
Tranh truyền thống Làng Sình là một loại tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam, xuất phát từ thôn Lại Ân, xã Phú Mậu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía Đông. Đây là loại tranh mộc bản thường dùng trong các nghi lễ cúng bái tại cố đô Huế. Tranh Làng Sình khác biệt với tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) và tranh Hàng Trống (Hà Nội) vì mục đích duy nhất là phục vụ thờ cúng và thường bị đốt sau khi cúng xong. Hiện nay, những bản khắc gỗ quý giá còn sót lại chỉ còn được bảo quản tại nhà ông Kỳ Hữu Phước, một nghệ nhân nổi tiếng của làng.
Làng Sình bên sông Hương
Làng Sình là một ngôi làng cổ nằm bên dòng sông Hương, được hình thành vào khoảng thế kỷ 15. Đối diện với Làng Sình bên kia sông là Thanh Hà, một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Đàng Trong, còn được biết đến với tên gọi Phố Lở. Sau này, khu vực này còn được gọi là phố Bao Vinh, một trung tâm buôn bán nhộn nhịp gần thành phố Huế. Làng Sình cũng là một trung tâm văn hóa quan trọng của vùng cố đô, nổi bật với chùa Sùng Hoá, một trong những chùa lớn nhất của vùng Hóa Châu xưa.
Nghề chế tác tranh tại làng đã có khoảng 400 năm lịch sử tính đến nay (2019), chủ yếu phục vụ các nghi lễ thờ cúng của cư dân địa phương. Hiện nay, tranh làng Sình đang dần mất đi các yếu tố truyền thống. Các bản khắc cũ còn rất hiếm, trong khi các bản khắc mới đã có sự thay đổi nhiều so với nguyên bản và chất liệu sơn công nghiệp đã thay thế cho các màu sắc truyền thống.
Quy trình in ấn và vẽ tranh

Tranh làng Sình có nhiều kích thước khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ giấy dó. Giấy dó truyền thống có kích thước 25x70cm, thường được cắt thành các cỡ nhỏ hơn như pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hoặc pha tư (25x17). Đối với tranh khổ lớn, bản khắc được đặt úp xuống đất, dùng một chiếc phết từ vỏ dừa khô để quét màu đen lên ván in. Sau đó, giấy được đặt lên và dùng xơ mướp xoa đều để màu thấm vào giấy trước khi bóc ra. Đối với tranh khổ nhỏ, giấy được đặt từng tập dưới và ván in dập lên. Bản in màu đen phải để khô trước khi tô màu.
Bản khắc tranh được làm từ gỗ mít.
Nguyên liệu và phương pháp tạo màu
Giấy để in tranh là giấy mộc quét điệp. Các màu sắc truyền thống được chiết xuất từ các nguyên liệu tự nhiên như thực vật, kim loại, hoặc sò điệp...
Bút vẽ được chế tác từ cây dứa mọc hoang ở đồng ruộng.
Các màu sắc thường thấy trong tranh bao gồm màu đỏ (chiết xuất từ lá bàng), màu đen (từ tro rơm hoặc tro lá cây), màu tím (từ hạt cây mồng tơi), và màu vàng (từ lá đung giã cùng búp hoa hòe)... Các màu chính trên tranh làng Sình gồm xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen và lục. Các màu này có thể được trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng cần trộn thêm keo nấu từ da trâu tươi.
Về sau, do nhiều lý do, màu sắc trên tranh bắt đầu được tạo từ phẩm hóa học.
Chủ đề và nội dung của tranh
Tranh làng Sình chủ yếu phục vụ mục đích tín ngưỡng với khoảng 50 chủ đề khác nhau. Những chủ đề này chủ yếu phản ánh các tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các chủ đề về tín ngưỡng và thờ cúng, còn có các tranh về Tố Nữ và cảnh sinh hoạt xã hội...
Tranh tín ngưỡng có thể được phân loại thành ba nhóm chính:
- Tranh nhân vật, chủ yếu là hình ảnh các bà, thường là một người phụ nữ trong trang phục rực rỡ, được hai nữ tì nhỏ đứng hầu hai bên. Các tượng bà này được chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa và tượng ngang. Loại tranh này thường được dán trên bàn thờ và thờ quanh năm. Tranh con ảnh, bao gồm hai loại: ảnh xiêm với hình đàn ông và đàn bà; ảnh phền với hình bé trai và bé gái.
Các nhân vật khác bao gồm tranh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp (có thể là tranh vẽ Táo quân).
- Tranh đồ vật thể hiện các loại áo, tiền và dụng cụ để cúng cho người cõi âm, bao gồm áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình, thường được vẽ ở kích thước nhỏ.
- Tranh súc vật (gia súc, voi, cọp và các con trong 12 con giáp) dùng để đốt cho người đã khuất.
Tất cả các loại tranh này sẽ được đốt sau khi hoàn tất lễ cúng.
Liên kết tham khảo
- Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam về tranh làng Sình
- Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam Nghề làm tranh dân gian làng Sình đang đứng trước nguy cơ bị mai một
