Cho đến hiện nay, việc khám phá lịch sử phát triển vũ khí hạt nhân của Đức trong Thế chiến II vẫn là một điều bí ẩn
Nhóm các nhà nghiên cứu đang áp dụng những kỹ thuật y học hiện đại nhất để làm sáng tỏ bí ẩn về nguồn gốc của những khối uranium mà Đức Quốc xã đã sử dụng trong việc phát triển vũ khí hạt nhân trong Thế chiến II

Đến hiện tại, việc tìm hiểu về lịch sử phát triển vũ khí hạt nhân của Đức trong Thế chiến II vẫn là một bí ẩn. Đôi khi, các nhà nghiên cứu vẫn phát hiện ra những dấu vết về công việc của người Đức ở những nơi không ngờ tới
Cuộc đua vũ trang đang diễn ra
Dự án Đồng minh Manhattan được lập năm 1942 với mục tiêu chính là đánh bại Đức Quốc xã trong cuộc đua để chế tạo một loại bom có sức công phá to lớn. Hiện nay, nhiều thông tin về dự án này đã được công bố cho công chúng, tuy nhiên sự thành công thực sự của Đức trong việc phát triển vũ khí hạt nhân vẫn còn nhiều điều bí ẩn
Trong trí tưởng tượng của những người dân thông thường và từ nỗi lo sợ của các nhà lãnh đạo Đồng minh thời đó, không khó để có thể tưởng tượng rằng dự án của Đức quốc xã và Đồng minh có nhiều điểm tương đồng với nhau
Thực tế, họ đối lập nhau gần như hoàn toàn. Đội quân Đồng minh đã cố gắng tập hợp tất cả các nguồn lực của Hoa Kỳ, Anh, Canada và triệu tập các nhà khoa học, kỹ sư giỏi nhất đến những địa điểm bí mật được thiết kế đặc biệt, hoạt động theo quân đội với sự hỗ trợ đầy đủ của các chính phủ Đồng minh và ngân sách hạn chế

Kể từ khi Đức quốc xã bắt đầu chế tạo bom nguyên tử vào tháng 4 năm 1939, hoặc chính xác hơn là sau khi quá trình phân hạch nguyên tử được chứng minh trong phòng thí nghiệm, Đội quân Đồng minh tin rằng họ đã chậm lại phát xít Đức khoảng 3 năm. Do đó, các nhà khoa học đã nỗ lực tạo ra vũ khí hủy diệt của mình trước khi phiên bản của Đức được thả xuống London hoặc Washington
Thực tế là: tiến bộ mà người Đức đạt được trong thời gian này còn... khá xa lắc. Chưa đủ để đặt một quả bom nguyên tử lên tên lửa V2. Một phần nguyên nhân là do cuộc thanh trừng Do Thái của Đức Quốc xã đã khiến các nhà vật lý hàng đầu thế giới phải chạy trốn khỏi những khu vực bị ảnh hưởng bởi phát xít Đức sang phương Tây, còn những người ở lại hoặc bị điều động vào quân đội, hoặc bị cử đi làm các dự án khác như chế tạo tên lửa đạn đạo
Tệ hơn nữa, Bộ trưởng Vũ khí Albert Speer và các lãnh đạo của 'Câu lạc bộ Uranium' (biệt danh của dự án) đã cố ý giảm bớt giá trị ý tưởng chế tạo một quả bom có sức hủy diệt lớn khiến cho Hitler không hài lòng với nó

Phần lớn là do các nhà khoa học của dự án tin rằng họ không có đủ thời gian để tạo ra một quả bom như vậy trước khi chiến tranh kết thúc, nhưng chủ yếu là do họ sợ. Không ai muốn phải thừa nhận với Fuehrer rằng dự án có thể thất bại. Tin tức không tốt như vậy thường sẽ cướp đi tính mạng của những người liên quan
Kết quả là, dự án chế tạo bom nguyên tử của Đức quốc xã đã bị phân tán. Các nhà khoa học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các lý thuyết về bom và tập trung nguồn lực chính để phát triển động cơ nguyên tử. Do đó, dự án bom đã được chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác
Các nhà khoa học Đức đã đạt được rất ít tiến bộ đến mức khi nhà khoa học chủ chốt Werner Heisenberg bị bắt và sau đó được thông báo rằng có một quả bom nguyên tử vừa thả xuống Nhật Bản thì ông ta đã chắc chắn không tin vào điều đó
Di sản uranium
Khi phát xít Đức thất thủ vào năm 1945, người Anh và người Mỹ đã triển khai các đội đặc nhiệm trên khắp Đức để bảo vệ các cơ sở nghiên cứu của quân phát xít trước khi chúng bị tiếp quản bởi Hồng quân Liên Xô
Trong số đó, có một lò thử nghiệm của Đức tại Haigerloch có tên Leipzig-IV, chứa khoảng 650 khối uranium hình lập phương. Mỗi khối này có chiều rộng khoảng 5 cm, treo trên sợi dây và nằm trong một thùng nước nặng. Ở đây, các nguyên tử hydro sẽ bị thay thế bằng các đồng vị nặng hơn của đơteri. Kết quả từ thử nghiệm L-IV, vào nửa đầu năm 1942, cho thấy rằng với 5 tấn nước nặng và 10 tấn uranium kim loại, phản ứng phân hạch có thể được duy trì

