1. Bài tham khảo số 1


2. Tài liệu tham khảo số 3
Phan Bội Châu - người lãnh đạo của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, với tâm huyết lớn lao, dù sự nghiệp không thành công nhưng lòng yêu nước cháy bỏng của ông vẫn mãi mãi. Ông sử dụng thơ văn như vũ khí để cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Bài thơ Xuất dương khi lưu biệt, sáng tác năm 1905 trước khi ông sang Nhật, là biểu tượng cho tinh thần nhiệt huyết, tráng chí rộng lớn của người chí sĩ yêu nước. Lưu biệt khi xuất dương là điểm bắt đầu của hành trình cứu nước mới, với lòng kiên định và niềm tin vững chắc. Phan Bội Châu nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của người nam nhi trước thời cuộc, đất nước. Người chí sĩ phải đứng lên thể hiện vai trò, chí khí của mình để phục vụ Tổ quốc. Bài thơ là sự gọi mời đầy tinh thần, kêu gọi thanh niên hãy đứng lên, khơi dậy niềm tin, hy vọng và tinh thần tự tin. Phan Bội Châu thể hiện lòng yêu nước mạnh mẽ, tự do, phấn đấu vì lý tưởng và tráng chí cao quý của một nhà cách mạng. Bài thơ là biểu tượng của sự hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc, là nguồn động viên và tinh thần vô song cho thế hệ trẻ Việt Nam.
'Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi'


2. Tài liệu tham khảo
Thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu, đất nước, nhân dân ta đã chứng kiến nhiều nhân vật cách mạng, nhà chí sĩ yêu nước nổi bật như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… và không thể không nhắc đến Phan Bội Châu. Đóng góp quan trọng của ông đối với thời đại không thể phủ nhận, trước hết là tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Ông thường truyền đạt tinh thần này trong những tác phẩm tràn đầy ý chí phê phán, khuyến khích thế hệ trẻ đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Một trong những tác phẩm đó, có Lưu biệt khi xuất dương đã tài tình mô tả hình ảnh người chí sĩ yêu nước khi bắt đầu hành trình lớn:
Làm người con trai cần phải có đặc điểm lạ ở trên thế giới… Vươn mình vượt sóng biển bạc khơi
Ở những năm đầu của thế kỉ XX, tinh thần yêu nước đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ các bậc nho sĩ. Thất bại của phong trào Cần Vương, câu chuyện 'Bình Tây phục quốc' không thành… đất nước vẫn chịu sự thống trị của thực dân, là bi kịch của dân tộc. Tuy nhiên, sức mạnh của truyền thống yêu nước hàng nghìn năm cùng với những phong trào mới của thời đại, như Duy tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục… đã đánh thức tinh thần của nhiều nhà nho tràn đầy nhiệt huyết. Họ đã đáp lại lời kêu gọi của lịch sử: những người tự cắt đứt búi tóc, từ bỏ lối học cử truyền thống để theo đuổi những ý tưởng mới, những người tạm biệt gia đình, người thân, quê hương để đi tìm những ước mơ mới ở những nơi như Trung Quốc, Xiêm, Nhật Bản… Mọi chí hướng của thế hệ trí thức yêu nước đều hướng về một mục tiêu cao cả: 'khôi phục nước nhà' (theo Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu cũng nằm trong số những người mơ ước về sứ mệnh lớn đó, kể cả khi hướng bước của ông đưa về đất nước Nhật Bản. Cho dù con đường đó có đúng hay sai, ông đã là người thổi bùng niềm khát khao chiến đấu của dân tộc trong thời gian dài. Lưu biệt khi xuất dương ra đời trong bối cảnh đó. Khúc trang ca khi lên đường ông viết để tạm biệt bạn bè, đồng chí không chỉ khắc họa chân thực mà còn đầy lãng mạn hình ảnh người chí sĩ yêu nước trong khoảnh khắc ra đi:
Chân dung nhà cách mạng hiện lên trong dáng vẻ phi thường đối diện với thời gian và không gian:
Làm người con trai cần phải có đặc điểm lạ ở trên thế giới
…
Sau này có ai có thể sánh kịp?
Người chí sĩ vẫn mang trong mình ý chí làm người con trai vượt lên trên mọi khó khăn, nhưng ý chí ấy không chỉ là sự vươn lên thông thường, mà là lòng oai hùng, đặc biệt của một nhà cách mạng lớn lao. Có hai vấn đề mà không phải ai cũng suy nghĩ đến khi nói đến sự nghiệp 'công danh' bình thường của nam giới, đó là cần phải lạ giữa bối cảnh hiện tại và phải có đầy tớ trong vòng một thế kỉ. Phan Bội Châu chọn con đường đặc biệt để tận hưởng trọn vẹn sức mạnh của ý chí. Điều lạ không phải là lời nói suông, mà là hành động thực tế:
Non sông đã chết nhưng hãy sống thêm nhục
Hiền thánh đã mất, nhưng học cả đời vẫn không hết.
Người chí sĩ đó không chỉ đối mặt với những tình cảnh khó khăn khi sống ở nước ngoại, mà còn cảm nhận được sự vô nghĩa của giáo dục truyền thống trong bối cảnh mới. Cách ông hình tượng hóa hiện thực đất nước rất chân thực: non sông đã chết. Đó không chỉ là lẽ sống với nhục nhã, mà còn là đau đớn của một quê hương mất đi. Từ đó, không chỉ riêng ông mà còn nhiều nhà cách mạng khác đã từng là 'sản phẩm' của một nền giáo dục uy nghi lâu dài, đã xuất phát từ trường Khổng tử, nhận ra sự thất bại của giáo dục đó. Nếu ở phần trước, hình ảnh người chí sĩ yêu nước thách thức, mạnh mẽ, có phần bướng bỉnh trước cuộc sống và thời gian, thì ở đây, họ trở nên mạnh mẽ hơn trong nhận thức. Sống là còn nhục, học là còn ngu. Táo bạo, quyết đoán, người chí sĩ không chọn tránh mà đối mặt mạnh mẽ với hiện thực oai hùng. Do đó, điều lạ trong con người của nhân vật trữ tình đã tạo ra một sự thay đổi quan trọng trong tư duy yêu nước của thời đại đó.
Muốn thực hiện điều kinh thiên động địa, muốn đất nước thoát khỏi cảnh lầm than, muốn thay đổi con đường cứu nước cho dân tộc, người chí sĩ không chỉ nói mà còn hành động cụ thể, đó là xuất dương.
Muốn vượt qua bể dày theo những đợt sóng
Chấm dứt bằng hàng vạn sóng biển bạc.
Hai câu thơ cuối cùng mô tả người chí sĩ lên đường phi thường, oai hùng mà đầy lãng mạn. Phần lớn không gian vẫn là biển khơi bát ngát, sóng biển bạc mãng mà lại hòa mình vào khát vọng, hoài bão của người chí sĩ. Ba chữ 'nhất tề phi' trong bản dịch không chỉ giữ nguyên sắc thái của bản gốc, mà còn không thể nào tả hết được tinh thần, ý chí của nhà cách mạng khi lên đường. Cảnh tượng ấy cuối cùng đã tạo nên một khúc ca hoàn hảo, hùng vĩ để mang theo niềm tin, hy vọng và ước mơ về một tương lai tươi sáng của dân tộc.
Tinh thần yêu nước của nhà cách mạng Phan Bội Châu không phải là điều tự nhiên mà còn ảnh hưởng to lớn đến thời đại. Tinh thần đó đã khơi sáng biết bao nhà cách mạng đang khám phá hành trình cứu nước. Phan tiên sinh sau này có thể không đạt được thành công trong sự nghiệp kinh tế, nhưng tinh thần yêu nước và sức mạnh của tấm lòng ấy đã mãi mãi là nguồn lửa sáng rực cho Cách mạng những năm đầu thế kỉ XX.
Lưu biệt khi xuất dương vì vậy không chỉ là bài thơ diễn đạt cảm xúc của việc chia tay, mà là tuyên ngôn quyết tâm lớn để thực hiện một nhiệm vụ quan trọng. Bài thơ mãi mãi giữ lại sự bất tử trong khát khao chiến đấu và tình thần yêu nước, truyền cảm hứng cho những thế hệ sau này.


