
| Quan Âm Thị Kính | |
|---|---|
| 觀音新傳 | |
Tượng Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn tại Ninh Phúc tự, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh chụp được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7, tập hai nhằm minh diễn trích đoạn Oan bà Thị Kính. | |
| Thông tin sách | |
| Tác giả | Nhiều tác giả |
| Quốc gia | An Nam |
| Ngôn ngữ | Hán Nôm |
| Thể loại | Luân lý |
| Ngày phát hành | Hậu kỳ trung đại |
| Bản tiếng Việt | |
| Người dịch | Dương Quảng Hàm |
Quan Âm Thị Kính là tên phổ biến của một sử thi Hán Nôm ba hồi từ thời kỳ hậu trung đại, có ảnh hưởng đáng kể đến nghệ thuật sân khấu Việt Nam hiện đại. Đây cũng là tác phẩm có số lượng bản sao và chuyển thể chỉ đứng sau Truyện Kiều.
Hành trình lịch sử
Tác giả
Trước đây, Quan Âm Thị Kính được coi là tác phẩm của tác giả 'khuyết danh', nhưng hiện tại có hai giả thuyết về tác giả.
- Nghiên cứu của Hoa Bằng chỉ ra rằng tác giả của Quan Âm Thị Kính có thể là Nguyễn Cấp (? - ?), một nhà văn sống vào nửa đầu thế kỷ 19, quê ở thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương, nay thuộc Hà Nội. Sau khi đỗ Giải nguyên năm Quý Dậu (1813), ông được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ, cuối cùng là Tri phủ Thiên Trường (1829). Sau một vụ kiện liên quan đến vợ, ông bị bắt nhưng trốn thoát và được Nguyễn Công Trứ che chở, sau đó ẩn cư tại Lạng Giang. Tác phẩm Quan Âm Thị Kính do ông sáng tác vào cuối đời, phản ánh tâm trạng u sầu của ông. Thêm vào đó, gia phả tại chùa Bổ Đà cho biết sư cụ Nguyễn Đình Cấp đã dựa vào cảnh chùa Bổ Đà để mô tả ngôi chùa trong câu chuyện.
- Theo gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh do Dương Xuân Thự cung cấp, thì tác phẩm Quan Âm Thị Kính là của Đỗ Trọng Dư (1786 - 1868). Ông đến chức Tri phủ Quốc Oai sau khi đỗ Hương cống năm 1819, nhưng bị bãi chức vì một vụ kiện về thu chi không hợp lệ và phải về dạy học. Đỗ Trọng Dư đã viết Quan Âm Thị Kính để phản ánh nỗi lòng của mình. Năm 1876, con ông là Đỗ Trọng Vĩ đã sao chép lại, và đến năm 1948, bản in chữ Quốc ngữ của tác phẩm được xuất bản, với tên tác giả là Đỗ Trọng Dư.
Về vấn đề tác giả, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng:
- Chưa xác định được giả thuyết nào chính xác hơn. Có thể cả Nguyễn Cấp và Đỗ Trọng Dư đều có liên quan đến việc tạo ra tác phẩm Quan Âm Thị Kính. Tuy nhiên, có khả năng Đỗ Trọng Dư là người soạn sau, vì bản in sớm nhất của truyện thơ này được biết đến là vào năm Tự Đức 21 (1868).
Tác phẩm
Theo bản in duy nhất được giới thiệu bởi giáo sư Dương Quảng Hàm và xuất bản năm 1961 bởi Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, truyện thơ này bao gồm 786 câu lục bát.
- Quan Âm chính văn tân truyện (觀音正文新傳): Phiên bản này chưa rõ năm xuất bản, nhưng được đánh giá là chất lượng tốt nhất, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Đại học Yale dưới dạng bản sao chép.
- Quan Âm chú giải tân truyện (觀音註觧新傳): Bản gốc do Thịnh Văn Đường xuất bản năm 1886, hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam dưới dạng bản chụp vi tính.
- Quan Âm tống tử bản hạnh (觀音送子本行): Bản này do Quán Văn Đường xuất bản năm 1894, hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Đại học Yale dưới dạng bản sao chép.
Tổng cộng có 9 ấn bản, một số cuốn bị mất trang.
Nội dung
Câu chuyện mô tả lòng từ bi và nhẫn nhục của bà Thị Kính, giải thích lý do vì sao bà trở thành Quan Âm.
