1. Cảm nhận nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu số 4
Kim Lân thường viết về cuộc sống nông dân. Trong truyện ngắn 'Vợ nhặt', dù cuộc sống đầy khó khăn, nhân vật Tràng hiện lên với phẩm chất nhân hậu và tình yêu thương. Vào thời kỳ đói kém, Tràng và gia đình phải vật lộn để sinh tồn.
Tràng được miêu tả là người nghèo khó, xấu xí và làm nghề kéo xe bò. Tuy nhiên, anh đã gây bất ngờ khi cưới vợ trong lúc khó khăn. Tràng gặp người vợ của mình khi cô sắp chết đói, và với lòng nhân ái, anh quyết định cưới cô làm vợ. Sự thay đổi trong tâm lý của Tràng từ lo lắng về đói nghèo đến việc khao khát có một gia đình hạnh phúc đã cho thấy phẩm giá của anh vượt qua khó khăn.
Tràng, từ một người xấu xí và nghèo khó, đã có sự thay đổi lớn sau khi cưới vợ. Anh cảm thấy hạnh phúc và yêu thương gia đình hơn, dù cuộc sống còn khó khăn. Hình ảnh gia đình cùng nhau ăn cháo cám trong cảnh nghèo đói nhưng vẫn vui vẻ là biểu tượng của tình yêu và sự đoàn kết. Nhân vật Tràng thể hiện rõ giá trị của tình cảm gia đình và lòng nhân ái dù trong hoàn cảnh khó khăn.
Nhân vật Tràng được miêu tả rõ ràng qua quá trình trước, trong và sau khi cưới, cho thấy sự thay đổi trong tâm lý và nhân phẩm của anh dù sống trong cảnh bần hàn.

2. Phân tích nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - phiên bản 5
Kim Lân, nhà văn gắn bó với đề tài nông thôn từ trước Cách mạng, đã tạo ra tác phẩm 'Vợ nhặt' trong bối cảnh nạn đói 1945. Qua đó, ông khắc họa sự cùng cực của người nông dân và niềm hạnh phúc giản dị trong hoàn cảnh khó khăn. Nhân vật Tràng là một phần quan trọng giúp Kim Lân thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc và bền bỉ qua thời gian.
Tràng, cùng với vợ nhặt, là nhân vật chính của truyện, và chính anh là người “nhặt” được vợ. Nhân vật này giúp ta hiểu rõ hơn về phẩm chất và tâm tư của người nông dân xưa với những suy nghĩ chân thành và giản dị.
Kim Lân miêu tả Tràng như một người đàn ông thô kệch: với cặp mắt ti hí, quai hàm bạnh, lưng gấu, đầu trọc, và những lời nói lảm nhảm không ai hiểu. Tràng còn nghèo và là dân ngụ cư nên ít được để ý. Nhưng trong nạn đói 1945, việc anh dẫn theo một người về nhà là điều bất ngờ. Kim Lân khéo léo miêu tả sự chuyển biến tâm trạng của Tràng trong hoàn cảnh này.
Khi người đàn bà vợ nhặt biến lời nói đùa của Tràng thành sự thật, Tràng lo lắng vì thêm một miệng ăn trong lúc khó khăn. Dù vậy, anh vẫn quyết định dắt người đàn bà về, thể hiện khát vọng có một gia đình hạnh phúc.
Trên đường đưa vợ về, Tràng vui vẻ vì có thêm vợ và nhận được cái nhìn ngạc nhiên từ hàng xóm. Sự khác lạ của Tràng được nhận ra bởi dân xóm ngụ cư, khi anh dẫn thêm một người phụ nữ về.
Câu chuyện 'Vợ nhặt' là chuỗi những bất ngờ. Tràng, bà cụ Tứ và cả xóm đều ngạc nhiên về sự xuất hiện của người đàn bà. Tràng, dù đã có vợ, vẫn còn cảm giác ngỡ ngàng như từ trong mơ. Gia đình mới mang lại cho Tràng cảm giác lâng lâng và khát vọng sống có trách nhiệm hơn.
Kim Lân đã thành công trong việc xây dựng nhân vật Tràng với tình huống bất ngờ và phong cách độc đáo. 'Vợ nhặt' của Tô Hoài, dù ra đời trong hoàn cảnh khó khăn, vẫn truyền tải thông điệp về sự sống bền bỉ và nhân văn sâu sắc. Tác phẩm vượt qua thử thách của thời gian và vẫn được đón nhận nồng nhiệt bởi độc giả hôm nay.

