Ý kiến về Tư tưởng Đất Nước của nhân dân như thế nào trong trích Đất Nước
Bài viết mẫu về Tư tưởng Đất Nước của nhân dân làm thể hiện như thế nào trong đoạn trích Đất Nước
Bài viết
Chương V - thường được gọi là Đất Nước - có thể coi là phần xuất sắc nhất. Nó là sự nhận thức sâu sắc của thế hệ trẻ Việt Nam về 'Đất nước'. Nó là điểm tựa để họ xác định vị trí và vai trò của mình trong cuộc đấu tranh lớn lao của dân tộc.
Dễ nhận thấy đầu tiên là tác giả nhìn nhận về đất nước ở khoảng cách gần, nhưng khuôn mặt của nó lại gần gũi và thân quen. Nó đơn giản, bình dân nhưng không kém phần trang trọng. Cả những nhà thơ khác nhau đều có điều nói về Đất Nước như làm thế nào quê hương của họ gần gũi, Hoàng Cầm thường thốt lên với lòng kính trọng: 'Quê hương ta lúa nếp thơm nồng; ruộng ta khô; nhà ta cháy; quê hương ta từ ngày khủng khiếp'. Nguyễn Đình Thi và Tố Hữu nhìn nhìn đất nước từ không gian của Việt Bắc. Có những dòng thơ quan tâm đến vẻ hoành tráng, vĩ đại của đất nước:
Quê hương tươi đẹp quá !
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh tới mắt
(Tác giả: Tố Hữu)
Hoặc theo cách của Nguyễn Đình Thi:
Máu lửa tô điểm cho đất nước Việt Nam
Mặt trời bừng sáng, rủ bùn bay lên.
Tuy nhiên, Nguyễn Khoa Điềm lại trò chuyện với người yêu của mình bằng giọng thâm thúy như những lời thì thầm tâm huyết:
Khi tuổi thơ trôi qua... chiến đấu vì đất nước.
Nhà thơ đã nhìn nhận Đất nước qua góc nhìn quen thuộc và thân thiết, từ người mẹ, người cha, bà mình, những người dân, đến những câu chuyện cổ tích và thậm chí là những nét đẹp nhỏ như cột, kèo, hạt gạo... Tất cả đều là Đất nước. Những giá trị văn hóa, tinh thần đã tồn tại từ xưa đến nay, bắt đầu từ những ngày đầu tiên.
'Đất nước bắt đầu với miếng trầu, bây giờ bà ăn', nghe có vẻ vô lý nhưng suy nghĩ sâu hơn, nó thực sự là hiện thân của văn hóa trầu cau Việt Nam. Đây là một câu chuyện cổ tích, một nét phong tục được vị vua tổ Hùng Vương truyền bá, thể hiện sự giao thiệp tình cảm... Miếng trầu trở thành biểu tượng đặc trưng nhất cho văn hóa trọng nghĩa, trọng tình của người Việt. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tình cảm, lòng biết ơn, và sự trung thành. Hình ảnh 'cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn', câu thơ quý tộc 'cầm vàng lặn lội' thể hiện chân tình sâu sắc của người Việt.
Sau khi trả lời câu hỏi về Đất nước từ khi nào, Nguyễn Khoa Điềm chuyển qua câu hỏi thứ hai: Đất nước là gì? Bằng cách đưa ra định nghĩa độc đáo với mẫu câu: 'Đất nước là nơi' - tác giả tập trung vào khám phá cái đơn giản, bình dị của không gian Đất nước. Người đọc cảm thấy ngạc nhiên và hài lòng khi Nguyễn Khoa Điềm mở lời về Đất nước như là những câu chuyện riêng tư, những điều thầm kín, tạo nên bài ca riêng của chúng ta.
Đất là nơi... em tắm.
Thành phố và nông thôn hòa quyện thành một, đã tạo nên:
Đất nước... triệu hồi.
Và một khung cảnh văn hóa tương tự đã vượt qua biên giới của quê hương để mô tả Đất nước với sự gần gũi và ấm áp:
Đất nước... giữ kín.
Chỉ với hai yếu tố đơn giản là đất và nước, nhưng mỗi khi chúng được tách rời, chúng mang ta vào một thế giới huyền bí, quen thuộc và đầy mới mẻ như một trò chơi nguy hiểm, vừa thân quen vừa lạ lẫm không hồi kết giống như việc một đứa trẻ tháo rời và lắp lại một mảnh ghép vẫn không thể thoả mãn sự ham muốn khám phá. Nhà thơ của chúng ta, bằng sự ngây thơ, đã thực hiện điều này để truyền đạt điều ông muốn nói. Khi suy ngẫm, có trách nhiệm, khám phá sáng tạo, người đọc cảm thấy hứng thú. Định nghĩa về Đất nước của tác giả không chỉ tập trung vào không gian văn hóa mà còn ghi chú đến thời gian văn hóa đã tạo nên một hành trình lịch sử dài với những chi tiết đơn giản nhưng xao xuyến và tâm linh mà con người Việt Nam thường mang theo.
Những hồn đã rời bỏ
...
Cũng nguyện nhìn xuống nhân dịp ngày giỗ Tổ.
Hai từ 'nguyện nhìn' mang đến ấn tượng sâu sắc về một khía cạnh tâm linh trong văn hóa của người Việt, là sự tôn trọng, kính phục đối với nguồn gốc, sức mạnh tinh thần bảo vệ và chăm sóc con cháu của Tổ: Đó là cộng đồng từ bản năng của Âu Cơ, là dân tộc và đất nước, là dòng họ gia đình, là những ngọn nến nhang trên bàn thờ tổ tiên có khả năng đánh thức tâm linh người Việt mạnh mẽ hơn cả. Nói về 4.000 năm lịch sử của cha ông ta, Chế Lan Viên tự hào với những anh hùng, những con người ưu tú của dân tộc.
