Vào tháng 4 năm 1989, bi kịch của chiếc tàu ngầm Komsomolets đã khuất phục dưới vực sâu của biển Na Uy, khiến cho 42 người lính hy sinh. Hơn 32 năm trôi qua, hồi kết vẫn chưa đến khi con tàu vẫn lan tràn phóng xạ, và quyết định cuối cùng của các nhà khoa học là để nó nằm mãi dưới đáy biển.Chiếc tàu ngầm hiện đại nhất đã chìm xuống đáy biển sâu hơn 1 dặm
K-278 Komsomolets là chiếc tàu ngầm độc đáo của Liên Xô, được xây dựng theo dự án 685 Plavnik hay lớp Mike theo tên gọi NATO. Nó có khả năng lặn sâu đến hơn 1 cây số và được trang bị công nghệ hiện đại.
Dự án 685 được thiết kế bởi phòng thiết kế Rubin Design với mục tiêu tạo ra một chiếc tàu ngầm tối tân mang theo 6 ngư lôi và tên lửa đầu đạn thường hoặc hạt nhân. Giai đoạn thiết kế kéo dài từ năm 1966 đến 1974.
K-278 có vỏ kép và lớp vỏ bên trong được làm từ titanium, giúp tàu có thể chịu áp suất cao và lặn sâu hơn các tàu ngầm khác. Bên trong, có 7 khoang được gia cố, đảm bảo an toàn cho thủy thủ đoàn trong mọi tình huống khẩn cấp.
K-278 Komsomolets tham gia vào đội sư đoàn thứ 6, Hạm đội Bắc Cực của Hải quân Liên Xô vào tháng 1 năm 1984 và từ đó con tàu bắt đầu tiến hành một loạt các thử nghiệm lặn sâu. Dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Yuri Zelensky, tàu K-278 đã thiết lập kỷ lục lặn sâu với độ sâu lên đến 1020 m tại biển Na Uy - một kỷ lục thực sự đáng kinh ngạc so với các tàu ngầm của Mỹ. Ví dụ, USS Los Angeles chỉ có khả năng lặn sâu tối đa ở mức 450 m. Hơn nữa, độ sâu giới hạn (độ sâu giới hạn của cấu trúc tàu) của K-278 là 1371 m.Hải quân Liên Xô coi K-278 là con tàu không thể xâm nhập ở độ sâu hơn 1000 m bởi ở độ sâu như vậy, con tàu gần như biến mất trong lòng biển, âm thanh của nó cũng rất khó phát hiện và ngư lôi của địch cũng khó tới gần. Ví dụ, loại ngư lôi Mark 48 của Mỹ chỉ có thể hoạt động ở độ sâu tối đa 800 m.Thiết kế hiện đại của tàu ngầm dự án 685 của Liên Xô bao gồm nhiều hệ thống tự động giúp giảm số lượng nhân viên cần thiết trên tàu. Theo đề xuất của Bộ Quốc phòng Liên Xô năm 1982, thủy thủ đoàn chỉ cần 57 người, sau đó tăng lên 64 người, trong đó có 30 sĩ quan, 22 trung úy, 12 hạ sĩ và thủy thủ.Khi tàu K-278 Komsomolets gặp sự cố
Vào ngày 7 tháng 4 năm 1989, tàu K-278 Komsomolets đã trải qua một bi kịch khủng khiếp
Cuốn sách Cold War Submarines: The Design and Construction of U.S. and Soviet Submarines đã tường thuật cảnh tượng kinh hoàng trên tàu Komsomolets
Vào lúc 11:37 giờ địa phương, thuyền trưởng Vanin đã gửi tín hiệu cấp cứu và Hải quân Liên Xô đã nhận được, nhưng thông điệp trả về không rõ ràng, khiến họ không biết tình hình nguy hiểm của tàu. Đến 11:54, thuyền trưởng Vanin quyết định phát tín hiệu SOS, bỏ qua các quy định mã hóa của Liên Xô, kêu gọi sự giúp đỡ: “Trong khu vực biển gần đảo Bear, một con tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô đang cháy. Tàu đang nổi trên mặt nước, thủy thủ đoàn đang đấu tranh cho sự sống.”
Chiếc Il-38 lăn ra từ đường băng lúc 12:43 và đến 14:40, phi công trên chiếc Il-38 đã nhìn thấy thủy thủ trên biển nhưng họ không có bộ đồ chống nước. Có thể họ nghĩ rằng sẽ được giải cứu nhanh chóng, nhưng nhiệt độ nước ở biển Na Uy gần đóng băng (~ 2 độ C) và nếu ngâm mình trong nước lạnh như vậy trong 15 phút, họ sẽ bất tỉnh. Trong khi đó, tàu K-278 Komsomolets đang nằm im trên mặt biển, khói đen bốc lên từ đuôi. Chiếc Ilyushin Il-38 đã thả xuống các chiếc bè cứu hộ nhưng chỉ một số ít thủy thủ đã lên được bè, và không đủ bè cho tất cả. Nhiều thủy thủ bị tê cóng vì ngâm mình trong nước lạnh và không thể bám vào bè.
Thuyền trưởng Vanin cùng 4 thủy thủ khác đã quay lại bên trong tàu Komsomolets để tìm kiếm những người khác - những người vẫn đang cố gắng cứu con tàu này một cách tuyệt vọng. Tuy nhiên, đám cháy dữ dội đã làm cho Vanin và nhóm cứu hộ không thể tiến sâu hơn, và con tàu đã chìm.