3. Phân tích nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - phiên bản 6
Kim Lân nổi tiếng với các tác phẩm về người nông dân và nông thôn, trong đó 'Vợ nhặt' là một trong những tác phẩm nổi bật nhất. Tác phẩm này phản ánh chân thực nạn đói năm 1945, nhưng giữa tình cảnh đói khát tột cùng, vẫn lóe lên ánh sáng của tình yêu thương, sự sẻ chia và khát khao sống của con người. Nhân vật Tràng thể hiện rõ nét vẻ đẹp của tình thương và sức sống mãnh liệt trong bối cảnh đói khát.
'Vợ nhặt' được in trong tập 'Con chó xấu xí' năm 1962, chỉ một thời gian ngắn sau nạn đói. Tác phẩm kết hợp giữa giá trị hiện thực và nhân đạo qua nhân vật Tràng. Tràng là hình mẫu của người nghèo khổ với ngoại hình thô kệch và cuộc sống cùng cực. Dù ngoại hình xấu xí, sống nghèo nàn, Tràng vẫn thể hiện khát vọng có được tình yêu và hạnh phúc.
Cuộc gặp gỡ tình cờ với Thị - một cô gái đang đói khát bên lề đường, đã dẫn đến việc Tràng 'nhặt' được vợ. Dù tình huống ban đầu chỉ là trò đùa, Thị đã thực sự theo Tràng về nhà. Sự hào hứng và niềm vui của Tràng khi có vợ khiến anh quên hết những lo âu về đói khát. Tràng hạnh phúc đến mức không thể tin vào thực tại và cảm thấy niềm vui này giống như một giấc mơ.
Khi về nhà, Tràng cảm thấy bối rối và lo lắng về tương lai, nhưng niềm vui có vợ đã khiến anh trở nên có trách nhiệm hơn. Sự xuất hiện của Thị không chỉ làm ấm cúng gia đình mà còn khiến Tràng trở thành người con ngoan, chồng có trách nhiệm. Mặc dù bữa cơm đầu tiên chỉ là cháo loãng, nhưng sự hòa hợp trong gia đình đã khiến Tràng thấy hạnh phúc.
Kim Lân đã tạo dựng một hình ảnh chân thực về người lao động nghèo trong nạn đói 1945, làm nổi bật sự khát khao về tình yêu và hạnh phúc của họ. Nhân vật Tràng là biểu tượng của những người nghèo, không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn đầy tình thương và lòng nhân ái.

4. Bài viết phân tích nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu 7
Cuộc sống của người nông dân luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn. Họ mang trong mình sự giản dị và chân thật, đồng thời đại diện cho những phẩm chất tiêu biểu của người Việt Nam như chịu đựng, cần cù và nhân hậu. Tuy nhiên, họ thường phải đối mặt với sự áp bức và bất công. Vì lý do đó, nhiều tác phẩm văn học đã tập trung vào hình ảnh người nông dân như chị Dậu trong 'Tắt đèn' của Ngô Tất Tố, Chí Phèo trong 'Chí Phèo' của Nam Cao, và anh Tràng trong 'Vợ nhặt' của Kim Lân.
Tràng là một người dân nghèo không có công việc ổn định, làm nghề đẩy xe bò mướn. Cuộc sống của anh khá vất vả và nghèo khó, với ngoại hình bình thường và hoàn cảnh sống nghèo nàn. Nhà cửa của Tràng thì hư hỏng và bừa bộn, với sự hiện diện của đói khát.
Kim Lân đã khéo léo đưa nhân vật Tràng vào những tình huống cực kỳ khắc nghiệt để làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của anh trong hoàn cảnh khó khăn. Cuộc sống của Tràng đang bị đe dọa bởi nạn đói, và bức tranh u ám của xóm ngụ cư với tiếng quạ gào và người chết đói đã thể hiện rõ nét thực trạng thảm khốc này.
Tràng, dù đang trong hoàn cảnh khó khăn, vẫn thể hiện lòng nhân ái khi đãi người phụ nữ lạ bữa ăn và quyết định cưới cô ấy. Hành động này cho thấy sự rộng lượng và tấm lòng nhân hậu của Tràng, mặc dù cuộc sống của anh vẫn đang bấp bênh.
