

Tỳ-kheo hay Tì-kheo (chữ Hán: 比丘) là từ phiên âm từ bhikkhu trong tiếng Pali và bhikṣu trong tiếng Phạn, nghĩa là 'người khất thực' (khất sĩ 乞士, khất sĩ nam 乞士男). Có cách đọc khác là Tỉ-kheo, Tỉ-khâu. Phiên âm Hán-Việt khác gồm Bật-sô (苾芻), Bị-sô (備芻), Tỉ-hô (比呼). Còn có các từ dịch nghĩa như Trừ sĩ (除士), Huân sĩ (薰士), Phá phiền não (破煩惱), Trừ cận (除饉), Bố ma (怖魔). Nữ tu theo đạo Phật gọi là tỳ-kheo-ni.
Thuật ngữ thường dùng ở Ấn Độ để chỉ giai đoạn thứ tư trong đời người Bà-la-môn, khi người chủ gia đình rời bỏ gia đình ('xuất gia') và quy y, sống bằng hạnh khất thực và tìm kiếm chân lý giải thoát. Trong Phật giáo, thuật ngữ này chỉ một tăng sĩ Phật giáo, người từ bỏ cuộc sống thế tục và tuân theo giới luật. Tương đương gần với thuật ngữ Sa-môn (zh. 沙門, sa. śramaṇa).
Trong luận giải về kinh Kim cương, Đại sư Tông Mật đã đưa ra 3 định nghĩa về thuật ngữ Tỉ-khâu:
- Bố ma (zh. 怖魔): 'mối lo sợ của ma quỷ';
- Khất sĩ (zh. 乞士): 'sống bằng hạnh khất thực';
- Tịnh giới (zh. 淨戒): 'giới luật thanh tịnh'.
Theo quan điểm nguyên thủy, chỉ những người sống viễn ly mới đạt được Niết-bàn. Hoạt động chính của họ là thiền định và giảng dạy giáo pháp, không được hưởng thụ cuộc đời và phải sống lang thang. Giới luật của Tỳ kheo là sống phạm hạnh, mẫu mực, ít ham muốn, không vợ con và thực hành từ bi, được nêu trong Luật tạng.
Cuộc sống giản dị của Tỳ kheo thể hiện qua chiếc áo cà-sa gồm ba phần (Tam y, sa. tricīvara) làm từ vải vụn. Vật dụng hàng ngày chỉ gồm bát khất thực, dao cạo, kim chỉ, đồ lọc nước và gậy. Tỳ kheo không được nhận tiền bạc hay vật dụng khác. Thức ăn là do sự cúng dường.
Các vị Tỳ kheo sống cùng nhau trong một cộng đồng gọi là Tăng đoàn, bao gồm từ bốn vị Tỳ kheo trở lên. Trong mùa mưa, các vị này thường phải ở lại trong một tịnh xá (zh. 精舍, sa., pi. vihāra), gọi là an cư kiết hạ để tính tuổi hạ. Lý do là nếu đi lại trong mùa mưa, các vị có thể gây hại cho động vật và cây cối. Do đó, trong mùa này, họ chỉ rời tu viện khi có lý do đặc biệt. Mùa An cư kết thúc bằng lễ Tự tứ (zh. 自恣, sa. pravāraṇā), nơi các vị sống chung một nơi, trao đổi kinh nghiệm tu tập, hoằng pháp, và kiểm điểm lỗi lầm với nhau. Qua thời gian, Tỳ kheo ít vân du hơn và sống nhiều trong các tu viện, nhưng tục hành hương vẫn duy trì đến nay. Ngày nay, các Tỳ kheo vẫn giữ nhiều tập tục như thời Phật, đặc biệt là Nam tông, nhưng cũng phải thích nghi với xã hội và địa lý. Ví dụ, các Tỳ kheo Trung Quốc thường làm đồng áng, điều mà Tỳ kheo xưa không làm vì sợ giết côn trùng. Trong một số trường phái Tây Tạng và Nhật Bản, Tỳ kheo có thể lập gia đình, có vợ con. Các quy định về khất thực cũng đã thay đổi nhiều qua thời gian.
Giới luật
Luật tạng có 227 giới cho Tỳ-kheo, 311 giới cho Tỳ-kheo ni theo truyền thống Nguyên Thủy; và 250 giới cho Tỳ-kheo, 348 giới cho Tỳ-kheo ni theo truyền thống Đại thừa, gọi là cụ túc giới. Một người dưới 20 tuổi muốn xuất gia, hoặc do gia đình gửi gắm vào chùa, thường được gọi là chú tiểu.
Người muốn xuất gia trước hết phải thọ giới Sa-di (samanera) hoặc Sa-di ni (samaneri), sau một thời gian mới thọ cụ túc giới (upasampāda), phát nguyện tuân theo Giới bổn để trở thành Tỳ-kheo (bhikkhu) hoặc Tỳ-kheo ni (bhikkhuni).
- Tăng già
- Quy y
- Hạ lạp
- Cư sĩ
- Phật Quang Đại Từ Điển 佛光大辭典. Phật Quang Đại Từ Điển Biên Tu Ủy Viên Hội. Đài Bắc: Phật Quang Xuất Bản Xã, 1988.
- Từ Điển Triết Học Phương Đông, Bern 1986.
- Nghiên cứu về Giới Luật trong Phật giáo
- Các Giới Trọng Yếu của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni
Mẫu:Tu sĩ Phật giáo
