
| Sencha 煎茶 | |
|---|---|
| Loại | Trà xanh |
| Tên khác | Trà ngâm |
| Nguồn gốc | Nhật Bản |
| Mô tả ngắn gọn | Rất phổ biến ở Nhật Bản |
| Nhiệt độ pha trà | 80 °C (176 °F) |
| Thời gian pha trà | 1 phút |

Sencha (煎茶) là một loại ryokucha (緑茶) của Nhật Bản, được chế biến bằng cách hãm lá trà đã chế biến trong nước nóng. Điều này trái với matcha (抹茶), loại trà xanh dạng bột của Nhật Bản, nơi mà bột trà xanh được hoà vào nước nóng, và do đó bản thân lá trà cũng có trong thức uống. Sencha là loại trà phổ biến nhất ở Nhật Bản.
Tổng quan
Trong số các loại trà xanh Nhật Bản được pha chế bằng cách hãm trà, 'sencha' được phân biệt với các loại đặc biệt như gyokuro và bancha. Đây là loại trà phổ biến nhất ở Nhật Bản, chiếm khoảng 80% sản lượng trà được sản xuất tại Nhật Bản.
Hương vị của sencha phụ thuộc vào mùa và nơi sản xuất, nhưng shincha, hay 'trà mới' từ lần ra đầu tiên trong năm của cây trà, được coi là ngon nhất. Quá trình hái trà ở Nhật Bản bắt đầu sớm nhất ở vùng phía Nam, dần dần chuyển sang vùng phía Bắc với sự ấm áp của mùa xuân. Trong suốt mùa đông, các cây trà dự trữ chất dinh dưỡng, và những lá mới mọc lên vào mùa xuân chứa chất dinh dưỡng được tập trung nhiều nhất. Shincha đại diện cho những đợt lá trà mới này. Mùa shincha, tùy thuộc vào khu vực trồng trọt, bắt đầu từ đầu tháng 4 tới đầu tháng 5, đặc biệt là ngày thứ 88, sau ngày Setsubun, thường rơi vào khoảng ngày 4 tháng 2, một ngày giữa mùa theo truyền thống được coi là bắt đầu mùa xuân ở Nhật Bản. Setsubun hay tiết lập xuân là sự khởi đầu của Can Chi trong năm; do đó, bằng cách uống sencha người ta có thể hưởng thụ một năm với sức khoẻ tốt lành.
Màu sắc lý tưởng của thức uống sencha là màu vàng lục. Tùy thuộc vào nhiệt độ của loại nước mà nó được hãm, hương vị sẽ khác biệt, bổ sung thêm sự hấp dẫn của sencha. Với nước tương đối ôn hoà hơn, nó tương đối êm dịu; với nước nóng, nó sẽ có vị se nhiều hơn. Các loại trà không nghiền được du nhập từ Trung Quốc theo sau matcha (抹茶, trà xanh nghiền bột). Một số loại trà toả ra khi ngâm trà có giống với màu xanh của lá thực vật ở mùi hương, vẻ ngoài và hương vị.
Quy trình sản xuất chè mà theo đó sencha và các loại ryokucha (緑茶, trà xanh) Nhật Bản khác được tạo ra khác với trà xanh Trung Quốc, có đặc điểm ban đầu là được sao trên chảo gang. Trà xanh Nhật Bản đầu tiên được hấp từ 15–20 giây để ngăn sự oxi hoá lá trà. Sau đó, lá được cuộn lại, tạo hình và sấy khô. Bước này tạo ra dạng hình trụ mỏng theo phong tục của loại trà này. Cuối cùng, lá được sắp xếp và chia thành các nhóm có chất lượng khác nhau.
Bước hấp trà ban đầu tạo ra sự khác biệt về mùi vị giữa trà xanh Trung Quốc và Nhật Bản, với trà xanh Nhật Bản có nhiều hương vị của thực vật, gần như vị cỏ (một vài loại có hương vị của rong biển). Quá trình hãm trà của sencha và các loại trà xanh được hấp khác (giống như các loại trà xanh phổ biến nhất của Nhật) cũng có màu xanh hơn và vị hơi đắng hơn các loại trà xanh theo phong cách Trung Quốc.
