| Gossypium herbaceum | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Malvales |
| Họ (familia) | Malvaceae |
| Phân họ (subfamilia) | Malvoideae |
| Chi (genus) | Gossypium |
| Loài (species) | G. herbaceum |
| Danh pháp hai phần | |
| Gossypium herbaceum L. | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
Vải bông (tên khoa học: Gossypium herbaceum) là một loài cây thuộc họ Cẩm quỳ (Malvaceae). Cây có chiều cao khoảng 1 mét, với hoa màu vàng và 3 cánh hoa, sợi bông gắn chặt vào hạt. Vỏ rễ của cây được dùng để điều hòa kinh nguyệt, có thể gây sảy thai, và hạt có khả năng kích thích tiết sữa.
Ứng dụng
Là nguồn cung cấp sợi chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới, vải bông là nguyên liệu quan trọng trong ngành dệt may. Xơ bông được ưa chuộng trong ngành may mặc nhờ những đặc tính ưu việt như khả năng cách nhiệt, độ mềm mại, tính đàn hồi và sự thông thoáng. Dù hiện nay bị sợi nhân tạo cạnh tranh mạnh mẽ, vải bông vẫn giữ được vị trí đặc biệt và không thể thay thế.
Việt Nam
Ngành trồng bông ở Việt Nam đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Trong thời kỳ thuộc địa Pháp, Việt Nam đã đủ khả năng sản xuất để đáp ứng nhu cầu may mặc trong nước và vào đầu thế kỷ 20, đã bắt đầu xuất khẩu bông sang Nhật Bản và Hồng Kông. Sau chiến tranh, diện tích trồng bông đã tăng gấp ba lần so với năm 1939 (6.500 ha), thời điểm sản xuất ổn định dưới sự quản lý của Pháp. Sau khi thống nhất, mặc dù có nhiều nỗ lực phát triển ngành trồng bông, diện tích và năng suất vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của ngành dệt. Hiện tại, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu từ 60.000 đến 65.000 tấn bông mỗi năm.
Xơ bông có nhiều màu sắc, nhưng màu trắng là phổ biến nhất.
Hình ảnh




Liên kết bên ngoài
Tư liệu liên quan đến Gossypium herbaceum trên Wikimedia Commons