- Hồi I: Thị Kính bị oan lần đầu và quyết định xuất gia (câu 1→370)
Ngày xưa có một vị sư sắp thành Phật nhưng vì lỡ có ý nghĩ tà vào nữ sắc nên không thành công. Đức Thích Ca thử lần cuối cùng, cho vị sư này đầu thai thành Thị Kính, con của ông Mãng nghèo khó và yếu ớt trong làng. Sau đó, Thị Kính được gả cho Thiện Sĩ, con trai của gia đình khá giả bên làng. Một hôm, khi Thiện Sĩ học bài khuya và ngủ thiếp đi, Thị Kính ngồi khâu áo và thấy cằm chồng mọc râu ngược, định dùng dao cắt đi. Thiện Sĩ tỉnh dậy hoảng hốt, nghi ngờ vợ hãm hại mình, liền kêu gọi mọi người. Ông Sùng và bà Sùng từ trong buồng ra, lập tức buộc tội Thị Kính sát hại chồng để kiếm người vợ khác. Thị Kính bị đánh đập và đuổi về nhà, phẫn uất quyết định giả trai vào chùa Vân tu hành và được đặt pháp danh Kính Tâm. Có một phiên bản khác kể rằng sau khi Thị Kính được gả cho Thiện Sĩ thì cha mẹ cô đều qua đời, và trước khi quyết định giả trai để nương nhờ cửa Phật, Thị Kính đã từng định treo cổ tự vẫn nhưng không thành.
- Phật tổ
- Thị Kính
- Thiện Sĩ
- Ông Mãng
- Ông Sùng
- Bà Sùng
- Hồi II: Thị Kính gặp oan lần hai và phải hoàn tục (câu 371→692)
Tại vùng đó có cô Thị Mầu, con của một gia đình giàu có, vốn có tính lẳng lơ. Một ngày, khi cô ta mang oản lên chùa, thấy tiểu Kính Tâm, Thị Mầu lập tức say mê. Dù cô ta đã nhiều lần tán tỉnh, sư vẫn không phản ứng. Thất vọng vì không thành công, Thị Mầu đã phạm tội với một tên nô lệ. Khi việc bị lộ ra, làng đã đưa cô ra đình để xử lý, và cô ta đã đổ lỗi cho tiểu Kính Tâm. Kính Tâm bị xử phạt và bị ép phải nhận nuôi đứa trẻ. Sư cụ, vì sợ tiếng xấu, đã đuổi Kính Tâm ra khỏi chùa.
- Tiểu Kính Tâm
- Thị Mầu
- Tên nô lệ
- Ông phú
- Bà đốp
- Xã trưởng
- Người điếc
- Thầy bói mù
- Người câm
- Sư cụ
- Hồi III: Thị Kính giải oan và được chuyển kiếp (câu 693→786)
Sau khi sinh được một đứa con trai, Thị Mầu đã vứt đứa bé trước cổng chùa. Tiểu Kính Tâm nhận nuôi đứa trẻ và hàng ngày đi xin sữa cho nó. Sau ba năm, khi đứa bé bắt đầu biết đi, Kính Tâm kiệt sức và qua đời. Trước khi chết, Kính Tâm kịp viết một bức thư cho cha mẹ. Khi đọc thư, gia đình mới biết rõ những oan ức của Kính Tâm và cầu xin nhà chùa tổ chức lễ cầu siêu. Khi tiến hành liệm xác, tăng ni mới phát hiện Kính Tâm là nữ. Đức Thích Ca nhận thấy Kính Tâm đã đạt được giác ngộ, nên cho thăng lên làm Quan Âm, thường được gọi là Quan Âm Thị Kính.
- Tiểu Kính Tâm
- Thị Mầu
- Ông Mãng
- Sư cụ
- Đức Phật
- Đứa trẻ
Ảnh hưởng
Ấn bản
Quan Âm Thị Kính được viết để phục vụ cho các màn biểu diễn sân khấu, nhưng do điều kiện xã hội Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc không thuận lợi cho các vở kịch quy mô lớn, các nhà hát chỉ chọn diễn vài đoạn hoặc chỉ là các màn đơn độc của nhân vật. Đến thập niên 1950, khi nghệ thuật sân khấu được chú trọng phát triển văn hóa quốc gia, các đoàn nghệ thuật tại Việt Nam Cộng hòa mới dựng lại nguyên vở, thêm nhạc và giai điệu hiện đại. Đặc biệt, vở chèo Oan bà Thị Kính của đoàn Phụng Minh đã được chính phủ ghi âm và phát cho các đại sứ quán để quảng bá văn hóa truyền thống. Tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thập niên 1960, nghệ sĩ Trùm Thịnh đã sắp xếp các tích trò và ca khúc phổ biến thành một vở chèo hoàn chỉnh Quan Âm Thị Kính. Sau đó, trường Ca kịch Dân tộc đưa vở này và vở Tấm Cám vào chương trình đào tạo, yêu cầu mọi sinh viên phải thành thạo trước khi tốt nghiệp.
