| Sinh học tế bào | |
|---|---|
| Tế bào động vật | |
Thành phần tế bào động vật điển hình:
|
Túi tiêu hóa (đọc là lyzôxôm, trước đây còn được gọi là tiêu thể) là một bào quan của tế bào nhân thực. Đây là nơi sản xuất enzyme mạnh giúp tiêu hóa và loại bỏ các chất cũng như các bào quan bị hỏng. Túi tiêu hóa được hình thành tại bộ máy Golgi. Với pH= 4.8, môi trường bên trong túi tiêu hóa có tính axít hơn so với bào tương (pH 7). Màng đơn của túi tiêu hóa duy trì pH thấp nhờ vào hệ thống bơm proton (H) từ bào tương vào, đồng thời bảo vệ bào tương và các thành phần khác của tế bào khỏi tác dụng của enzyme phân hủy. Các enzyme tiêu hóa cần môi trường axít để hoạt động hiệu quả. Tất cả các enzyme này được tạo ra ở lưới nội chất và được vận chuyển, xử lý tại bộ máy Golgi. Bộ máy Golgi tạo ra túi tiêu hóa thông qua các chồi của nó.
Những enzyme chính trong túi tiêu hóa bao gồm:
- Lipase, phân hủy mỡ,
- Carbohydrase, phân hủy carbohydrate (chẳng hạn như đường),
- Protease, phân hủy protein,
- Nuclease, phân hủy axít nucleic.
Túi tiêu hóa có vai trò trong việc phân hủy các đại phân tử qua quá trình thực bào (tiêu hóa của tế bào), tái sử dụng các thành phần của tế bào (như phân hủy ty thể hỏng để thay thế bằng các phần mới, tái sử dụng protein của các thụ thể), và trong quá trình tế bào chết do tự thực bào, một dạng của cái chết lập trình (hay tự hủy lập trình của tế bào), tức là tế bào tự tiêu hóa chính mình.
Túi tiêu hóa chứa các chất thải, chất độc, chất dự trữ, muối khoáng, và tham gia vào việc vận chuyển nước, đồng thời thực hiện chức năng tiêu hóa và co bóp.
Các chức năng khác của túi tiêu hóa bao gồm tiêu diệt vi khuẩn khi xâm nhập vào tế bào và sửa chữa tổn thương màng bào tương nhờ các mảnh vá màng tế bào, hàn gắn các vết thương. Túi tiêu hóa còn có khả năng phân cắt nhanh các đại phân tử để dễ sử dụng hơn.
Nhiều bệnh lý có thể gây ra rối loạn chức năng của túi tiêu hóa hoặc các protein tiêu hóa của chúng, chẳng hạn như bệnh Tay-Sachs và bệnh Pompe. Những bệnh này xảy ra do sự hư hỏng hoặc thiếu hụt protein tiêu hóa, dẫn đến tích tụ chất trong tế bào và làm suy giảm chuyển hóa tế bào. Các bệnh này được phân loại chung như mucopolysaccharidosis, GM2 gangliosidosis, rối loạn lưu trữ chất béo, glycoproteinosis, mucolipidosis, và leukodystrophy.
Mức pH ổn định ở 4.8 được duy trì nhờ vào hệ thống bơm ion hydro và ion chlorine.
Cấu trúc của tế bào / bào quan | |
|---|---|
| Hệ thống nội màng |
|
| Khung xương tế bào |
|
| Nội cộng sinh |
|
| Cấu trúc nội bào khác |
|
| Cấu trúc ngoại bào |
|