Tràng, với sự nghèo khó và lo lắng cho tương lai, vẫn quyết định nuôi nấng người phụ nữ và chấp nhận trách nhiệm gia đình. Dù gặp nhiều khó khăn, Tràng vẫn cảm thấy vui mừng và hạnh phúc khi có vợ. Anh cảm nhận rõ ràng niềm vui và trách nhiệm mới của mình, đồng thời suy nghĩ về tương lai với sự nghiêm túc và chân thành.
'Vợ nhặt' không chỉ phản ánh nỗi khổ của người nông dân trong nạn đói 1945 mà còn thể hiện sự cảm thông và tôn trọng của Kim Lân đối với những số phận nghèo khổ. Nhân vật Tràng đã để lại ấn tượng sâu sắc với lòng nhân ái và tốt bụng của mình.

5. Bài phân tích nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu 8
Nếu Chí Phèo đi vào trong tác phẩm của Nam Cao với dáng ngật ngưỡng của kẻ say và tiếng chửi đời đầy chua chát. Thì nhân vật Tràng cũng bước vào trang văn của Kim Lân với cái lưng to như lưng gấu và dáng đi lững thững đầy mỏi mệt, cái mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều. Nhưng trước cách mạng, Nam Cao đã bất lực nhìn Chí Phèo chết mà không thể đưa tay cứu vì hạn chế của lịch sử. Còn Kim Lân viết về anh cu Tràng sau cách mạng thành công nên nhân vật đã được dắt tay đến ánh sáng của cách mạng, tìm đường tới tự do. Con đường ấy chông gai, và thách thức như thế nào trong thiên truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã vẽ lại con đường ấy bằng ngòi bút chân thực, sống động khi miêu tả nhân vật Tràng, một nhân vật chính của truyện với sự cảm thông và lòng nhân đạo sâu sắc.
Dân ta ngày xưa sống trong thuần hậu của làng quê mà lúc đó là “phép vua còn thua lệ làng”. Văn hóa làng xã phát triển đến ăn sâu trog tiềm thức của con. Vậy mà Tràng lại là dân ngụ cư, một gã trai nghèo khổ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già. Dân ngụ cư là nhưng người vốn từ nơi khác đến. Vì thế, họ không có ruộng đất, những thứ vô cùng quan trọng đối với người nông dân thời xưa. Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi bìa làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh. Nhà cửa của anh ta, cái được gọi là “nhà” thì luôn vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.
Tràng xấu xí, thô kệch. Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Còn đầu của Tràng thì cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Với lai lịch là dân ngụ cư nghèo, lại có ngoại hình xấu trai như vậy cũng đủ anh Tràng khó lấy được vợ nếu không muốn nói là ế vợ. Nhưng ẩn chứa bên trong nét ngoại hình xấu xí ấy là tâm hồn của một con người luôn vươn tới những khao khát sống đẹp. Và điều này một phần được thể hiện thông qua tính cách của nhân vật.
Tràng hầu như không tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình, không vướng bận những lo toan của cuộc sống cơm áo, gạo tiền. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên. Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút. Ngay cả chuyện quan trọng cả một đời như lấy vợ, bất cứ ai cũng phải lựa chọn, cân nhắc kĩ càng nhưng Tràng thì ngược lại. Tràng cũng chỉ đưa ra quyết định trong chốc lát, nhanh chóng đến bản thân anh ta còn không tin nổi. Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Tràng cũng thừa biết, người như hắn thì không thể có vợ. Đó là lần gò lưng kéo cái xe thóc vào dốc tỉnh, Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc. Chủ tâm của anh ta là vui đùa chứ đâu có chòng ghẹo cô nào.
Muốn ăm cơm trắng với giò!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!
Nhưng không hiểu sao những cô kia lại đẩy Thị ra với hắn. Thế rồi, một người đàn bà đang đói bám lấy để được ăn, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận, cười tít mắt và cùng đẩy xe bò. Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái “cười tít mắt của thị” bởi “từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu”. Cái cười của Tràng làm ta nhớ đến giây phút mà Chí Phèo không quên và đầy xúc cảm trào dâng như khi nhận bát cháo hành từ trên tay Thị Nở, vì từ xưa đến nay có ai cho hắn cái gì, muốn có ăn thì phải cướp, giật, dọa nạt. Một sự bố thí nhỏ nhoi của số phận cũng làm cho con người trào dâng niếm hạnh phúc. Ấy chính là tinh thần nhân đạo của nhà văn.
