Danh hiệu Trạng nguyên hai quốc gia là tên gọi dành cho một số trạng nguyên Việt Nam. Mặc dù không chính thức đỗ trạng nguyên ở một quốc gia khác, nhưng học vấn của họ được công nhận tương đương trạng nguyên ở Trung Quốc. Trong số 49 trạng nguyên Việt Nam, bốn người được phong là 'Trạng nguyên hai quốc gia', bao gồm:
- Mạc Đĩnh Chi thời vua Trần Anh Tông
- Nguyễn Trực thời vua Lê Thái Tông
- Nguyễn Đăng Đạo thời vua Lê Hy Tông
- Nguyễn Nghiêu Tư thời vua Lê Nhân Tông
Mạc Đĩnh Chi
Mạc Đĩnh Chi đỗ trạng nguyên năm 1304 dưới triều vua Trần Anh Tông. Năm 1308, khi đi sứ sang Trung Quốc, ông đã thể hiện học vấn uyên bác và trí tuệ xuất sắc. Trong một lần gặp gỡ, sứ giả dâng vua Nguyên một chiếc quạt quý, và vua yêu cầu các sứ thần làm thơ tán dương quạt. Mạc Đĩnh Chi nhanh chóng làm một bài thơ xuất sắc, được hoàng đế Nguyên Vũ Tông khen ngợi và trao tặng danh hiệu 'Trạng nguyên hai quốc gia'. Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng về việc này, và tài liệu Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi nhận sự kiện đi sứ và làm thơ nhưng không có thông tin về danh hiệu.
Nguyễn Trực
Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên vào năm 1442 dưới triều vua Lê Thái Tông. Theo một số tài liệu, ông đã từng sang Trung Quốc đi sứ và tham gia kỳ thi Đình. Sau kỳ thi, ông được phong danh hiệu Lưỡng quốc Trạng nguyên. Tuy nhiên, thông tin này không được nhắc đến trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Nguyễn Đăng Đạo
Nguyễn Đăng Đạo đỗ trạng nguyên năm 1683 dưới triều vua Lê Hy Tông. Từ đầu năm 1697 đến giữa năm 1698, ông đi sứ Trung Quốc. Tài năng văn học của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ với triều đình nhà Thanh và các sứ thần. Vua Thanh đã phong ông là Trạng nguyên của Bắc triều, cấp mũ áo và võng lọng để ông vinh quy bái tổ. Nguyễn Đăng Đạo qua đời năm 1719, được phong tước Thọ Quận công và sau khi qua đời, vua Lê Dụ Tông tặng ông danh hiệu 'Lưỡng quốc trạng nguyên' và sắc phong làm thành hoàng làng Liên Bão.
Những nhân vật khác
Ngoài ra, Phùng Khắc Khoan đỗ hoàng giáp vào năm 1580 dưới triều vua Lê Thế Tông. Khi đi sứ Trung Quốc, vua Minh đã đặc cách phong ông danh hiệu Trạng nguyên.
Triệu Thái, quê ở xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, đã sang Trung Quốc thi và đỗ tiến sĩ dưới triều vua Vĩnh Lạc. Sau khi Đại Việt giành độc lập năm 1428, ông trở về nước và đỗ đầu trong kỳ thi Minh Kinh năm 1429 dưới triều Lê Thái Tổ.
Tống Trân
Theo truyền thuyết, vào thời tiền Lý, tại xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ), có một gia đình họ Tống tên Thiện Công, dòng dõi thi thư. Dù nghèo khó nhưng rất đức độ, ông sinh được một con trai khôi ngô, đặt tên là Tống Trân.
Khi lên 5 tuổi, Tống Trân học rất giỏi và thành thạo thiên văn địa lý. Năm 7 tuổi, ông thi đỗ thủ khoa và ba năm sau trở thành Trạng nguyên. Vua khen ông là 'quốc sĩ tướng tài không ai sánh bằng'. Sau khi trở về, Tống Trân kết hôn với Cúc Hoa ở xã Phù Anh. Được ba tháng, vua sai ông đi sứ Trung Quốc. Vua Trung Quốc, muốn thử tài, đã giam ông vào chùa Linh Long với chỉ tượng Phật và nước lã. Tống Trân bẻ tay tượng để tìm thức ăn và bốn tháng sau, khi cửa chùa mở, vua thấy Tống Trân vẫn sống khỏe mạnh, còn tượng Phật thì không còn. Vua Tàu rất phục tài, phong ông là 'Phụ quốc, thượng tể đẩu Nam Tống đại vương' và sau nhiều lần thử tài, ông được phong là 'Lưỡng quốc trạng nguyên'.
Sau mười năm đi sứ, khi Tống Trân trở về, Cúc Hoa đã bị ép lấy chồng khác. Tống Trân giả dạng để tìm hiểu tình hình và biết rằng vợ vẫn trung thành với mình. Anh đưa Cúc Hoa về, và hai người đoàn tụ. Nhà vua cảm động và phong Cúc Hoa thành Quận phu nhân. Tống Trân tiếp tục làm quan đến ngoài 60 tuổi, sau đó xin về quê mở trường dạy học và qua đời sau 5 năm. Vua phong sắc 'Thượng đẳng phúc thần', và sau đó gia phong 'Thượng đẳng tối linh phụ quốc thượng tể đẩu Nam song toán Tống đại vương', đồng thời yêu cầu dân làng lập đền thờ. Hiện tại, làng An Cầu vẫn còn đền thờ Tống Trân. Truyện Tống Trân- Cúc Hoa, một tác phẩm thơ Nôm nổi tiếng, đã được viết để ca ngợi tài đức, tình yêu và lòng chung thủy của họ. Câu đối về Tống Trân được dịch nghĩa như sau:
Tám tuổi đã đỗ Trạng Nam, tài năng nổi bật, được xem là vàng của đất Việt
'Mười năm làm sứ giả phương Bắc, mang theo vận mệnh để dõi theo thế hệ sau'
Hiện tại, tại Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên) vẫn còn tấm bia ghi tên Tống Trân, được lập vào cuối triều Nguyễn.
Truyền thuyết có đôi chút khác biệt so với truyện Nôm Tống Trân- Cúc Hoa.
Lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2016 tại Wayback Machine - Tống Trân, trạng nguyên của hai quốc gia
- Danh hiệu Khoa bảng
- Trạng nguyên của Việt Nam
