1. Ví dụ văn mẫu số 1
2. Ví dụ văn mẫu số 2
3. Ví dụ văn mẫu số 3
Đề bài: Từ đoạn văn Nước Đại Việt, suy ngẫm về tình yêu nước
Suy ngẫm về tình yêu nước từ đoạn văn Nước Đại Việt
1. Suy ngẫm về lòng yêu nước từ đoạn văn Nước Đại Việt, mẫu số 1:
Lòng yêu nước luôn là chủ đề quan trọng trong văn học Việt Nam suốt hàng thế kỷ. Trong những thời kỳ đầu của văn học dân tộc, chủ đề này đã được khám phá và thể hiện sự tự hào của người Việt. Có thể kể đến các tác phẩm như 'Nam quốc sơn hà' của Lí Thường Kiệt (?), 'Phò giá về kinh' của Trần Quang Khải, 'Bạch Đằng giang phú' của Trương Hán Siêu,... Đồng thời, không thể không nhắc đến 'Đại cáo bình Ngô' của Nguyễn Trãi. Đoạn trích dưới đây từ bài cáo nổi tiếng này không chỉ thể hiện sâu sắc tình yêu nước của tác giả mà còn đề xuất nhiều ý nghĩa về lòng yêu nước:
'Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
....
Chứng có còn ghi'.
Trích đoạn 'Nước Đại Việt ta' từ 'Bình Ngô đại cáo' của Nguyễn Trãi. Bài cáo viết vào cuối năm 1427 - đầu năm 1428 sau chiến thắng của Lam Sơn nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Chiến thắng này xóa sạch nhà Hồ và chấm dứt sự đô hộ của Minh. Bình Ngô đại cáo tái hiện hơn hai mươi năm kháng chiến của Lam Sơn; nỗi đau của dân tộc và chiến thắng trước kẻ thù. Trong bài cáo, Nguyễn Trãi tuyên bố độc lập của đất nước và ca ngợi lòng nhân nghĩa.
Nếu 'Nam quốc sơn hà' của Lí Thường Kiệt là tuyên ngôn độc lập đầu tiên thì 'Bình Ngô đại cáo' của Nguyễn Trãi là tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc. 'Nước Đại Việt ta' là phần thể hiện rõ nhất nội dung của tuyên ngôn.
Suy ngẫm về tình yêu nước từ đoạn 'Nước Đại Việt ta'
Bài cáo bắt đầu bằng tuyên ngôn về nhân nghĩa:
'Việc nhân nghĩa ở việc bảo vệ dân yên bình
Quân đặt mục tiêu loại bỏ bạo lực trước hết'.
Tư tưởng nhân nghĩa thường được hiểu là hành động thiện nguyện giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, Nguyễn Trãi nhìn nhận một cách rộng lớn hơn. Ông cho rằng nhân nghĩa là yêu thương, bảo vệ dân làm cho họ sống an yên, sung túc. Ông nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất của quân đội là loại bỏ bạo lực, đảm bảo an ninh cho mọi người. Tư tưởng này thể hiện sự tận tâm với quốc gia và dân tộc.
Nguyễn Trãi có lòng yêu nước sâu sắc và tự hào về dân tộc. Trong 'Nam quốc sơn hà', đã đề cập đến độc lập lãnh thổ. Nguyễn Trãi điều chỉnh để hoàn thiện ý kiến bằng cách nói về quyền tự chủ độc lập của dân tộc:
'Nước Đại Việt từ lâu đã tự xưng là văn hiến
Đồng bằng núi sông, biên cương địa lý phân chia
Văn hóa Bắc Nam mang nét khác biệt
Từ triều đại Lý, Trần, nhân dân đã đấu tranh vì độc lập
Mặc dù phải đối mặt với sức mạnh của Hán, Dương, Tống, Nguyên
Nhưng người anh hùng mỗi thời đều tỏa sáng'
'Nền văn hiến của Nước Đại Việt đã tồn tại từ lâu. Đó là tập hợp các giá trị tinh thần như tín ngưỡng, tư tưởng, đạo đức... chỉ có một dân tộc có lịch sử dài, trí tuệ và phát triển bền vững mới có thể xây dựng được một văn hiến riêng biệt. Văn hiến là biểu tượng của sự văn minh. Không chỉ về văn hiến, đất nước còn có biên giới riêng: 'Núi sông bờ cõi đã chia'. Điều này gợi lên tinh thần của câu thơ 'thần' năm 1076 'Sông núi nước Nam vua Nam ở / Rành rành định phận ở sách trời'. Biên giới và lãnh thổ đã được chia rẽ trong lịch sử và trong ý thức của mỗi người dân hai quốc gia. Tư duy này đã tạo nên ý thức xây dựng, bảo tồn và phân biệt về phong tục tập quán của nhân dân hai nơi: 'Phong tục Bắc Nam cũng khác'. Phong tục là những thói quen trong đời sống, sinh hoạt đã ăn sâu vào cách sống, cách nghĩ của con người. Tổng cộng, văn hiến và phong tục tập quán đã cùng tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam.