Vì đùa nên Tràng quên ngay nhưng thị thì nhớ như in và tới ăn vạ. Lơ ngơ giây lát nhưng khi nhận ra Tràng nhanh chóng gật đầu. Lần thứ hai gặp lại là Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ người đàn bà sầm sập chạy đến, cong cớn, sưng sỉa với hắn “Điêu, người thế mà điêu. Bữa trước hẹn thế mà mất mặt”. Tràng không nhận ra người đàn bà hôm trước đẩy xe cho mình. Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn phá cả nhân hình lẫn phẩm cách. Thị gầy sọp hẳn đi, quần áo rách như tổ đỉa, ngực gầy lép, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Thấy người đàn bà đói, rách rưới, thảm hại. Tràng động lòng thương.
Có ai ngờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả đến thế bởi chính Tràng lúc này cũng bị cái đói bủa vây, cũng thảm hại đáng thương như người phụ nữ kia. Thế nhưng Tràng đã quên đi cái nghèo khổ của mình, chỉ còn lòng thương, một lòng thương người đầy đủ giành cho người đàn bà. Tràng cho thị ăn, ăn rất nhiều ” bốn bát bánh đúc” – bởi giữa lúc tao đoạn ấy thì “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Miếng ăn ấy có thể cứu sống một con người. Đó chính là lòng thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hoặc chòng ghẹo. Một phẩm chất cao cả, một tâm hồn đẹp ẩn bên trong một ngoại hình thô kệch, xấu xí. Một lòng thương người bao la giữa cái đói cái chết đang cận kề. Đó là phẩm chất tốt đẹp trong con người lao động nghèo khổ Việt Nam mà Kim Lân đã dày công kiếm tìm và ca ngợi.
Vốn tính hay đùa, khi thị lo lắng hụt tiền bị vợ mắng, Tràng lại tầm phơ tầm phào “Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật. Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Đó là nỗi sợ hãi có thật, nhất lại là thời điểm đói kém như thế. Một thoáng trong óc Tràng, nỗi ám ảnh của cái đói, cái chết hiện về đầy đủ và chân thật nhất. Nó là hiện thực khắc nghiệt mà không một lí trí nào đủ mạnh mẽ để làm ngơ. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “Chậc kệ!”
Chỉ một từ “chậc kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình. Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa sự sống. Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa. Một người vì khát khao hạnh phúc gia đình, người kia vì miếng ăn. Nói tóm lại là họ đánh liều với số phận, với sự sống, nhưng cái liều của họ làm người ta bật khóc. Bởi sống giữa cuộc đời mà ngay khi cái đói, cái chết cận kề, họ không nghĩ đến cái đói, cái chết mà lại hướng tới sự sống, khát khao hạnh phúc. Đó là vẻ đẹp, nghị lực sống phi thường của người nông dân nghèo. Bấy giờ thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Họ làm ta khâm phục và kính trọng, phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói? Tất cả dồn tụ, lắng đọng lại trong chi tiết nhặt vợ thật nhanh chóng của Tràng!
Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua 2 hào dầu để thắp sáng, để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí. Đó có vẻ như là sự chi tiêu phóng khoáng thậm chí là cố gắng quá mức của Tràng trong lúc đói khát, thóc cao gạo kém này. Nhưng cũng rất dễ hiểu vì Tràng sắp được làm chồng. Không phải vì vợ nhặt mà Tràng coi thường, không trân trọng mà ngược lại, hắn yêu thương và nâng niu chút hạnh phúc lớn lao bỗng nhiên hắn có được.
Trên đường về, khác với anh Tràng hôm qua buồn bã, cúi mặt lo âu nghĩ ngợi, hôm nay Tràng có niềm vui lạ, một niềm hạnh phúc tràn ngập khiến mặt Tràng cứ “phớn phở khác thường”. Thỉnh thoảng lại còn cười nụ một mình. Lúc thì hắn đi sát người đàn bà, lúc lại lùi ra sau một tí, hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia, muốn nói đùa một câu, lại cứ thấy ngường ngượng. Kim Lân đã làm người đọc thấy được sự thay đổi về tâm lí của Tràng. Tràng thật sự đã đổi khác. Trong lòng Tràng tràn ngập niềm vui sướng miên man khiến “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ dọc sống lưng”. Thế là rõ rồi: Tình yêu, hạnh phúc gia đình luôn đủ sức mạnh khiến con người ta thay đổi.
