1. Bài tham khảo số 1
Khác với giai đoạn đầu của văn học trung đại, nay văn học chú trọng đến cảm hứng nhân đạo, thể hiện nỗi buồn sâu lắng trong 8 câu cuối của 'Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ' của Đặng Trần Côn.
Trong không gian đau buồn, nàng chinh phụ vùng vẫy thoát khỏi nỗi cô đơn, nhưng ngoại cảnh chỉ làm sâu thêm nỗi lòng nhức nhối, càng làm nổi bật hình ảnh đau buồn trong cảnh 'bẽ bàng mây sớm đèn khuya'.
'Non Yên', tượng trưng cho khoảng cách xa xôi, là nơi nàng gửi trọn nỗi nhớ, thương da diết, nhưng cũng là không gian vô vọng, không đợi được hồi đáp.
Bước vào đoạn cuối, hình ảnh hoa nguyệt, nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông trở thành biểu tượng cho quá khứ êm đềm, nhưng nỗi đau khôn nguôi, tình cảm khao khát được hạnh phúc vẫn đọng mãi trong trái tim chinh phụ.
'Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng…'
Đoạn trích này không chỉ là nét đẹp trong tác phẩm mà còn là tiếng thơ đầy xúc cảm về tình cảm thủy chung và sự đau khổ của người chinh phụ trong cuộc sống phong kiến khắc nghiệt.

2. Bài tham khảo số 3
Khi nhắc đến Đặng Trần Côn, chúng ta không thể không nghĩ đến nhà thơ sống ở đầu thế kỉ XVIII, tác giả của tác phẩm đặc sắc “Chinh phụ ngâm”. Đặc biệt, 8 câu cuối của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ' thực sự là bức tranh tư tưởng nhân đạo sâu sắc, thể hiện khao khát về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi trong thời chiến loạn.
“Lòng này gửi gió Đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đền non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu
Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
Người chinh phụ nhớ về người chồng nơi biên ải, nỗi lo lắng và khát khao được gửi lời yêu thương đến chồng qua cơn gió Đông. Hình ảnh “non Yên” - vùng đất xa xôi, và “gió Đông” như là người mang theo tin đưa đến nơi chồng đang gác kiếm, tạo nên không gian trống trải và cô đơn.
Nỗi nhớ lẻ loi mòn mỏi, nhấn mạnh qua “đằng đẵng”, “trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”. Tâm trạng đau đớn của người chinh phụ hiện rõ trong cảnh “cảnh buồn”, cây cỏ sương mù, tiếng trùng mưa phun, tất cả hòa quyện thành một bức tranh buồn bã, thấu hiểu tâm hồn cô đơn của người phụ nữ.
Thơ lục bát với điệu thơ tinh tế làm nổi bật những cung bậc cảm xúc, thấu hiểu sâu sắc tâm lí nhân vật. Ở đây, tác giả đã thành công trong việc kể chuyện tâm linh, tả cảnh ngụ tình một cách tự nhiên và chân thực.
Bằng cách sử dụng hình ảnh ước lệ và mô tả tinh tế, đoạn thơ là bức tranh chân thật về khao khát tình yêu và hạnh phúc của người chinh phụ trong hoàn cảnh chiến loạn. Tác giả cũng tố cáo sự phi nghĩa của chiến tranh phong kiến, tạo nên cảm hứng nhân văn cho đoạn trích này.