Dân tộc hát vang suốt 4.000 năm
Quê hương ta lúc nào cũng tràn ngập vẻ đẹp như thế này chăng? (...)
Khi Nguyễn Trãi sáng tác và đánh đuổi kẻ thù
Nguyễn Du viết Kiều, hình ảnh đất nước hóa thành văn thơ
Khi Nguyễn Huệ hùng binh băng voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng.
Nguyễn Khoa Điềm riêng muốn nói đến điều:
Có bao nhiêu người con gái và con trai
......
Tuy nhiên, họ đã khắc sâu dấu ấn trên đất nước.
Sau khi giải đáp hai câu hỏi: Đất nước bắt nguồn từ đâu? Đất nước là gì? Nguyễn Khoa Điềm chạm vào trung tâm của bài thơ: Ai là người tạo nên Đất nước? Như một bức tranh về địa danh, địa lý, nhà thơ không nhấn mạnh vẻ đẹp hay sự phong phú như Hoàng Cầm:
Quê hương ta lúa nếp thơm bồng bềnh...
Trong thơ của Nguyễn Đình Thi:
Những thảo nguyên thơm lừng...
Nguyễn Khoa Điềm tập trung vào những vùng đất, những bức tranh mà tên gọi của chúng vô cùng chân thực, chúng kể lên nhiều câu chuyện về cuộc sống cần phải trải qua:
Những bà vợ nhớ người chồng
...
Bác Trang, dì Đen, mẹ Điểm.
Sau đó là những dòng thơ tổng quan:
Ở nơi nào... núi sông quê ta.
Với cách trình bày câu chuyện như thế, nhà thơ đã trực tiếp bày tỏ tư tưởng 'Đất nước của Nhân dân'.
Nhân dân đông đảo, nhân dân dung dưỡng tạo nên dáng vẻ, tầm vóc của quê hương. Họ là những người chân đất sáng suốt, đúc kết những triết lý cao cả mà ta luôn tâm niệm, thuộc về nhân dân để ca ngợi đất nước có quyền nói về cuộc sống riêng của mình. Các đại từ họ đã thể hiện vai trò của nhân dân. Những người sáng tạo văn hoá vật chất và tinh thần: 'Họ giữ, họ truyền lửa, họ truyền giọng điệu, họ gánh theo, họ đắp đập'. Các từ như 'giữ' và 'truyền', sau đó là 'gánh, đắp đập, be bờ' tạo ra chiều sâu của bề mặt văn hoá, nổi bật hình ảnh nhân dân sáng tạo đất nước bằng lao động lớn, chạy tiếp sức để lưu truyền ngọn lửa văn hoá qua các thế hệ. Các nhà thơ thời kháng chiến chống Mỹ, trong khuynh hướng ca tụng đất nước ở tầm vóc quốc tế, đã viết:
Ta vì ta ba chục triệu người
Cũng vì ba ngàn triệu trên đời
Sướng bởi làm người lính tiên phong
Trong đêm tối, lửa sáng đón chào
(Tố Hữu)
Tư tưởng về đất nước của nhân dân được nhiều nhà thơ thảo luận. Tuy nhiên, tư tưởng này không còn xa lạ gì với Nguyễn Khoa Điềm, người đã chia sẻ mọi trải nghiệm và xúc động của chính mình. Ông kết hợp tri thức về văn hóa dân gian với suy ngẫm sâu sắc, tạo nên bài thơ vừa thuyết phục lý trí vừa đậm chất tình cảm. Đất nước này thuộc về nhân dân, trong nhân dân có anh và em. Do đó, tác giả đề xuất một cách nghiêm túc:
Em ơi, hãy nhớ mãi...
Rất tự nhiên, không hề giả tạo, văn hoá trọng tình sẽ là lối cư xử như uống nước nhớ nguồn.
Chưa từng có thời kỳ thơ ca Việt Nam nào lại phát triển như thế, như thời kỳ chống Mỹ:
Đất nước của những đấng sinh thành con gái, con trai
Xinh đẹp như đóa hồng, cứng chắc hơn cả sắt thép
Khi chia xa, không một giọt nước mắt rơi
Nước mắt chỉ dành cho ngày sum vầy mặt mày
(Tác giả: Nam Hà)
Là đất nước của những đoàn quân vững vàng:
Quân đến, quân đi, cỏ tranh màu giá rét
Dãy Trường Sơn như những sư đoàn gìn giữ
(Tác giả: Bằng Việt)
Và như thế:
Đất nước tôi thảnh thơi như tiếng đàn bầu
Nghe hồn mẹ khóc than
Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm trong im lặng
(Tạ Hữu Yên)
Bởi sự đóng góp độc đáo, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đã chinh phục trái tim độc giả từ ngày xuất hiện. Nó sẽ vững bền trước thách thức của thời gian. Ai trong chúng ta cũng có tình yêu với Tổ Quốc, và có những khoảnh khắc ta phải thốt lên như lời của Nguyễn Khoa Điềm:
Mọi tình yêu thẳng thắn kêu gọi ta
Ta đắm chìm trong vòng tay Đất Nước Việt Nam ơi !
Bên cạnh Tư tưởng đất nước của nhân dân được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Đất Nước, hãy khám phá thêm về Cảm nhận về đoạn thơ Đất nước cũng như Phản ánh về đất nước và nghệ thuật thể hiện của tác giả trong trích đoạn thơ Đất Nước để làm sâu sắc hiểu biết của bạn.