Vào thập niên 1990, Nhà hát Kịch Việt Nam lần đầu tiên chuyển thể Quan Âm Thị Kính sang kịch thoại. Nội dung vẫn giữ cốt truyện truyền thống nhưng lược bỏ cái chết của tiểu Kính Tâm và thêm yếu tố từ tác phẩm Lan và Điệp. Trong phiên bản này, Thiện Sĩ hối hận và tìm kiếm vợ khắp nơi, gặp lại tiểu Kính Tâm nhưng không thuyết phục được. Thị Mầu tình cờ gặp Thiện Sĩ và xin cha cho chàng ở rể. Ngày cưới, sư cụ đưa đứa trẻ lớn khôn đến dự, Mầu nhận ra con mình và sự việc bị bại lộ, Thiện Sĩ hủy hôn và trở về nhà. Sau đó, tiểu Kính Tâm vì nuôi con mà mất, hóa Quan Âm. Thiện Sĩ đỗ tiến sĩ, được bổ tri huyện và xây chùa thờ Quan Âm Thị Kính.
Cũng trong thập niên 1990, Nhà hát Tuổi Trẻ đã dựng một vở kịch mới dựa trên các yếu tố nổi bật của Quan Âm Thị Kính, với bối cảnh sau Khởi nghĩa Yên Bái và trước Cách mạng Tháng Tám. Nhân vật ni cô là một chiến sĩ cách mạng cải trang, có mối tình với anh con nhà chài tên Bờ. Bờ đã cắt máu ăn thề với một nghĩa sĩ Yên Bái rồi bỏ nhà đi làm cách mạng, cứu ni cô khỏi cái chết oan. Đến thập niên 2000, đạo diễn Lê Hùng đã giao tác giả Lê Chí Trung viết vở Giải oan Thị Mầu, một kịch bản đầy yếu tố trào lộng, thể hiện mối quan hệ Thị Mầu - anh nô, tính cách của mẹ đốp, sự tham lam của phú ông và những hành động lố lăng của hào lý. Tiểu Kính Tâm chỉ xuất hiện phụ diễn để làm nổi bật nhân vật Thị Mầu. Tại Mỹ, tác phẩm được ông Phạm Quân Phan chuyển thể thành opera và được Hiệp hội Sáng tạo Nghệ thuật và Âm nhạc Việt Mỹ (VASCAM) bảo trợ, trình diễn tại Musco Center thuộc Đại học Chapman, quận Cam, Nam Cali vào tháng 3 năm 2018.
- Quan Âm (album nhạc năm 1930, hãng Asia)
- Quan Âm Thị Kính (phim năm 1956, kịch bản và đạo diễn Nguyễn Thành Châu, Mỹ-Vân điện-ảnh công-ti)
- Thị Kính (phim truyện thập niên 1980, Hãng phim truyện Việt Nam)
- Việc làng (tiểu phẩm thập niên 2000, đạo diễn Đỗ Thanh Hải, chương trình Gặp nhau cuối tuần, VTV3)
- Tiền ơi (phim hài Tết năm 2005, đạo diễn Phạm Đông Hồng, Trung tâm Nghe nhìn Thăng Long)
- Ăn vạ (phim hài Tết năm 2006, đạo diễn Phạm Đông Hồng, Trung tâm Nghe nhìn Thăng Long)
- Nỗi oan Thị Mầu (hài kịch năm 2006-2007, biên kịch Nguyễn Ngọc Ngạn, Paris By Night 85)
Nhận định
- GS. Nguyễn Huệ Chi:
- Nhân vật Thị Kính đã trở thành biểu tượng sắc nét cho số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, nơi tích tụ mọi nỗi bất công và oan nghiệt. Cuộc đời Thị Kính đã phản ánh rõ nét những mâu thuẫn và nghịch lý của xã hội phong kiến thời tác giả. Bút pháp của tác giả thật tinh tế, với những lời thơ vừa châm biếm vừa đầy cảm xúc, làm tăng sức sống của tác phẩm. Câu thành ngữ 'Oan như Thị Kính' đã chứng tỏ sức mạnh của câu chuyện trong tâm trí người Việt. Tuy nhiên, triết lý 'nhẫn nhục' cũng làm cho câu chuyện thiếu đi sự phản kháng cần thiết.