3. Bài tham khảo số 2
Nội chiến giữa các phe phái phong kiến trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đã để lại những vết thương đau đớn không thể quên. Trong giai đoạn văn hóa này, tác phẩm văn học tập trung phản ánh sự tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát. 'Chinh phụ ngâm' của Đặng Trần Côn đã đánh dấu một cột mốc quan trọng, nhận được sự đồng cảm của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất sắc xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo nhất. Tác phẩm này phản ánh thái độ oán trái với chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là nâng cao quyền sống và khát khao hạnh phúc lứa đôi của con người. Đoạn trích dưới đây là một ví dụ tiêu biểu từ bản ngâm khúc.
Trong việc phân tích 16 câu đầu của đoạn trích 'Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ', chúng ta thấy người chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng, trải qua cảm giác cô đơn, lẻ loi, và nỗi trống trải trong lòng. Nhưng đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng, trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết. Mượn gió đông để gửi yêu thương cho chồng, là ước muốn và khát khao biết tin tức về chồng mình:
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ và điển cố như 'non Yên' để mô tả nỗi nhớ của nhân vật. “Lòng này” thể hiện sự thương nhớ khôn nguôi, đã trải qua nhiều thời gian đợi chờ. Gió đông mang theo hơi thở của mùa xuân. Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió, nhờ gió đưa tin tới chồng yêu thương đang ở nơi chiến trường xa xôi, nguy hiểm, ở non Yên nghìn trùng. Cô hỏi gió, nhờ gió nhưng liệu có tiện không? Cô mong gió sẽ mang nỗi nhớ của mình đến nói với chồng ngoài biên cương. Sự cô đơn trong lòng người chinh phụ ngày càng khắc khoải. Làm sao tới được non Yên, nơi chồng đang “nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh”? Tất cả những từ ngữ trang trọng như “gửi nghìn vàng', 'xin” giúp mở ra không gian nỗi nhớ, tạo ra một bức tranh mênh mông và vô tận, làm nổi bật nỗi cô đơn, hiu quạnh. Tuy nhiên, hiện thực lại phũ phàng, đau xót:
“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”
Việc sử dụng từ láy 'thăm thẳm' diễn đạt nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Nỗi nhớ đó đè nặng trong lòng, triền miên theo thời gian, “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai. Nỗi nhớ được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời”. Có thể nói, Đoàn Thị Điểm đã có một cách diễn đạt rất sâu sắc để mô tả nỗi nhớ của người chinh phụ. Nỗi nhớ đó, tiếng lòng thiết tha, được diễn tả qua vần thơ song thất lục bát và thủ pháp nghệ thuật liên hoàn - điệp ngữ. Cả một trời thương nhớ mênh mông. Nỗi buồn triền miên, dằng dặc vô tận.
Sau khi hỏi “gió đông” để bày tỏ niềm thương và nỗi nhớ chồng, cuối cùng người chinh phụ chỉ còn lại nỗi đau, sự tủi thân:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng, với bầu trời rộng lớn, xa “thăm thẳm” không thể hiểu được “nỗi nhớ chàng” của người vợ trẻ. Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng. Đau đáu nghĩa là áy náy, lo lắng, day dứt không ngừng. Cặp từ láy 'đằng đẵng” và “đau đáu” đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn, lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể, tinh tế, sống động. Tâm trạng ấy được mô tả qua quá trình phát triển bi kịch và đáng thương. Ở hai câu cuối, nhà thơ sử dụng cảnh vật để thể hiện tâm trạng:
“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Như tâm sự của Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật lạnh lùng, thê lương nhưng có lúc cảm nhận cảnh vật như đang thúc đẩy, giục giã, thay đổi, không tìm thấy sự hòa nhập, đồng cảm giữa tình người và thiên nhiên. Niềm thương và nỗi nhớ kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Nhìn cành cây ướt đẫm sương đêm, lòng người trẻ lạnh lẽo. Nghe tiếng trùng kêu rả rích thâu canh như tiếng đẫm sương đêm, thêm vào nỗi nhớ, buồn nhớ. Âm thanh và cảnh sắc đó vừa lạnh lùng vừa buồn bã, kích thích nỗi cô đơn, thương nhớ, lo lắng trong tâm hồn người vợ trẻ.
Thể thơ song thất lục bát cùng với cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người phụ nữ khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ, đồng thời kêu gọi nhân đạo và phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Đoạn trích cũng như toàn bộ tác phẩm 'Chinh phụ ngâm' là tiếng kêu thương tâm của người phụ nữ nhớ chồng ở chiến trường. Trạng thái tình cảm của người chinh phụ vừa là sự phê phán những cuộc chiến tranh vô lý, đẩy nhiều người chồng ra chiến trường để những phụ nữ ở nhà chờ đợi, vừa là tiếng nói của sự yêu thương và nhận thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của phụ nữ trong bối cảnh xã hội hỗn độn. Tác phẩm đã khẳng định giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã mang lại, là điểm đánh dấu quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII.

4. Tài liệu tham khảo số 5
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm là một hiện thực chân thật về cuộc sống thời kỳ phong kiến. Tác phẩm tập trung phản ánh sự tàn bạo của giai cấp thống trị và đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát đó. Dịch giả Đoàn Thị Điểm đã tạo ra một bản dịch chữ Nôm được đánh giá cao. Phân tích 8 câu cuối thể hiện sự cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ trong thời gian chờ đợi chồng trở về, đồng thời, nỗi nhớ và khao khát hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng người chinh phụ. Tác giả sử dụng hình ảnh gió Đông, non Yên để diễn đạt nỗi nhớ và mong đợi của người phụ nữ. Câu thơ 'Lòng này gửi gió Đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên' không chỉ là bức tranh bi thương về sự xa cách mà còn là lời thổ lộ tình cảm sâu sắc. Đoạn trích thể hiện rõ sự đau đớn, tủi thân của người chinh phụ khi chồng ra trận. Từ láy 'thăm thẳm', 'đau đáu' đắt giá miêu tả nỗi nhớ thương càng trở nên sâu sắc, đậm đà. Cuối cùng, cảnh buồn người thiết tha lòng và cây cỏ sương đọng tiếng trùng mưa phun kết thúc đoạn thơ với hình ảnh bi thương, êm đềm nhưng cũng đậm chất tâm lý.

