
|
Tràng Định
|
|||
|---|---|---|---|
| Huyện | |||
| Huyện Tràng Định | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | Việt Nam | ||
| Vùng | Đông Bắc Bộ | ||
| Tỉnh | Lạng Sơn | ||
| Huyện lỵ | thị trấn Thất Khê | ||
| Phân chia hành chính | 1 thị trấn, 21 xã | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: | |||
| |||
| Diện tích | 995 km² | ||
| Dân số (2019) | |||
| Tổng cộng | 59.827 người | ||
| Thành thị | 4.538 người | ||
| Nông thôn | 55.289 người | ||
| Mật độ | 60 người/km² | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 180 | ||
| Biển số xe | 12-T1 | ||
| Website | trangdinh | ||
Tràng Định là một huyện biên giới nằm ở phía bắc tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.
Vị trí địa lý
Huyện Tràng Định tọa lạc ở phía bắc tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn khoảng 63 km, thành phố Cao Bằng 61 km và trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 230 km. Vị trí địa lý của huyện là:
- Phía đông giáp thành phố Sùng Tả thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với đường biên giới dài khoảng 51 km.
- Phía tây giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Phía nam giáp huyện Bình Gia và huyện Văn Lãng.
- Phía bắc giáp huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Huyện Tràng Định có diện tích 995 km² và dân số đạt 59.827 người vào năm 2019.
Quá khứ lịch sử
Tràng Định từng được biết đến với tên gọi châu Thất Nguyên, một trong bốn câu 'ki mi' của Lạng Sơn được ghi chép trong sách Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử lược. Các châu ki mi do các tù trưởng người dân tộc thiểu số cai quản và có quan hệ lỏng lẻo với triều đình. Các tù trưởng ở các châu như Tô Mậu, Tây Bình đều thuộc họ Vy, trong khi họ Nùng chủ yếu cư trú ở các châu Thất Nguyên, Quảng Nguyên, Tư Lãng,...
Cuối thế kỷ 15, Đại Việt bị quân Minh xâm lược.
Vào tháng 4 năm 1407, Minh Thành Tổ đã ra chiếu lệnh đổi tên vùng đất thành quận Giao Chỉ. Đến tháng 6 cùng năm, 15 phủ được thành lập, trong đó phủ Lạng Sơn bao gồm 7 châu và 16 huyện. Châu Thất Nguyên lúc đó bao gồm 6 huyện: Thoát, Dung, Pha, Thủy, Lãng, Bình, và Cẩm.
Tháng 8 năm 1415 (năm Vĩnh Lạc thứ 13), các huyện Cẩm và Uyên được sáp nhập, huyện Tân Yên được gộp vào huyện Đơn Ba, huyện Như Ngao được nhập vào huyện Khâu Ôn, và huyện Bôi Lan thuộc châu Thượng Văn được hợp nhất với Bản Châu.
Năm 1419 (Vĩnh Lạc thứ 17), huyện Thoát được sáp nhập vào huyện Uyên, châu Hạ Văn vào châu Thượng Văn, và châu Hạ Tư Lãng vào châu Thượng Tư Lãng. Phủ Lạng Sơn còn lại 6 châu và 11 huyện.
Đến thời nhà Lê, theo sách Việt sử thông giám cương mục, vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đã thiết lập Thừa tuyên Lạng Sơn, bao gồm 1 phủ và 7 châu, với châu Thất Tuyền có 34 xã (theo bản đồ Hồng Đức).
Theo Đào Duy Anh trong tác phẩm Đất nước Việt Nam qua các đời, thừa tuyên Lạng Sơn bao gồm 1 phủ và 6 châu, trong đó châu Thất Tuyền (trước đây là châu Thất Nguyên, được đổi tên thành Thất Tuyền dưới triều đại nhà Mạc vì lý do húy của Mạc Phúc Nguyên).
Theo sách Tên làng xã Việt Nam (bao gồm các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra) soạn vào thời Nguyễn, Xứ Lạng Sơn bao gồm 1 phủ, 7 châu, 44 tổng, 206 xã, trang, phố, và chợ. Phủ Trường Khánh bao gồm các châu Ôn, Thoát Lãng, Văn Quan, Văn Uyên, Thất Tuyền, Lộc Bình, và Yên Bác. Châu Thất Tuyền có 7 tổng: Hoa Sơn, Kim Tông, Nam Sơn, Bình Quân, Khánh Nham, Nghĩa Điềm, Nghiêm Lật cùng các phố Khách: Cẩu Pung, Bùng Ỏi, Tân Khư, Long Thịnh, và Hoa Sơn. Các trại người Nùng phải nộp thuế bạc gồm: Tham Đa, Bản My, Bản Cam, Khuổi Mô, Đào Ngân, Nà Trà, Yến Càn, và Bằng Quân.