Nền độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ những đặc điểm riêng trong dân tộc và lãnh thổ mà còn được thể hiện qua sự độc lập của triều đại và cá nhân kiệt xuất:
'Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có'.
Các triều đại hai nước đối đầu được liệt kê rất cụ thể, điều này khẳng định sự ngang hàng của các vị vua. Chữ 'đế' trong câu 'mỗi bên xưng đế một phương' đặc biệt quan trọng. Trong truyền thống, vua Trung Hoa thường tự xưng là 'thiên tử', họ coi mình là 'đế' và gọi vua các nước khác là 'vương'. Tuy nhiên, Nguyễn Trãi tỏ ra tự hào khi xác định các vị vua của ta cũng là 'đế', không thua kém vua Trung Hoa: 'mỗi bên xưng đế một phương'. Điều này phản ánh lòng tự tôn dân tộc sâu sắc của tác giả và mỗi người Việt.
Trong lịch sử, ngoài những vị vua hiền lành và các triều đại tiêu biểu, dân tộc ta còn nổi tiếng với những anh hùng hào kiệt. Nguyễn Trãi không chỉ tự hào về dân tộc mà còn thẳng thắn thừa nhận những thời kỳ khó khăn: 'Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau'. Ông khẳng định rằng, bất kể thời kỳ nào cũng xuất hiện những anh hùng.
Nguyễn Trãi đã thuyết phục người đọc về ý nghĩa của nền độc lập dân tộc bằng một đoạn văn ngắn gọn. Đó chính là nền tảng để mỗi người dân Đại Việt sẵn lòng hy sinh cho đất nước, và bất kể kẻ thù có mạnh đến đâu, họ cũng sẽ bị đánh bại bởi sức mạnh của nền văn hiến lâu đời và chủ quyền lãnh thổ.
'Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi'
Nguyễn Trãi trình bày một loạt dẫn chứng cụ thể về thất bại của kẻ thù như một lời cáo trạng. Các tên của kẻ thù như Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã cùng với các địa danh như Cửa Hàm Tử, Sông Bạch Đằng, tạo ra một bức tranh sống động về chiến thắng và niềm tự hào về truyền thống giữ nước.
'Nước Đại Việt ta' là biểu hiện rõ nét của lòng yêu nước, vinh quang và tự hào về độc lập của đất nước. Đó là ngọn cờ của nhân nghĩa và lòng yêu thương dân tộc, là động lực thúc đẩy chúng ta phấn đấu vì sự phát triển của quê hương.
Lòng yêu nước là nguồn cảm hứng vĩ đại trong văn học, gắn kết mọi thế hệ qua các tác phẩm. 'Nước Đại Việt ta' là minh chứng rõ ràng cho tinh thần yêu nước mãnh liệt, thấm đẫm trong tâm hồn mỗi người.
'Nước Đại Việt ta' từ 'Bình Ngô đại cáo' phản ánh sự kiện lịch sử quan trọng, là biểu tượng của chiến thắng và lòng tự hào dân tộc. Tác phẩm nêu cao nhân nghĩa, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc.
'Nước Đại Việt ta' là ca ngợi về chiến công vang dội của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Bên cạnh đó, nó còn là biểu tượng của lòng yêu nước và tự hào về truyền thống dân tộc.
Lòng yêu nước thể hiện ở việc tôn trọng nhân nghĩa, bảo vệ nhân dân khỏi sự xâm lược:
'Tôn trọng nhân nghĩa là bảo vệ dân lành trước hết
Trước khi hạ quyết định về binh đạo, hãy suy nghĩ về việc loại trừ bạo lực'
Nhân nghĩa, xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, là nguồn gốc của đạo lý và tình thương giữa con người. Nguyễn Trãi không chỉ kế thừa mà còn phát triển tư tưởng này: nhân nghĩa là bảo vệ dân lành, vì nhân dân mà loại trừ sự gian ác và diệt bạo lực. Điều này là cơ sở cho tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa, vạch trần sự xảo trá của quân thù xâm lược.
Suy nghĩ về tình yêu nước trong đoạn trích Nước Đại Việt ta
Tình yêu nước thể hiện qua ý thức về sự độc lập của đất nước và tự hào về dân tộc:
'Đất nước ta từ xưa
Vững bền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã tách rời
Phong tục ở Bắc Nam cũng khác nhau
Triệu, Đinh, Lý, Trần góp nền độc lập qua thời gian
Hán, Dương, Tống, Nguyên từng phương xưng đế một lần
Mặc dù mạnh yếu không ngừng biến đổi
Nhưng hào kiệt luôn hiện diện'
Trong bài thơ 'Nam Quốc Sơn Hà', Lý Thường Kiệt đã khẳng định độc lập về lãnh thổ, chủ quyền của dân tộc. Nguyễn Trãi tiếp tục bổ sung những yếu tố để tạo ra một quốc gia độc lập, tự chủ. Nguyễn Trãi tự hào về nền văn hiến lâu đời của đất nước, chứng minh sự trầm tích văn hóa và lịch sử của dân tộc. Đồng thời, ông nhấn mạnh về sự khác biệt trong phong tục, tập quán giữa các vùng Bắc và Nam. Ông cũng đề cao sự ngang hàng của các triều đại của Việt Nam với các triều đại của Trung Quốc, khẳng định vị thế của dân tộc. Nguyễn Trãi còn tôn trọng con người, với ý kiến 'hào kiệt luôn hiện diện'.
