
Một trong những thách thức nặng nề nhất đối với những người trầm cảm là phải chịu đựng sự lời khuyên, sự dạy dỗ và sự phán xét từ những người không hiểu biết về căn bệnh này; đồng thời phải chịu sự thúc ép không ngớt rằng hãy sống tích cực và hữu ích, nhưng họ đã biết điều đó, mặc dù đó là điều mà mọi người trầm cảm luôn mong muốn ở bản thân mình.
Tôi hy vọng rằng bài viết này, với cách tiếp cận độc đáo, kết hợp giữa khoa học và trải nghiệm cá nhân, có thể giúp những người chưa từng trải qua trạng thái trầm cảm hiểu hơn về sự khắc nghiệt của căn bệnh này.
1. Chúng ta không thể hiểu chính bản thân mình, không nên mong muốn hiểu rõ người khác.
Tôi nhận ra mình không còn có năng lượng như thời trẻ khi phải đối mặt với cảm giác mệt mỏi đến cực điểm mỗi buổi sáng sau khi thức dậy. Khi còn học sinh, việc thức đêm hay ngủ trễ không đáng quan tâm như bây giờ. Nhưng hiện tại, tôi phải cân nhắc kỹ lưỡng và lên kế hoạch rõ ràng nếu muốn thức khuya thêm dù chỉ 1-2 giờ mỗi đêm. Cảm giác mệt mỏi và khó chịu vào buổi sáng luôn khiến tôi cảm thấy lo lắng. Hơi thở gấp và nông, cảm giác uể oải dù máy lạnh hoạt động suốt đêm, và bộ não cứ phát ra các tín hiệu báo động như muốn phàn nàn rằng việc ngủ không bao giờ xảy ra. Tất cả những điều này, kết hợp với loạt trách nhiệm quan trọng cần giải quyết vào ngày hôm sau, khiến việc thức đêm trở thành lựa chọn không tùy ý.
Nghe có vẻ hợp lý đấy nhỉ?
Dù cảm giác thức dậy sau một đêm thiếu ngủ có đến đâu tệ, dù tôi có thể diễn đạt nó bằng từ ngữ để mọi người hiểu ngay, nhưng điều khó nhất vẫn là hình dung được chính xác cảm giác đó vào đêm trước khi đi ngủ, để biến chúng thành động lực để tôi có thể sợ hãi và đi ngủ thay vì tiếp tục xem thêm 5 tập The Big Bang Theory. Nhưng tôi không thể, giống như bất kỳ ai khác, vì bộ não không hoạt động như vậy.
Điều này cũng giống như việc chúng ta không thể nhớ cảm giác nghẹt mũi tệ như thế nào khi mũi vẫn thông thoáng, hoặc không thể nhớ cảm giác mệt mỏi khi sốt lên trong thời gian tỉnh táo, mặc dù đã trải qua (thường xuyên). Ta có thể cố gắng hồi tưởng lại những cảm giác đó, nhưng bộ não chỉ có thể tổng hợp chúng thành một ký ức dạng “khó chịu, tốt hơn là đừng có” thay vì thứ gì đó rõ ràng. Chỉ khi mũi bị nghẹt hoàn toàn, hoặc nằm liệt giường vì sốt, ta mới thực sự hiểu mức độ tệ hại và khó chịu đến đâu.
Nam Cao, một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, đã từng đặt ra một câu hỏi sâu sắc đầy ý nghĩa, “Một người đau chân có khi nào quên được cảm giác đau ấy để suy nghĩ về điều gì khác không?”. Nhưng cũng có một sự thật song song khác mà chúng ta thường ít để ý, rằng những người không bị đau dù có muốn cũng không thể hiểu hoàn toàn về cảm giác đau của người khác, hoặc thậm chí không thể nhớ chính xác mình đã phải chịu đựng như thế nào khi đau đớn trong quá khứ.