Vào năm 1831, trấn Lạng Sơn được nâng cấp thành tỉnh và chức Lạng Bình được đặt để quản lý cả hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, với châu Thất Tuyền thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Năm 1834, ba châu Yên Bác, Văn Quan và Thất Tuyền được đổi thành ba huyện với tên gọi tương ứng.
Năm 1836, 4 châu và huyện phía bắc phủ Tràng Khánh, bao gồm: châu Văn Uyên, châu Thoát Lãng, huyện Văn Quan, và huyện Thất Khê (khi đó Thất Tuyền đã được đổi tên thành Thất Khê) được tách ra để thành lập phủ Tràng Định.
Trước đây, phủ nha Tràng Định được đặt tại xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng.
Vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), phủ Tràng Định được di chuyển đến xã Đồng Đăng, thuộc châu Văn Uyên.
Sau đó, vào tháng 1 năm Tự Đức thứ 18 (1865), lỵ sở được chuyển về xã Lạc Dương, tổng Lạc Dương, huyện Thất Khê.
Thời vua Đồng Khánh, trong sách Đồng Khánh sắc chế ngự lãm có ghi chép về lỵ sở phủ Tràng Định: Được đặt ở phía tây bắc của tỉnh, thuộc xã Lạc Dương, tổng Lạc Dương, huyện Thất Khê. Lỵ sở được xây dựng trên nền đồn cũ Lạc Dương, bao quanh bằng tường đất dài 146 trượng, cao 5 thước, xung quanh trồng tre.
Khi thành lập phủ Tràng Định, Thất Khê vốn là huyện, nhưng vào năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) đã được chuyển thành châu với 7 tổng và 47 xã, phố. Sau đó, Thất Khê lại được chuyển về thành huyện.
Theo sách Đồng Khánh Sắc chế ngự lãm, phủ Tràng Định bao gồm: Phủ hạt kiêm lý huyện Thất Khê, quản lý huyện Văn Quan, châu Văn Uyên và châu Thoát Lãng, với 29 tổng và 153 xã, thôn, phố, quán. Trong đó có 125 xã người Tày, 18 xã người Nùng, và 10 phố người Minh.
Theo lệnh kiểm tra vào năm Tự Đức thứ 5 và thứ 20, phủ Tràng Định lúc đó có 175 xã, phố. Tuy nhiên, do sự tấn công của bọn cướp, nhiều khu vực bị tàn phá. Đến năm Tự Đức thứ 27, chỉ còn lại 153 xã, phố. Huyện Thất Khê bao gồm 8 tổng: Bằng Quân, Khánh Nham, Mỹ Điền, Lạc Dương, Nam Sơn, Đồng Phái, Tú Sơn, và Nghiêm Lật.
- Tổng Bằng Quân bao gồm 7 xã và 1 phố: phố Nghiêu Phong cùng các xã Bằng Quân, Vĩnh Ân, Bình Kiều, Gia Hội, La Sơn, Chỉ Nghĩa, Khảo Bàn.
- Tổng Mỹ Điền có 4 xã: Mỹ Điền, Mỹ Huống, Lâm Lang, Trung Bật.
- Tổng Khánh Nham gồm 5 xã: Khánh Nham, Vũ Lao, Bắc Bình, Cữu Dương, Đồng Luật.
- Tổng Lạc Dương có 4 xã: Lạc Dương, Phi Mỹ, Mông Xá, Hoằng Liệt.
- Tổng Nam Sơn bao gồm 4 xã: Nam Sơn, Mỹ Sơn, Vũ Lăng, Quan Oa.
- Tổng Đồng Phái gồm 6 xã: Đồng Phái, Bình Lâm, Bình Cư, Gia Lộc, Tài Lương, Na Miên.
- Tổng Tú Sơn có 4 xã: Tú Sơn, Quyền A, Vĩnh Điện, Chu Hắc.
- Tổng Nghiêm Lật bao gồm phố Long Thịnh và 5 xã: Nghiêm Lật, Mậu Đốt, An Khuyến, Vĩnh Lại, Nông Đồn.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tổng Bắc Khê (bao gồm hai xã Cao Môn và Bắc Khê) từ châu Thạch An, tỉnh Cao Bằng được sáp nhập vào châu Thất Khê, phủ Tràng Định.