Các loại trà
- Jô Sencha (上煎茶), sencha thượng phẩm
- Toku Jô Sencha (特上煎茶), sencha thượng phẩm đặc biệt
- Hachijuhachiya Sencha (八十八夜), sencha thu hoạch sau 88 ngày (và đêm) sau khi mùa xuân bắt đầu (lập xuân)
- Kabuse Sencha hoặc Kabusecha (かぶせ茶), sencha được phủ bóng râm
- Asamushi (浅蒸し), sencha được hấp nhẹ
- Chumushi, trà được hấp vừa phải (30-90 giây)
- Fukamushi hoặc fukamushicha (深蒸し), sencha được hấp kĩ - 1–2 phút
- Shincha (新茶) hoặc Ichibancha (一番茶), sencha từ lá hái đợt đầu tiên trong năm
Shincha

Shincha (新茶), 'trà mới', đại diện cho mùa thu hoạch đầu tiên của sencha. Về cơ bản, nó cũng giống như ichibancha (一番茶), 'trà hái đợt đầu tiên,' và được đặc trưng bởi hương thơm và vị ngọt tươi mát của nó. 'Ichibancha' phân biệt 'shincha' với cả 'nibancha' ('trà hái đợt thứ hai') và 'sanbancha' ('trà hái đợt thứ ba'). Việc sử dụng thuật ngữ 'shincha' làm rõ rằng trà này là đợt đầu tiên của năm, là loại trà đầu tiên của mùa thu hoạch trà. Thuật ngữ đối nghịch là kocha (古茶), hoặc 'trà cũ,' có nghĩa là chè còn lại từ năm trước. Bên cạnh mùi thơm tươi mới của lá non, shincha có đặc điểm là hàm lượng catechin tạo vị đắng và caffeine tương đối thấp, và hàm lượng amino acid tương đối cao. Shincha chỉ có trong một khoảng thời gian giới hạn. Loạt trà sớm nhất, từ phía Nam Nhật Bản, xuất hiện trên thị trường từ cuối tháng 4 đến tháng 5. Loại trà này phổ biến ở Nhật Bản, nhưng chỉ có một số lượng hạn chế ở bên ngoài Nhật Bản. Nó được đánh giá cao về hàm lượng vitamin cao, vị ngọt và hương vị cỏ với mùi thơm của nhựa từ lá trà và vị se thoang thoảng.
Kabusecha
Kabusecha là một loại sencha được trồng dưới bóng mát để làm tăng hương vị ngọt và làm dịu hơn vị của các axit amin như theanine. Khoảng một tuần trước khi thu hoạch lá trà vào mùa xuân, khu vực trồng sencha này được phủ màn để ngăn ánh sáng mặt trời trực tiếp, tạo nên hương vị dịu nhẹ hơn so với sencha thông thường. Loại trà này được gọi là gyokuro khi được che phủ lâu hơn: khoảng 20 ngày.
Để tạo ra sự phủ bóng tự nhiên mà không chặn hoàn toàn ánh sáng mặt trời, sencha kabusecha có các tấm lưới đặc biệt treo lên cây. Sencha kabusecha có màu sắc tinh tế và hương thơm đặc trưng hơn so với sencha được trồng dưới ánh nắng trực tiếp.
Tiên trà đạo
Senchadō (Đạo thưởng thức sencha): Tương tự như nghệ thuật trang trọng xung quanh matcha, senchadō là nghệ thuật đặc biệt quanh sencha, được biết đến với gyokuro cao cấp của sencha.
- Trà Nhật Bản
- Baisao — được coi là người sáng lập sencha đầu tiên
Liên kết ngoài
- Tài liệu liên quan đến Sencha tại Wikimedia Commons
