trong thời đại kinh tế tri thức, vai trò của con người ngày càng quan trọng.
b) Bối cảnh thế giới hiện nay và nhiệm vụ nặng nề của Việt Nam. Tác giả thể hiện lập luận này thông qua hai ý chính:
- Thế giới ngày nay phát triển mạnh mẽ với khoa học công nghệ, sự giao thoa, hội nhập sâu rộng giữa các nền kinh tế;
- Nước ta đối diện với ba nhiệm vụ quan trọng: vượt qua tình trạng lạc hậu trong nền nông nghiệp, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đến nền kinh tế tri thức.
c) Điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam khi bước vào nền kinh tế mới trong thế kỷ mới.
Tác giả thực hiện lập luận này một cách cụ thể và chi tiết vì đây là trọng tâm của bài văn.
d) Kết luận: Bước vào thế kỷ mới, mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần phải phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, xây dựng thói quen tích cực từ những hành động nhỏ để đáp ứng nhiệm vụ đưa đất nước tiến vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhìn chung, hệ thống lập luận của tác giả rất chặt chẽ và rõ ràng.
Câu 3. Trong bài viết này, tác giả đánh giá: Trong hành trang đó, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Điều này là hoàn toàn xứng đáng vì:
- Từ lâu, con người luôn là động lực phát triển của lịch sử;
- Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức, vai trò của con người ngày càng nổi bật.
Câu 4. Tác giả đã nêu và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của con người Việt Nam:
- Thông minh, linh hoạt với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, hạn chế trong khả năng thực hành;
- Năng động sáng tạo nhưng còn thiếu đức tính tỉ mỉ, không chú ý đến quy trình công nghệ, chưa quen với sự nghiêm túc;
- Tính đoàn kết, đặc biệt là trong chiến tranh chống xâm lược, nhưng thường xuyên gặp xung đột trong kinh doanh và cuộc sống hàng ngày;
- Bản tính thích ứng nhanh, nhưng nhiều hạn chế về thói quen tư duy, kì thị trong kinh doanh, dựa vào mô hình quen thuộc, thói sùng bái cái ngoại việc quá mức, xu hướng tiêu cực, ít tuân thủ chuẩn mực.
Không chỉ liệt kê, tác giả luôn liên kết mỗi ưu điểm với một nhược điểm. Điều này làm cho những đặc điểm đó trở thành một phần quan trọng của quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Câu 5. Tôi đã tham gia học và đọc nhiều tác phẩm văn học cũng như bài học lịch sử về các phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Thường là những phê bình tích cực, tập trung vào những điều tốt, mạnh mẽ và tích cực. Trái lại, bài viết này đem lại sự độc đáo khi không chỉ tập trung vào sự ca ngợi hoặc chỉ trách mắng một cách cực kỳ độc đáo mà còn đưa ra cái nhìn đánh giá vấn đề một cách khách quan, tôn trọng sự thực, thể hiện sự đồng lòng và tôn trọng các phẩm chất tích cực cũng như mạnh mẽ chỉ ra những điểm yếu cần cải thiện.
Câu 6. Tác giả thường xuyên sử dụng các thành ngữ, tục ngữ như 'nước đến chân mới nhảy', 'trâu buộc ghét trâu ăn', 'liệu cơm gắp mắm', 'bóc ngắn, cắn dài'... điều này đã làm cho bài văn trở nên sinh động, cụ thể và chứa đựng ý nghĩa sâu sắc.
Ghi nhớ:
- Để chuẩn bị cho thế kỷ mới, thế hệ trẻ Việt Nam cần nhận thức rõ điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, xây dựng những đức tính và thói quen tích cực.
- Điểm mạnh của con người Việt Nam bao gồm sự thông minh, linh hoạt đối mặt với những thay đổi, sáng tạo và tính đoàn kết. Tuy nhiên, cũng cần phải khắc phục nhược điểm như thiếu kiến thức cơ bản, hạn chế trong việc thực hành, thiếu tính tỉ mỉ và thiếu sự nghiêm túc đối với quy trình công nghệ.
- Khi bước vào thế kỷ mới, chúng ta cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu và xây dựng thói quen tích cực từ những hành động nhỏ.