4. Tham khảo số 5
Bài thơ này, sáng tác cuối thế kỉ XIX, thời điểm Cần Vương thất bại, Đông Dương rơi vào tay Pháp. Phan Bội Châu, sau khi thành lập hội Duy Tân, đã ra nước ngoài hoạt động cách mạng. Trước khi rời bỏ đồng chí, ông sáng tác bài thơ này để thể hiện ý chí làm người cách mạng.
Câu thơ đầu tiên thể hiện rõ chí làm người cách mạng:
“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.”
(Làm người cách mạng phải độc lập trên đời
Hứa hẹn tự chuyển động càn khôn.)
Phan Bội Châu kế thừa quan niệm về chí làm người cách mạng của thời phong kiến nhưng đồng thời mang đến cái mới, khát khao sống mãnh liệt, gắn liền với triết lý nhân sinh của nho giáo nhưng có sự táo bạo mới. Nhà thơ thể hiện ý chí sống khỏe mạnh, táo bạo, không ngần ngại đối mặt với thách thức cuộc sống.
Câu thơ tiếp theo làm rõ chí làm người cách mạng:
“Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?”
Phan Bội Châu khẳng định rằng trong khoảng thời gian đó, cần phải có những người như ông - người làm nên lịch sử. Tác giả tỏ ra tự hào về bản thân mình, đồng thời khích lệ thế hệ sau phải tiếp bước anh hùng thật sự. Ông không chỉ là người cá nhân mà còn là công dân trách nhiệm với đất nước.
Bài thơ còn thể hiện sự tự hào về những anh hùng của dân tộc:
“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”
Hình ảnh “bể Đông theo cánh gió” và “muôn trùng sóng bạc” là biểu tượng của ý chí cao đẹp và khát khao vươn lên. Phan Bội Châu muốn vượt lên trên bất kỳ khó khăn nào để bảo vệ đất nước và chí làm người cách mạng. Những hình ảnh này tạo nên một bức tranh hùng vĩ về chí lớn và sự hy sinh cao cả.