'Do đó:
Lưu Cung tham dự công trình nên thất bại
Triệu Tiết quá tự mãn nên phải hy sinh
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng vẫn là nơi buồn tận cùng
Chứng cớ về những gì đã xảy ra vẫn được ghi lại'
Các minh chứng rõ ràng về thất bại đáng xấu hổ của kẻ thù như một cảnh báo cho mọi thế lực ngoại bang có ý định xâm lược nước ta đều sẽ đối mặt với hậu quả khủng khiếp.
Tác phẩm đã khơi gợi lòng yêu nước sâu sắc trong lòng mỗi người, là nguồn sức mạnh giúp dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, và đạt được chiến thắng trong cuộc kháng chiến.
'Bình Ngô Đại Cáo' là một tác phẩm văn học vĩ đại của Nguyễn Trãi, được coi là tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc. Tác phẩm này thể hiện tình yêu nước sâu sắc và sự căm ghét chống lại sự xâm lược ngoại bang đến tận cùng.
'Bình Ngô Đại Cáo' của Nguyễn Trãi là một bản tuyên ngôn vĩ đại về độc lập dân tộc, thể hiện lòng yêu nước và sự căm thù đối với quân thù ngoại xâm.
Đã từng nghe:
Việc nhân nghĩa là gốc rễ của yên dân
Trừ bạo phải trước, đả đại trừ bạo.
Nguyễn Trãi đã làm rõ điểm xuất phát của lòng yêu nước, đó là nhân nghĩa. Yêu nước là yêu tổ quốc, thương nhân dân và gìn giữ truyền thống quý báu của cha ông. Trong đó, nhân nghĩa là trung tâm của mọi hành động, là lòng nhân ái trong giao tiếp giữa con người với con người. Yên dân, đảm bảo sự an ổn cho nhân dân, là điểm khởi đầu. Đối diện với sự xâm lược, trừ bạo là biện pháp cần thiết, trước hết là loại bỏ bọn ác quỷ độc ác ức hiếp nhân dân. Nguyễn Trãi thường nói 'Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân'. Nhân dân là trụ cột quan trọng trong số phận của quốc gia, là nguồn sức mạnh to lớn, và quốc gia có thể mất đi nhưng có thể lấy lại, nhưng mất đi nhân dân thì chỉ còn là mảnh đất vô hồn, vô chủ. Do đó, yêu nước là yêu dân, không chỉ là yêu vua như trước kia. Những câu nói của Nguyễn Trãi ở đầu bài cáo Bình Ngô nhấn mạnh về tầm quan trọng của nhân nghĩa, là cơ sở cho lòng yêu nước.
Từ trích đoạn 'Nước Đại Việt ta' khiến em suy ngẫm về lòng yêu nước.
Tiếp theo, những bằng chứng về độc lập chủ quyền của quốc gia được trình bày một cách rất cơ bản:
Như lời của Nguyễn Trãi đã viết:
Nước Đại Việt từ lâu
Đã hiện hữu nền văn minh
Giữa núi sông, biển đảo, chúng ta vẫn còn
Phong tục Bắc Nam khác biệt nhưng đậm đà văn hiến
Từ Triều, Đinh, Lý, Trần dựng xây nền độc lập
Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi phương đều coi mình vua
Dù mạnh hay yếu, quyền lực đều tồn tại
Và những hào kiệt luôn hiện diện
Không còn mơ hồ như trong 'thiên thư' như Lý Thường Kiệt đã nói, bằng chứng đã được trình bày rõ ràng để khẳng định nền độc lập của nước ta từ xa xưa. Đất nước ta, với cái tên 'Đại Việt', đã có một lịch sử văn hóa dài lâu, với phong tục, tập quán phong phú, và một lịch sử lớn không kém phần những triều đại lớn trong lịch sử Trung Hoa. Những yếu tố này đủ để làm nên một quốc gia tự chủ độc lập, và là lý do để chúng ta tự hào về quốc gia của mình. Tình yêu nước được thể hiện rõ ràng ở đây thông qua việc tôn trọng dân tộc, và chúng ta đã chứng kiến hậu quả của sự xâm lược trong những thất bại của kẻ thù:
Do đó:
Lưu Cung tham lam dẫn đến thất bại
Triệu Tiết tham quá phải trả giá bằng tính mạng
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng là bài học cay đắng cho Ô Mã
Quá khứ là bài học đắt giá mà chúng ta vẫn giữ lại
Những thất bại của kẻ thù là kết quả của việc họ áp đặt sức mạnh bạo tàn lên dân ta, nhưng họ phải trả giá vì tinh thần yêu nước và sự đoàn kết của dân tộc, cùng với tài năng và lòng chính nghĩa của những anh hùng nước ta.