Khi về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy “ngượng nghịu” rồi cứ thế “đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ”. Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: “hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?”. Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng. Không chỉ có bản thân Tràng thấy bất ngờ về việc mình bỗng nhiên có vợ, mà tất cả những người dân trong xóm ngụ cư đều không tin được. Bởi đây là một việc như từ trên trời rơi xuống. Cái đói cướp đi cả mạng sống của con người thì có hạnh phúc nào nó có thể ban cho con người? Vậy mà Tràng lại nhặt được hạnh phúc ngay lúc sự sống chênh vênh nhất, không biết nên mừng hay tủi, vui hay buồn, hạnh phúc hay âu lo? Nhưng đã vượt qua tất cả hiện thực khắc nghiệt, Tràng đón nhận niềm vui của hạnh phúc nhỏ nhoi, bất ngờ của mình.
Lúc chờ đợi Mẹ về: Tràng nóng ruột, đi đi lại lại. Chưa bao giờ người ta thấy hắn nôn nóng như thế- hắn biết lo toan, như mốc đánh dấu sự trưởng thành của một con người. Vì sao? Bởi hắn lo mẹ không đồng ý, và nếu như vậy thì niềm hạnh phúc hắn đang có sẽ bị mất đi. Khi mẹ về, hắn mừng rỡ, rối rít như trẻ con vì dù sao Tràng vẫn còn có mẹ – đó là đấng tối cao của Tràng vì chỉ có mẹ mới quyết định được hạnh phúc của hắn. Tràng nóng lòng thưa chuyện với mẹ. Bắt mẹ ngồi lên giường để thưa chuyện, như thế ta mới thấy hết Tràng cũng ý thức được mình lấy vợ là một việc vô cùng hệ trọng. Có gì đó như sự đổi thay ghê gớm. Trên chợ tỉnh mới trước đó ít phút, lời rủ thị về đích thực là một câu đùa thì với hành động mời mẹ ngồi lên ghế chĩnh chện để thưa chuyện thì đó lại là việc hệ trọng cả một đời. Một chàng trai đã lớn, đến tuổi dựng vợ, gả chồng mà khi thưa chuyện vợ con với mẹ Tràng vẫn còn ngượng nghịu, chút ngượng ngịu đầy trân trọng của chàng trai nghèo trước hạnh phúc bất ngờ. Niềm vui, sự ngượng nghịu hoàn toàn đối lập với sự ủ rũ của cậu con trai Lão Hạc khi bị phụ tình, vì nghèo mà mất đi tình yêu đầy chua xót.
Hai phận nghèo nhưng lại là hai kết thúc khác nhau trước hạnh phúc gia đình. Nên người đọc hoàn toàn có thể hiểu và cảm thông cho niềm vui của Tràng. Khi được mẹ đồng ý, Tràng thở đánh phào một cái nhẹ cả người. Thế là Tràng đã có gia đình, có vợ, không tốn tiền cưới hỏi, Tràng lấy được vợ thật hiển hách. Lo lắng của Tràng hoàn toàn có cơ sở, lo cho hạnh phúc mong manh kia có thể bị mất đi bất cứ lúc nào. Lo cái đói sẽ hủy hoại tất cả, lo sợ mẹ không đồng ý…Tất cả đều chính đáng bởi hạnh phúc gia đình là khao khát, là mưu cầu của mỗi con người. Chân lí ấy Nam Cao đã nói trong truyện ngắn Chí Phèo: người ta không sợ đói rét, ốm đau, bệnh tật bằng sợ sự cô đơn. Phải chăng cũng khi nhận ra hạnh phúc của mình đang hiện hữu cũng là lúc Tràng lo sợ nhất mất đi hạnh phúc ấy, và rồi Tràng lại cô đơn một mình với cái đói, cái nghèo. Có lẽ lúc này cô đơn cũng là điều Tràng lo sợ nhất. Một lo âu, trăn trở mang đầy tính nhân bản, nhân văn trong nhân vật.
Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm, biết suy nghĩ chín chắn. Nhà văn đã mang đến cho người đọc hơi thở mới cho Tràng sau đêm tân hôn. Tràng thức dậy, đầu tiên đó là một cảm giác dễ chịu “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Đó là tâm trạng lâng lâng trong hạnh phúc. Việc Tràng có vợ thì có khác gì một giấc mơ. Tràng nhận thấy xung quanh mình có thứ gì vừa thay đổi, mới mẻ, khác lạ: Nhà cửa, sân bãi được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng, quần áo được thu dọn, hai cái ang đã được đổ đầy nước… Tràng cảm động khi thấy mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa nhất là khi nghe tiếng chổi tre quét từng nhát sàn sạt trên sân. Một nỗi lòng yêu thương, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng”. Không hiểu sao khi đọc những câu văn, những dòng trải lòng của nhân vật hay cũng chính là của tác giả cứ làm tôi nhớ đến những câu thơ trong bài thơ “Đợi” của Vũ Quần Phương:
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời đất quen thành lạ
Nước chảy… kìa em, anh đợi em.
Ngôi nhà của Tràng đã sống bao ngày, hôm nay khi Tràng nhìn nó qua lăng kính tình yêu hắn bỗng nhiên thấy nó vừa lạ lẫm, vừa thân quen như Chế Lan Viên từng nói: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Tình yêu chính là chất keo gắn kết của các thành viên trong gia đình để Tràng thêm yêu thương và gắn bó với cái nhà của hắn. Để rồi Tràng khẳng định một điều hoàn toàn mới mẻ: Hắn đã có một gia đình. Hai từ gia đình ở đây cần được hiểu theo nghĩa trọn vẹn và đầy đủ nhất. Trước đây Tràng và mẹ vẫn sống trong ngôi nhà này nhưng từ sáng đến tối không hề gặp mặt. Ngôi nhà như một chỗ trú chân, không ai quan tâm ai. Nhưng giờ đây khi Tràng đã có vợ thì có sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong gia đình. Và đó mới là gia đình thật sự. Gia đình ai cũng có, nhưng gia đình như tổ ấm thì không nên nhà văn để cho Tràng khẳng định lại: Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là tổ ấm của hạnh phúc chứ không phải cái tổ lạnh băng không tình cảm. Vì thế nên Tràng ý thức được trách nhiệm của mình khi nhìn về tương lai: Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Điều đó sẽ càng làm tăng thêm không khí ấm cúng của một gia đình. Gia đình đấy cần một trụ cột, và Tràng sẽ làm trụ cột, làm chỗ dựa và có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này. Từ ý thức, trách nhiệm dâng cao đã thôi thúc Tràng bắt tay vào hành động: xăm xăm chạy ra sân, muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. Vậy là Tràng đã trưởng thành, một người đàn ông với vai trò trụ cột gia đình. Có ý thức, trách nhiệm. Luôn muốn làm tròn bổn phận của mình.
Từ một anh phu xe cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi thay. Cái ao đời bằng phẳng của Tràng và mẹ vẫn sống cho qua ngày, nay bỗng thị bước vào như ném một viên sỏi, sóng sánh, đổi thay thấu đáy. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay bởi trước kia Tràng sống rất nông cạn và hời hợt, không nghĩ sâu sắc một điều gì, ngay cả việc lấy vợ. Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới… Phải chăng Tràng đã thức tỉnh, đã hiểu được chân giá trị của sự sống: Khi cái đói, cái chết còn kề cận thì hạnh phúc là thứ mong manh, khó nắm giữ, nên để hạnh phúc ấy trọn vẹn thì đầu tiên phải tìm về được với sự sống chân chính. Và chỉ có cách mạng, đến với cách mạng thì con người mới tìm ra lối thoát cho cuộc đời mình. Giá trị nhân đạo là khi tác giả mở ra con đường sống cho những con người đang đứng bên bờ vực của cái chết. Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào buổi chiều chạng vạng mặt người và cũng chính anh đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới lá cờ đỏ đang phấp phới tung bay.
Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Khi thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ như con trai lão Hạc, phẫn chí mà bỏ đi làm mộ phu. Còn như Tràng, trong nạn đói lại nhặt được vợ nhưng niềm hạnh phúc đan xen với lo âu, sự sống lại cần kề với cái chết. Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát. Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã hé mở cho anh một hướng đi. Đó là con đường đến với cách mạng tự nhiên và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi. Họ sẽ đến với chân trời tự do làm chủ cuộc đời và nắm giữ được hạnh phúc.
Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Tràng bằng ngòi bút sắc sảo. Anh chàng phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động, khi hãnh diện cái mặt vênh vênh tự đắc với mình bởi vừa mới nhặt được vợ, lúc lật đật chạy theo người đàn bà, như người xấu hổ chạy trốn, hay lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia, cũng có khi lòng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, chỉ còn tình nghĩa. Anh thô kệch nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng nghiụ, biết sợ, nhất là biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau.
Có lẽ đọc xong tác phẩm, khi gấp lại trang truyện ta vẫn hình dung cái lưng to bè như lưng gấu, nhưng không phải với bước chân nặng nề của anh cu Tràng như đầu thiên truyện. Sức ám ảnh của nhân vật này chính là khát khao sự sống, khao khát đổi thay. Tràng sẽ hòa vào dòng người theo cách mạng đi tìm ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của chính mình. Hình ảnh ấy cứ gieo vào lòng người đọc một niềm tin, niềm vui bất tận.

6. Bài văn cảm nhận về nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu 1
Kim Lân là một trong những nhà văn ít viết, trong khi các tác giả khác như Tô Hoài có hàng trăm tác phẩm, Kim Lân chỉ có vài tác phẩm. Nhưng những tác phẩm của ông để lại ấn tượng sâu đậm, đủ để đưa ông vào hàng ngũ những tác giả nổi tiếng. “Vợ Nhặt” chỉ có ba nhân vật, nhưng mỗi nhân vật đều để lại dấu ấn riêng. Dù Tràng là một thanh niên thô kệch, nghèo khó, sống trong căn lều tồi tàn, nhưng qua hoàn cảnh khó khăn, anh vẫn thể hiện sự hào hiệp và nhân ái. Dù không có nhiều hy vọng, Tràng đã bất ngờ tìm thấy tình yêu và sự đồng cảm từ người phụ nữ nghèo khó khác. Sự tương trợ và tình yêu giữa họ, dù bắt đầu từ sự đói khổ, đã tạo nên một gia đình nhỏ trong hoàn cảnh khó khăn. Kim Lân đã miêu tả tâm lý nhân vật rất tinh tế, thể hiện tư tưởng rằng dù người nghèo đói vẫn luôn có niềm tin vào tương lai và tình người là vô giá.

7. Bài viết cảm nhận về nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu 2
Nhà văn I.Bônđarep đã nói rằng “Nghệ thuật sinh ra từ những mâu thuẫn và xung đột”. Điều này hoàn toàn đúng khi áp dụng cho truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Tác phẩm hiện lên một bức tranh chân thực về sự thê thảm của thời kỳ đói khổ, và lạ lùng thay, giữa cảnh sống tối tăm, nhà văn đã cho thấy lòng nhân ái của những con người đói nghèo, dù đang đối mặt với cái đói và cái chết, họ vẫn chia sẻ, yêu thương và hướng tới sự sống và hạnh phúc. Nhân vật Tràng thể hiện rõ điều này như thế nào?
“Vợ nhặt” được viết không lâu sau nạn đói năm 1945, tái hiện thời kỳ kinh hoàng, hòa quyện giữa thế giới sống và cái chết. Mọi hình ảnh, âm thanh trong truyện đều rất chân thực, không có sự phóng đại. Người đọc cảm nhận được những cảm xúc vừa độc đáo, vừa cảm động. Nhân vật Tràng phản ánh đầy đủ hiện thực và tinh thần nhân đạo mà tác giả muốn gửi gắm.
Tràng, nhân vật chính, được Kim Lân khắc họa với hình ảnh đơn sơ, trong bối cảnh đói khổ. Anh có ngoại hình thô kệch, với “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, và cuộc sống tồi tàn. Dù sống trong cảnh ngộ khó khăn, Tràng không hề có hy vọng lấy vợ. Tuy nhiên, trái tim nhân hậu của anh đã khiến anh chia sẻ với người khác, và cuối cùng, anh đã tìm thấy tình yêu và hạnh phúc giữa cảnh đói khổ. Tràng đã thể hiện trách nhiệm của một người chồng và trân trọng hạnh phúc của mình. Trong bữa cơm đầu tiên với vợ, hình ảnh lá cờ đỏ hiện lên trong đầu Tràng như một biểu tượng của hy vọng và tương lai. Tràng là hình mẫu của những người lao động nghèo trong nạn đói năm 1945, sống với lòng yêu thương, san sẻ, và tin tưởng vào tương lai và cách mạng.