5. Tài liệu tham khảo số 4
Chinh Phụ Ngâm là mảnh ngâm không chỉ làm xuyên thấu trái tim mà còn truyền đạt cảm xúc mạnh mẽ nhất trong văn học Việt Nam. Đặc biệt, 8 câu thơ cuối là điểm nhấn của dòng cảm xúc nhớ thương, làm sâu sắc cảm xúc từ những câu thơ đầu.
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Câu thơ này là sự hình dung cụ thể về nỗi nhớ và niềm thương mà người chinh phụ giữ trong lòng, khắc sâu và chua xót. Người chinh phụ khao khát gió đông mang theo những tình cảm của mình đến với người chồng đang ở chiến trường xa xôi, nơi non Yên nghìn trùng. Mong muốn này không chỉ là biểu hiện của tình yêu và chờ đợi mà còn là sự hy sinh, khi người chinh phụ tự hỏi liệu gió có thể đưa thông điệp của mình đến chồng hay không. Câu thơ tiếp theo với từ láy 'thăm thẳm' nhấn mạnh nỗi nhớ của người chinh phụ đậm đặc, thậm chí bằng đường lên trời. Người chinh phụ hỏi gió đông với sự mong đợi và tin tưởng, nhưng cảnh buồn và sự thiết tha cũng hiện hữu khiến câu chuyện trở nên thêm đau lòng.
“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”
Ngôn từ 'thăm thẳm' không chỉ làm sâu sắc nỗi nhớ mà còn tạo ra hình ảnh của sự xa xôi, hình ảnh của con đường về trời. Sự khó khăn và chông gai trong việc đạt tới nỗi nhớ của người chinh phụ trở nên rõ ràng. Cuối cùng, bức tranh cảnh buồn và sự thiết tha của người chinh phụ được đặt ra thông qua những dòng thơ cuối cùng.
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun'.
Thơ không chỉ miêu tả cảm xúc mà còn tạo ra không khí, với hình ảnh của cây cỏ sương mù và tiếng trùng mưa phun. Những từ ngữ như đau đáu, thăm thẳm và thiết tha tạo nên những sóng cảm sâu sắc, kết hợp với hình ảnh của cảnh vật để thể hiện sự đau đớn và nỗi nhớ của người chinh phụ.
Bằng những hình ảnh ẩn dụ và biểu đạt tinh tế, bản dịch không chỉ truyền đạt linh hồn của cảnh vật mà còn chuyển đạt tâm trạng đầy bi thương, khó tả của người chinh phụ, mở ra những cảm xúc đậm sâu trong tâm hồn người đọc.

7. Tham khảo số 6
Chinh phụ ngâm là tác phẩm của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, thời kì rối ren của xã hội phong kiến Việt Nam. Cuộc chiến tranh liên miên từ Lê - Mạc đến Trịnh - Nguyễn, làm đất nước chia làm hai. Nhà Lê mục ruỗng, nông dân nổi dậy khắp nơi. Trong thế kì thối nát, văn học tập trung phản ánh tàn bạo của giai cấp thống trị và đau khổ của những nạn nhân. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn nhận được sự đồng cảm của tầng lớp Nho sĩ. Đoàn Thị Điểm dịch tác phẩm này sang chữ Nôm, được đánh giá là hoàn hảo, trung thực với giá trị nghệ thuật và nội dung của nguyên tác.
Ở 8 câu thơ cuối, tâm trạng của người chinh phụ chông chênh, chơi vơi, làm cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ chồng trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chỉ biết gửi nhớ thương theo ngọn gió:
Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Sau những day dứt của trạng thái bế tắc, người chinh phụ nảy ra ý nghĩ chân thành: nhờ gió xuân gửi lòng tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để kiếm tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình và bóng dáng thân yêu của người vợ trẻ:
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được so sánh với vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc ý nghĩa và cô đọng hình thức. Bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp là điều mới mẻ, hiếm thấy trong văn chương thời trung đại:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ hay chăng? Nói như người xưa: trời cao, đất dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? Biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đau đớn không nguôi:
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Giữa con người và cảnh vật có sự tương đồng khiến nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh, được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ lặp đi lặp lại như vậy nhằm thể hiện rõ tình cảnh lẻ loi và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ. Dù ở đâu, lúc nào, làm gì nàng cũng chỉ lầm lũi, vò võ một mình một bóng mà thôi!
Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trở về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh lẽo đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Hình như người chinh phụ đã thấm thía sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: 'Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi' thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chỉ mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.
Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gì... người chinh phụ cũng chỉ vò võ một mình một bóng mà thôi! Từ thốc rất mạnh trong câu 'một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên' báo hiệu chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa - nguyệt giao hoà khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đối. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa đôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo. Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt, đặc biệt là các tính từ là từ láy làm nổi bật tính chất của sự vật : eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu... Về nhạc điệu, tác giả đã khai thác và phát huy một cách tài tình âm hưởng trầm bổng, du dương của thể thơ song thất lục bát để diễn tả cảm xúc giống như những đợt sóng dạt dào trong tâm trạng người chinh phụ, hết nhớ lại thương, hết lo lắng lại trông mong, hết hi vọng lại tuyệt vọng... trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình, cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.