Vanin và nhóm cứu hộ phát hiện ra buồng thoát hiểm nhưng bị kẹt, không thể ra ngoài. Khi con tàu chìm xuống độ sâu gần 400 m, áp suất khiến buồng thoát hiểm bị xé toạc và nhả ra. Khi buồng thoát hiểm lên gần mặt nước, chênh lệch áp suất thổi bay nắp buồng thoát hiểm, 2 người bị đẩy ra ngoài, nước tràn vào nhanh chóng. Cuối cùng chỉ có 1 người sống sót, thuyền trưởng Vanin và những người còn lại chìm cùng con tàu Komsomolets.17:08, sau nhiều giờ nổi trên biển, tàu K-278 Komsomolets chìm xuống độ sâu 1680 m ở góc 80 độ. Những thủy thủ trên mặt nước được giải cứu nhưng không phải tất cả sống sót. 81 phút sau khi K-278 Komsomolets chìm, 2 con tàu mặt Aleksey Khlobystov và Oma đến cứu nhưng chỉ cứu được 27 người, 42 người chết, trong đó 9 người chìm cùng tàu ngầm, 30 người chết vì hạ thân nhiệt hoặc chấn thương và 3 người chết trên thuyền.Phóng xạ vẫn tiếp tục rò rỉ cho đến ngày hôm nay
Trong năm 1989, tàu ngầm K-278 Komsomolets bị chìm với lò phản ứng hạt nhân cùng 22 quả ngư lôi Type 53 và tên lửa chống ngầm SS-N-15 Starfish. Dưới áp lực từ Na Uy, Liên Xô đã triển khai các tàu lặn sâu, điều hành từ tàu nghiên cứu đại dương Keldysh để tìm kiếm tàu ngầm K-278. Vào tháng 6 năm 1989, xác tàu đã được phát hiện và các quan chức Liên Xô tuyên bố rằng rò rỉ phóng xạ không đáng kể và không ảnh hưởng đến môi trường.
Năm 1992, cuộc thám hiểm thứ hai được tiến hành với sự tham gia của một nhóm các nhà khoa học, trong đó có các chuyên gia từ Na Uy thực hiện khảo sát mẫu nước, trầm tích và sinh vật đáy biển mà không phát hiện ra rò rỉ phóng xạ nguy hiểm. Đến năm 1993, một cuộc khảo sát khác của Nga với sự tham gia của các chuyên gia từ Hà Lan, Na Uy và Mỹ phát hiện ra phóng xạ Cesium-137 và họ cũng phát hiện một lỗ lớn ở khoang chứa ngư lôi. Từ năm 1989 đến năm 1998, đã có tổng cộng 7 cuộc thăm dò để bảo quản lò phản ứng và niêm phong các ngư lôi để ngăn chặn rò rỉ phóng xạ.Tengiz Borisov - người đứng đầu Ủy ban đặc biệt của Nga về các nhiệm vụ dưới nước từng nói với các phóng viên rằng: 'Nếu có rò rỉ, hoạt động đánh bắt cá sẽ không thể xảy ra tại biển Na Uy trong khoảng từ 600 đến 700 năm.'
Hilde Elise Heldal - một nhà khoa học biển đến từ Viện nghiên cứu biển, đã tham gia các cuộc thám hiểm đến xác tàu Komosolets và công bố: 'Các cuộc thám hiểm trước đó của Nga, từ những năm 1990 và cuối cùng là vào năm 2007, đã phát hiện ra sự rò rỉ phóng xạ từ một ống thông hơi trên tàu.' Sau khi thu thập 5 mẫu từ ống này, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều mức độ ô nhiễm phóng xạ khác nhau. Một mẫu không thể phát hiện mức ô nhiễm cao hơn bình thường, một mẫu có nồng độ cao hơn 30 ngàn lần so với bình thường, 2 mẫu có nồng độ ô nhiễm cao hơn 100 ngàn lần và một trong số đó có nồng độ gần 1 triệu lần.Heldal cho biết rằng phóng xạ từ Komsomolets đã rò rỉ trong thời gian dài!
Năm 2019, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã có thể tiếp cận gần và đo trực tiếp nồng độ phóng xạ tại tàu Komsomolets bằng một tàu lặn không người lái là Aegir 6000. Họ đã quay video, chụp ảnh và thu thập các mẫu từ tàu. Máy đo phóng xạ trên Aegir 6000 đã xác nhận sự rò rỉ phóng xạ từ ống thông hơi của con tàu đắm với nồng độ cao từ hàng trăm ngàn đến gần một triệu lần so với nước biển không bị ô nhiễm. Mặc dù vậy, Heldal vẫn lạc quan khi nói 'kết quả có thể đáng sợ' nhưng vẫn chưa đáng lo ngại bởi phóng xạ rò rỉ sẽ nhanh chóng bị pha loãng và bằng chứng là ở khu vực chỉ cách ống thông hơi một nửa mét, máy đo không phát hiện ra phóng xạ.Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã mô phỏng tình huống xảy ra khi phóng xạ Cesium rò rỉ từ tàu Komsomolets vào môi trường biển. Kết quả cho thấy rằng nguy cơ cho động vật biển như cá ở khu vực biển Barents là rất thấp do vị trí sâu nước. Đề xuất tốt nhất là giữ tàu yên nguyên tại đáy biển để tránh nguy cơ phóng xạ tràn ra mặt nước.'Từ việc giám sát ô nhiễm phóng xạ, chúng tôi kết luận rằng việc ăn cá hoặc hải sản tại khu vực này vẫn an toàn,' Heldal khẳng định.