- GS. Thanh Lãng:
- Tư tưởng trong Quan Âm Thị Kính phản ánh quan điểm Phật giáo. Cuộc đời được ví như một biển khổ, và mỗi người như một con thuyền không bến, trôi nổi trong cơn mê. Đời của Thị Kính là một minh chứng sống động cho điều này. Trong cuộc sống đầy khổ đau, để thoát khỏi đau khổ, con người phải tìm đến con đường tu hành. Luân lý của câu chuyện có thể được tóm gọn bằng câu:
- Nhân sinh thành Phật dễ đâu,
- Tu thân, cứu khổ, rồi sau mới thành.
- Về mặt nghệ thuật, truyện rất cuốn hút và mạch lạc từ đầu đến cuối, với nhiều đoạn gây hồi hộp và thắc mắc. Tuy nhiên, ở một vài chỗ, có thể thấy sự cứng nhắc, như trong đoạn tả nỗi oan mưu giết chồng. Văn phong trong Quan Âm Thị Kính mang đậm chất tôn giáo, thanh thoát và trang nghiêm. Dù vậy, có những đoạn tả cảnh, tả tình rất tinh tế, cho thấy tài năng của tác giả. Tóm lại, văn phong ở đây không bay bướm nhưng không phải là tầm thường, xứng đáng được coi trọng.
- GS. Phạm Thế Ngũ:
- Câu chuyện Quan Âm Thị Kính chính là một lời nhắc nhở cho những ai chọn con đường thanh thản khi tìm đến Phật pháp. Để đạt được sự giác ngộ, người ta phải chịu đựng khổ hạnh và cả những oan ức bất công. Như Thị Kính, mặc dù gặp phải oan ức lớn, nàng không oán trách trời đất hay số phận, mà chỉ bằng lòng từ tâm để vượt qua mọi thử thách...
- Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa,
- Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.
- Câu chuyện còn thể hiện quan điểm 'tài sắc phong trần'. Thị Kính gặp phải oan ức và bị quấy rầy phần lớn vì nàng sở hữu tài sắc hơn người:
- Trời sinh tài sắc làm chi,
- Hoa thơm bướm cũng có khi bận lòng...
- Từ góc độ hình thức, một số tình tiết của truyện có vẻ bị gò bó, như sự hiểu lầm của Thiện Sĩ gây ra oan ức đầu tiên. Tuy nhiên, oan ức thứ hai với Thị Mầu được xây dựng tinh tế hơn. Văn phong của truyện thường mộc mạc, giản dị, chịu ảnh hưởng của văn Kiều.
- Tắt lửa lòng
- Truyện Kiều
Tài liệu
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển (phần 'Quan Âm Thị Kính'). Trung tâm học liệu phát hành. In lần thứ 9, Sài Gòn, 1968.
- Nguyễn Huệ Chi, mục 'Quan Âm tân truyện' trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển Trung, mục 'Truyện Quan Âm Thị Kính'), Quốc học tùng thư, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
- Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Quyển Hạ), mục 'Thị Kính'. Nhà xuất bản Hồn thiêng, Sài Gòn, 1967.
Tư liệu

Nghệ thuật Chèo đồng bằng sông Hồng | ||
|---|---|---|
| 7 vở chèo cổ kinh điển | Lưu Bình - Dương Lễ • Quan Âm Thị Kính • Trương Viên • Chu Mãi Thần • Kim Nham • Trinh Nguyên • Từ Thức | |
| Hệ thống làn điệu chèo | Đối đáp, trữ tình • Đường trường • Sắp • Hề • Ra trò • Vãn, thảm • Nói sử • Sa lệch • Nói, vỉa, ngâm vịnh • Bài ca lẻ | |
| Hệ thống vai diễn chính | Kép (chính, lệch, ngang) • Đào (chín, lệch, ngang) • Hề (áo dài, áo ngắn)• Mụ (ác, thiện, mối) • Lão (say, mốc, bộc, chài, tiều) | |
| Tứ chiếng chèo Đồng bằng sông Hồng |
| |
| Nhà hát chèo chuyên nghiệp | Nhà hát Chèo Việt Nam • Nhà hát Chèo Quân đội • Nhà hát Chèo Hà Nội • Nhà hát Chèo Ninh Bình • Nhà hát Chèo Thái Bình • Nhà hát Chèo Hải Dương • Nhà hát Chèo Hưng Yên • Nhà hát Chèo Bắc Giang • Đoàn Chèo Hải Phòng | |
| Đơn vị nghệ thuật có chèo | Nam Định • Hà Nam • Vĩnh Phúc • Quảng Ninh • Phú Thọ • Thanh Hóa • Yên Bái • Thái Nguyên • Tuyên Quang | |
| Thông tin khác | Nghệ sĩ chèo ở Việt Nam • Các làng chèo cổ • Danh sách các làn điệu chèo • Danh sách các vở chèo Việt Nam | |
Thể loại | ||