5. Tham Khảo Quan Trọng
Phan Bội Châu, anh hùng kiệt xuất, đã dành cuộc đời mình cho cách mạng Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX. Mặc dù không biết đến niềm vui chiến thắng, nhưng tình yêu đất nước, khát vọng hòa bình và ý chí đấu tranh luôn là nguồn động viên mãnh liệt. Thơ ca là phương tiện mà ông thường xuyên sử dụng để bộc lộ những tâm huyết đó. Bài thơ 'Lưu Biệt Khi Xuất Dương' là một ví dụ điển hình.
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong bối cảnh của thời đại, Phan Bội Châu tận dụng ngôn ngữ thơ để truyền đạt niềm khao khát mãnh liệt, mong đợi sự thay đổi lớn lao trong vận mệnh của quê hương:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
Bằng những từ ngữ mạnh mẽ, ông nhấn mạnh vai trò quan trọng của bản thân trong lịch sử, đồng thời thách thức thời gian và khẳng định sứ mệnh lớn lao của mình.
Muốn vượt bể đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Bài thơ kết thúc với hình ảnh hùng vĩ của biển cả, gió bão và sóng lớn, tượng trưng cho quyết tâm và khát vọng của những người anh hùng yêu nước. Sự kết hợp giữa nghệ thuật thơ và tư tưởng cách mạng làm nổi bật tinh thần lãng mạn và hào hùng của Phan Bội Châu trong hành trình cứu nước của mình.


6. Bài tham khảo số 7
Phan Bội Châu, nhà yêu nước và anh hùng giải phóng dân tộc, ghi dấu tên tuổi trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Ông là người sáng lập các phong trào giải phóng Tổ quốc như Hội Duy Tân, Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Tên tuổi của ông nổi tiếng qua nhiều bài thơ, sách văn và bài diễn thuyết. Phan Bội Châu luôn mang theo lý tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước dân chủ tiến bộ.
“Lưu biệt khi xuất dương,” bằng chữ Hán, thể hiện vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của thời kỳ đầu thế kỉ XX. Tình yêu nước và lý tưởng giải phóng dân tộc nảy cao trong từng cung bậc của bài thơ.
Mở đầu như là một tuyên ngôn lý tưởng:
“Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.”
Nam nhi không thể sống tầm thường, phải chủ động trong cuộc sống để thay đổi vận mệnh của trời đất.
Bài thơ tiếp tục khẳng định:
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Tác giả tôn vinh sức mạnh con người trước càn khôn. Chú trọng vào trách nhiệm của nam nhi trong việc định đoạt vận mệnh dân tộc.
Bài thơ còn nói về trách nhiệm của nam nhi:
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
Trong bối cảnh đất nước tan rã, nam nhi phải đối mặt với thách thức và trách nhiệm lịch sử. Học vấn không còn ý nghĩa khi đất nước chìm trong đau thương và nhục nhã.
Đoạn kết của bài thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Giọng thơ đầy hi vọng và quyết tâm, khích lệ con người ra sức cứu nước. Hình ảnh hùng vĩ của biển cả, gió bão và sự phi thường của con người tạo nên một bức tranh hào hùng cho thời đại mới.
Bài thơ là tấm gương cho những người yêu nước và là nguồn động viên mãnh liệt trong hành trình cứu nước.


7. Bài tham khảo số 6
Phan Bội Châu (1867-1940), cái tên vang bóng qua bao thế kỷ. Trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông được coi là nhân vật vĩ đại trong lịch sử giải phóng dân tộc Việt Nam (Tôn Quang Phiệt). Người sáng lập Hội Duy Tân, khởi xướng phong trào Đông du và làm rạng danh Việt Nam Quang Phục Hội. Tên tuổi của ông gắn liền với hàng trăm bài thơ, sách văn và những bài diễn thuyết ý nghĩa. 'Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng' (Tố Hữu).
Trong bài thơ “Xuất dương lưu biệt,” ông diễn đạt tư thế, quyết tâm và tâm huyết của mình khi bắt đầu hành trình cứu nước. Bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ là khúc hát về niềm tự hào, chí hướng và ước mơ cao cả:
“Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
Nam nhi không thể sống tầm thường, phải chủ động để làm nên điều lạ. Không sống thụ động cho trời đất tự chuyển dời một cách vô vị. Bài thơ thể hiện tư thế nam nhi tự tin, sẵn sàng đối mặt với thách thức và thay đổi vận mệnh.
Câu thơ khác tôn vinh sức mạnh con người:
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
Ông khẳng định vai trò của bản thân trong lịch sử, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm với dân tộc. Bài thơ chứng minh niềm tự hào của kẻ sĩ trong hoàn cảnh đất nước suy tàn.
“Xuất dương lưu biệt” là biểu tượng cho quyết tâm và khát vọng cứu nước của Phan Bội Châu, một tâm hồn hào hùng, bất khuất trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc.