Những khối lập phương này được tin là sẽ gây ra phản ứng phân hạch với nước, làm chậm các neutron đến mức xác suất tương tác của chúng với nguyên tử uranium tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, thí nghiệm này thực sự đã thất bại. Các tính toán sau đó cho thấy cần ít nhất một nghìn khối uranium giống thế này để phản ứng thành công, và lò phản ứng đã bị hỏng do lượng oxy tích tụ bên trong. Một vụ nổ đã xảy ra, tạo ra tai nạn liên quan đến hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Trong quá trình thử nghiệm, không khí lọt vào làm bốc cháy lớp bột uranium bên trong, tạo ra đám cháy lớn tại cơ sở nghiên cứu này
Sau chiến tranh, nhiều khối uranium loại này đã được chuyển đến Hoa Kỳ và Anh, nhưng một số đã bị mất trong quá trình vận chuyển. Tuy nhiên, trong suốt 75 năm qua, đôi khi vẫn có vài khối uranium xuất hiện ở những nơi không ngờ đến
Một trong những khối lập phương này đã được chuyển đến Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (PNNL) ở Richland, Washington. Cách nó đến đây vẫn là một điều bí ẩn, thậm chí các nhà khoa học cũng không dám chắc rằng đây thực sự là một trong những khối lập phương từ lò phản ứng của Đức bị mất tích

Với hy vọng tìm ra câu trả lời, nhóm nghiên cứu do John Schwantes dẫn đầu đã áp dụng các kỹ thuật pháp y hiện đại để so sánh với những khối lập phương còn sót lại và tìm hiểu xem khối này từng có liên quan đến nhóm nghiên cứu nào của phát xít Đức
Khối lập phương tại PNNL được tin là khối lập phương Heisenberg của Haigerloch nhưng các bằng chứng chủ yếu là giai thoại
Để có cơ sở khoa học cho nhận định này, thành viên Brittany Robertson của nhóm nghiên cứu đã sử dụng một kỹ thuật gọi là phương pháp đo thời gian vô tuyến để thu thập một số dữ liệu xác thực

Giống như phương pháp xác định niên đại bằng carbon, phương pháp đo thời gian vô tuyến được sử dụng để xác định tuổi của các cổ vật và di tích khảo cổ học. Khi cơ thể còn sống thì nó sẽ hấp thụ cacbon từ môi trường
Khi một sinh vật chết đi, carbon-14 phân hủy với tốc độ đã biết. Bằng cách đo tỷ lệ carbon-14 so với carbon thông thường, các nhà khoa học có thể tính toán ngày tháng xuất hiện của sự kiện với độ chính xác đáng ngạc nhiên, chẳng hạn như thời điểm xác người được ướp ở Ai Cập
Đối với các khối lập phương của lò phản ứng, ta cũng có thể đưa ra các kết luận tương tự về tuổi đời của chúng. Vì ban đầu chúng được làm từ uranium gần như nguyên chất nên việc xác định tuổi của chúng tương đối dễ dàng. Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng và đồng vị của chúng cũng có thể kể cho ta biết rất nhiều về bản chất và nguồn gốc của chúng, bao gồm cả nơi khai thác quặng.
Biết nguồn gốc là rất quan trọng vì nó có thể giúp các nhà khoa học xác định xem khối lập phương PNNL có thuộc nhóm Heisenberg (thành lập ở Berlin nhưng đã chuyển đến Haigerloch) hay của nhóm Kurt Diebner làm việc ở Gottow.
Một phần của trò chơi điều tra là lớp phủ mà người Đức đã sử dụng vào những năm 1940 để bảo vệ các khối uranium khỏi sự oxi hóa. Nhóm của Heisenberg đã sử dụng loại lớp phủ dựa trên xyanua, trong khi khối lập phương PNNL lại được phủ một lớp styren giống như một số khối của nhóm Diebner.

Điều này có nghĩa là: khối lập phương có thể thuộc nhóm Diebner, hoặc có thể là một trong những khối sau này được chuyển từ nhóm Diebner sang nhóm Heisenberg.
Theo nhóm nghiên cứu, ngoài giá trị lịch sử thì cuộc điều tra này còn mang lại nhiều giá trị khác. Các kỹ thuật mà những nhà khoa học này sử dụng để nghiên cứu các khối lập phương từ lò phản ứng Đức cũng có thể được áp dụng vào việc theo dõi hoạt động buôn bán trái phép vật liệu hạt nhân. Chúng có thể bao gồm: nhiên liệu lò phản ứng hạt nhân, các vật liệu có thể được sử dụng để chế tạo vũ khí, những hoạt động khủng bố và buôn lậu, hay chỉ đơn giản là các đồng vị phóng xạ đã qua sử dụng trong y học và công nghiệp.