8. Phân tích nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' - mẫu 3
Văn học phản ánh cuộc sống. Qua từng cảnh ngộ và cảm xúc của nhân vật, nhà văn muốn gửi gắm những vấn đề nhân sinh sâu sắc. 'Vợ nhặt' của Kim Lân là một minh chứng điển hình. Nhân vật Tràng, một người nông dân nghèo khó nhưng đầy lòng nhân ái và khát khao sống, thể hiện rõ điều đó.
Như nhà thơ Buy-phông đã nhận định: “Phong cách chính là người”. Kim Lân mang đậm dấu ấn dân tộc, và văn của ông luôn toát lên vẻ chân quê, giản dị và mộc mạc. Tô Hoài đã đánh giá Kim Lân là “nhà văn một lòng về với đất, với người”. Tác phẩm của ông như những báu vật văn hóa của nền văn minh sông Hồng, và điều này được chứng minh qua các tác phẩm của ông.
“Vợ nhặt” vốn là một tiểu thuyết mang tên “Xóm ngụ cư” viết ngay sau cách mạng tháng Tám, nhưng bản thảo đã bị mất. Sau hòa bình (1954), tác giả đã dựa vào cốt truyện cũ để viết lại dưới dạng truyện ngắn. Nhân vật Tràng trong 'Vợ nhặt' cũng mang chất “Kim Lân”, đậm chất làng quê như những nhân vật khác trong các tác phẩm của ông.
Kim Lân tài tình khi đặt nhân vật Tràng đối diện với cái chết trong bối cảnh nạn đói 1945. Cái chết hiện lên qua hình ảnh người chết, mùi xác thối, và âm thanh bi thương, tạo nên một bức tranh rùng rợn, nơi sự sống và cái chết giao thoa. Trong khung cảnh đó, Tràng xuất hiện như một người nông dân nghèo sống với mẹ già trong căn nhà tồi tàn. Kim Lân đã khéo léo chọn lọc chi tiết để làm nổi bật tình cảnh của Tràng.
Tràng không có người yêu và bị coi là “ế vợ” không chỉ vì nghèo mà còn vì vẻ ngoài thô kệch và ngờ nghệch. Như Nam Cao đã miêu tả nỗi cô đơn của Chí Phèo, Tràng cũng cảm thấy sự cô độc là khủng khiếp hơn cả đói rét. Tuy nhiên, vẻ ngoài khổ cực không đồng nghĩa với tâm hồn héo úa. Dù Thị Nở có xấu xí, cô vẫn có lòng nhân ái, và Tràng cũng vậy, ẩn sau vẻ ngờ nghệch là một trái tim yêu thương chân thành.
Tràng dù trong hoàn cảnh đói khổ vẫn sẵn sàng giúp đỡ một người phụ nữ hoàn toàn xa lạ. Hành động của Tràng không phải là một kế hoạch cưới xin, mà chỉ là một trò đùa, nhưng lại trở thành hiện thực. Dù ban đầu lo lắng về tương lai, Tràng vẫn chấp nhận cuộc sống mới với người vợ “nhặt” của mình. Ngọn đèn dầu mà Tràng mua cho vợ không chỉ là tiện nghi, mà còn là biểu tượng của lòng trân trọng và tình yêu thương.
Khát vọng sống và hạnh phúc của Tràng được thể hiện qua hành động “nhặt vợ”. Niềm hạnh phúc không ngờ đến đã làm cho Tràng cảm thấy cuộc sống của mình đầy ý nghĩa hơn. “Nhà” không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là biểu tượng của bình yên và tình yêu, điều mà Tràng khao khát. Dù hoàn cảnh nghèo nàn, tình yêu và hạnh phúc vẫn có thể vươn lên và xua tan mọi khó khăn.
Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật Tràng với cốt truyện đơn giản nhưng đầy ý nghĩa và chi tiết nghệ thuật tinh tế. Tác phẩm phản ánh sâu sắc thông điệp về sự sống và tình người, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Phê bình Phạm Xuân Nguyên từng nói: “Thời gian có thể phủ bụi một số thứ, nhưng có những thứ càng rời xa thời gian, càng sáng đẹp”. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một tác phẩm như thế, vẫn mãi vững bầu sức sống qua thời gian.