Cơ cấu hành chính tỉnh Lạng Sơn bao gồm 2 phủ và 7 châu, huyện được duy trì cho đến đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, từ khi thành lập phủ Tràng Định, các đơn vị hành chính xã, phố đã nhiều lần thay đổi. Dưới đây là sự so sánh giữa các tổng, xã năm 1890 và năm 1999. Lưu ý rằng sự so sánh này chỉ mang tính tương đối do sự thay đổi về địa giới hành chính qua thời gian.
Tổng Bình Quân bao gồm 7 xã, nhưng không có tổng riêng.
- Bình Quân, còn gọi là Nà Kiện, hiện nay là xã Kim Đồng.
- Vĩnh Ẩn, hay còn gọi là Kéo Lậy, Gia Hội, trước đây được gọi là Nà Noọng, và La Sơn, trước gọi là Lùng Khẩu, hiện nay hợp thành xã Đề Thám.
- Khảo Bàn, trước là Nà Pục, và Chỉ Nghĩa, trước là Bản Mạy, hiện thuộc xã Chi Lăng.
- Bình Kiều, trước gọi là Pò Hội, hiện thuộc xã Hùng Sơn.
Tổng Đồng Phái, hiện nay là xã Đại Đồng, bao gồm 6 xã:
- Đồng Phái, còn gọi là Khôn Kính.
- Gia Phát, trước đây được gọi là Nà Bộc.
- Bình Lâm, trước là Bản Pò.
- Tài Lương, hay còn gọi là Nà Tại.
- Nà Niên, trước là Nà Sảng.
Tổng Lạc Dương gồm 2 xã:
- Lạc Dương, trước gọi là Bản Trang, hiện thuộc xã Chi Lăng.
- Phi Mỹ, trước là Nà Phi, hiện thuộc xã Tri Phương.
Tổng Tú Sơn, hiện là một phần của xã Hùng Sơn, bao gồm 4 xã:
- Tú Sơn, còn gọi là Nà Chúa.
- Vĩnh Điện, trước đây gọi là Bản Nhạn.
- Quyên A, trước là Bản A.
- Chu Hách, trước là Thâm Luông.
Tổng Nghiêm Lật bao gồm 5 xã:
- Nghiêm Lật, trước gọi là Pò Tất; Nông Đôn, trước là Bản Nùng; An Khuyến, trước là Hàng Doỏng; Vĩnh Lại, trước là Bó Châm, hiện là xã Quốc Khánh.
- Mậu Đốt, trước là Bản Giống, hiện thuộc xã Tri Phương.
Tổng Nam Sơn gồm 6 xã:
- Nam Sơn, trước gọi là Bản Nằm; Mỹ Sơn, trước là Bản Trại; Quan Huề, trước là Bản Dung; Đồng Gia, trước là Nà Trà, hiện là xã Kháng Chiến.
- Vũ Lăng, trước gọi là Bản Dồn, và Mỹ Thủy, trước là Bản Trang, hiện thuộc xã Đội Cấn.
Tổng Mỹ Điền bao gồm 5 xã:
- Mỹ Điền, trước gọi là Bản Thệ, hiện thuộc xã Đào Viên.
- Cụ Khánh, trước là Bản Cụ, hiện thuộc xã Tân Minh.
- Trung Bật, trước là Bản Bàng, hiện là xã Quốc Việt.
- Lâm Lang, trước là Bản Giốc, hiện là xã Trung Thành.
- Mỹ Khảm, trước là Bản Khánh, hiện thuộc cả xã Tân Minh và xã Đào Viên.
Tổng Khánh Nham bao gồm 4 xã:
- Xã Khánh Nham, trước gọi là Phủ Lan; Xã Vũ Lao, trước là Bản Sào; Bắc Bình, trước là Nà Vũ; Cửu Dương, trước là Bằng Cường, hiện thuộc xã Quốc Việt.
Kể từ năm 1885, thực dân Pháp thành lập Hội đồng hàng tỉnh với các thành viên là các quan đứng đầu các phủ châu nhưng không thực quyền. Đứng đầu tỉnh là Tuần phủ Lạng Bằng, đồng thời kiêm nhiệm Lạng Sơn và Cao Bằng. Mỗi phủ, châu, huyện có các chức tri phủ, tri châu, tri huyện. Mỗi tổng có chánh tổng và phó tổng. Mỗi xã có lý trưởng và phó lý.
Vào năm 1885, nha phủ Tràng Định có 35 quan chức trong tổng số 827 người trên toàn tỉnh, bao gồm: 1 quyền nhiếp phủ, 1 bang lý phủ vụ, 1 lại mục, 2 thông lại và 30 lệ đinh.
Theo bài Tiểu dẫn về tỉnh Lạng Sơn của trung tâm lưu trữ quốc gia I: Năm 1902, Đạo quan binh Thất Khê được thành lập, đồng thời đạo quan binh Vạn Linh bị bãi bỏ. Dù có sự thay đổi, châu Thất Khê vẫn duy trì với một viên tri châu dưới quyền quan đạo, ban đầu đặt ở khu Cao Phong và sau một năm được cố định ở phủ hiện tại. Đạo quan binh Thất Khê bao gồm các châu Thất Khê, Bình Gia, Bắc Sơn, cùng Thạch An, Phục Hòa (Cao Bằng). Đến năm 1906, đạo này bị bãi bỏ và thay thế bằng đại lý sở nhà binh gồm các châu Thất Khê, Thoát Lãng, Bình Gia.
Vào tháng 4 năm 1907, các phủ bị bãi bỏ, chỉ còn lại 9 châu, nhưng vào cuối năm, hai phủ Tràng Khánh và Tràng Định lại được tái lập.
Năm 1913, phủ bị bãi bỏ một lần nữa, nhưng sau đó phủ Tràng Định được lập lại.
Từ tháng 8 năm 1939 đến tháng 8 năm 1945, tỉnh Lạng Sơn được chia thành 3 phủ và 7 châu, trong đó các phủ gồm: Tràng Định, Văn Uyên, Cao Lộc; và các châu gồm: Lộc Bình, Thoát Lãng, Bình Gia, Bằng Mạc, Bắc Sơn, Đồng Mỏ, Điềm He.
Có 5 đại lý sở nhà binh hoạt động tại 4 châu: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lộc Bình, cùng phố Bình Gia.
Vào ngày 23 tháng 9 năm 1925, quyền thống sứ Bắc Bộ, Y – Krautheinh, đã ký các nghị định số 30431 và 3043I bis, thành lập thị xã Lạng Sơn và thị xã Thất Khê. Thị xã Thất Khê bao gồm các phố: Bản Chang, Cốc Cưởm, Hang Đông, Nà Nghiều, Cao Phong và Đoỏng Moóc. Tuy nhiên, do không đủ điều kiện phát triển, thị xã Thất Khê sau đó được sáp nhập trở lại huyện Tràng Định.
Sau năm 1975, huyện Tràng Định thuộc tỉnh Cao Lạng, bao gồm thị trấn Thất Khê và 22 xã: Bắc Ái, Cao Minh, Chi Lăng, Chí Minh, Đại Đồng, Đào Viên, Đề Thám, Đoàn Kết, Đội Cấn, Hùng Sơn, Hùng Việt, Kháng Chiến, Khánh Long, Kim Đồng, Quốc Khánh, Quốc Việt, Tân Minh, Tân Tiến, Tân Yên, Tri Phương, Trung Thành, Vĩnh Tiến. Đến ngày 29 tháng 12 năm 1978, huyện Tràng Định được tái lập thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 2020, xã Bắc Ái được giải thể. Các thôn: Pò Có, Khuổi Vai, Cốc Slầy, Pò Muổng từ xã Bắc Ái được sáp nhập vào xã Đề Thám, và các thôn: Hang Dường, Kéo Sách, Pò Đoỏng, Khau Luông, Khuổi Chiếp, Khuổi Âu từ xã Bắc Ái được sáp nhập vào xã Kim Đồng.
Huyện Tràng Định hiện có 1 thị trấn và 21 xã.
Quản lý hành chính
Huyện Tràng Định bao gồm 22 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có thị trấn Thất Khê (trung tâm huyện) và 21 xã: Cao Minh, Chi Lăng, Chí Minh, Đại Đồng, Đào Viên, Đề Thám, Đoàn Kết, Đội Cấn, Hùng Sơn, Hùng Việt, Kháng Chiến, Khánh Long, Kim Đồng, Quốc Khánh, Quốc Việt, Tân Minh, Tân Tiến, Tân Yên, Tri Phương, Trung Thành, Vĩnh Tiến.
Đặc sản địa phương
- Sương sáo đen
- Vịt quay mác mật
- Mận Thất Khê, lê, quýt Kim Đồng.
Ghi chú
Đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Lạng Sơn |
|---|
Xã, thị trấn thuộc huyện Tràng Định |
|---|
