
Lụa là loại vải mỏng nhẹ, được dệt từ tơ. Lụa cao cấp nhất được làm từ tơ tằm. Tằm được nuôi để lấy tơ, sau đó được xe thành sợi và dệt thành lụa. Nghề dệt lụa có nguồn gốc lâu đời từ Trung Quốc và từng là hàng hóa xa xỉ dành cho giới quý tộc. Lụa được vận chuyển từ Trung Quốc và tiêu thụ tại các quốc gia phương Tây qua con đường tơ lụa.
Nhờ cấu trúc lăng kính tam giác, lụa phản chiếu ánh sáng từ nhiều hướng khác nhau, tạo ra hiệu ứng óng ánh đặc trưng.
Tơ 'tự nhiên' được sản xuất bởi một loài sâu bướm khác, không phải tằm dâu. Loại tơ này được gọi là 'tự nhiên' vì không thể nuôi loài sâu bướm này như tằm dâu. Từ lâu, lụa tự nhiên đã được sử dụng ở Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu, dù ít phổ biến hơn so với lụa tằm dâu. Lụa tự nhiên có màu sắc và kết cấu khác biệt, và một vấn đề khác là bướm nở sớm có thể làm hỏng các kén khác, khiến sợi tơ bị đứt thành đoạn ngắn. Ngược lại, với tằm dâu, nhộng được nhúng nước sôi trước khi bướm hình thành hoặc xâu từng con, giúp các kén giữ nguyên và sợi tơ dài hơn, làm vải chắc chắn hơn. Lụa tự nhiên cũng khó nhuộm hơn.
Có bằng chứng cho thấy một lượng nhỏ tơ lụa tự nhiên đã được sản xuất tại vùng Địa Trung Hải và Trung Đông, cùng thời với lụa tằm được nhập từ Trung Hoa.
Diễn biến lịch sử
Trung Quốc

Ngành dệt lụa có nguồn gốc từ Trung Quốc, có thể từ khoảng năm 6000 trước Công Nguyên, nhưng chắc chắn là đã có vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên. Ban đầu, chỉ có vua mới được sử dụng hoặc ban tặng lụa; dần dần, lụa trở nên phổ biến trong các tầng lớp xã hội Trung Quốc và sau đó lan rộng ra các vùng khác ở châu Á. Lụa nhanh chóng trở thành hàng hóa cao cấp ở những nơi mà thương nhân Trung Hoa đặt chân đến nhờ vào độ bền và vẻ đẹp óng ánh của nó. Nhu cầu về lụa cao đã làm cho nó trở thành một ngành thương mại quốc tế. Vào tháng 7 năm 2007, các nhà khảo cổ phát hiện những mẫu vải lụa tinh xảo trong một ngôi mộ ở tỉnh Giang Tây, từ thời Đông Chu, cách đây khoảng 2500 năm.
Bằng chứng sớm nhất về việc mua bán tơ lụa được tìm thấy trong tóc của một xác ướp Ai Cập. Lụa đã được chuyển tới tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi qua con đường tơ lụa nổi tiếng.
Các vị vua Trung Hoa đã nỗ lực giữ bí mật nghề nuôi tằm để duy trì độc quyền. Tuy nhiên, người Triều Tiên đã học được nghề này vào khoảng năm 200 trước Công Nguyên, tiếp theo là người Khotan cổ vào nửa đầu thế kỷ 1 sau Công Nguyên và người Ấn Độ vào khoảng năm 300 sau Công Nguyên.
Việt Nam
Các nhà khảo cổ học tại Việt Nam đã phát hiện lụa trong các di tích từ thời kỳ đồ đồng ở mộ Châu Can và mộ Việt Khê thuộc văn hóa Đông Sơn. Những dụng cụ dệt chỉ được tìm thấy tại di chỉ Phùng Nguyên chứng tỏ rằng người Việt cổ đã biết đến kỹ thuật dệt lụa. Năm 2002, Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á phối hợp với Bảo tàng Hưng Yên đã khai quật một khu mộ hình thuyền ở Động Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Từ khoảng 1200 mảnh vải khai quật được, các nhà khảo cổ đã phát hiện 7 loại vải làm từ ba loại sợi và hai kiểu dệt khác nhau. Ngoài những loại vải tương tự như ở mộ Châu Can, mộ Động Xá còn tìm thấy hơn 20 mảnh vải làm từ sợi lanh nhuộm chàm. Những vải dệt với sợi gai cho thấy sự phong phú trong kiểu dáng thời đó, bao gồm các loại vải dùng cho trang trí hoặc may thêu trang phục. Năm 2005, hai tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Việt và Bùi Văn Liêm cùng với hai tiến sĩ người Úc đã khai quật một ngôi mộ ở Động Xá (Hưng Yên) có niên đại khoảng 2.100 năm (+-60 năm). Trong ngôi mộ, họ tìm thấy một tấm vải liệm còn nguyên vẹn, bên trong còn bọc thêm nhiều lớp vải khác. Họ kết luận rằng: 'Dữ liệu về vải sợi của đội khảo cổ Việt Nam - Úc ở Đông Xá xác nhận nghề dệt vải đã phát triển từ thời đại kim khí ở Bắc Việt Nam và vải giữ vai trò quan trọng trong mộ táng Đông Sơn, không chỉ dùng cho trang phục mà còn làm chiếu, vải bọc và vải liệm.' Theo thần tích làng Cổ Đô, huyện Ba Vì, nghề chăn tằm và ươm tơ đã có từ thời vua Hùng Vương thứ 6 nhờ công chúa Thiều Hoa khởi xướng. Do đó, dân làng vốn nổi tiếng với nghề dệt lụa đã thờ Thiều Hoa làm thành hoàng.
Theo thư tịch cổ, sách Hán Thư ghi nhận rằng người Lạc Việt đã biết trồng dâu và nuôi tằm từ xưa, và ghi rõ 'một năm có hai vụ lúa, tám lứa tằm'.
Tục ngữ Việt Nam có câu 'Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân' để chỉ rằng cách ăn mặc tạo nên vẻ đẹp bề ngoài, và câu 'Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông' để ca ngợi làng Vạn Phúc (quận Hà Đông, Hà Nội) nổi tiếng với nghề dệt lụa đẹp và lâu đời. Bài hát phổ thơ Nguyên Sa của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, 'Áo lụa Hà Đông,' cũng ca ngợi vẻ đẹp của lụa Hà Đông. Bộ phim 'Áo lụa Hà Đông,' đạt giải 'Khán giả bình chọn' tại Liên hoan phim Busan, Hàn Quốc vào tháng 10 năm 2006, tôn vinh vẻ đẹp của áo dài làm từ lụa Hà Đông. Lụa Lãnh Mỹ A ở thị xã Tân Châu, An Giang cũng nổi tiếng và được nhiều người biết đến.
Đặc điểm
Đặc điểm vật lý
- Mặt cắt ngang của sợi tơ có hình dạng tam giác với các góc bo tròn.
- Nhờ hình dạng tam giác, sợi tơ phản chiếu ánh sáng từ nhiều góc khác nhau, tạo nên hiệu ứng óng ánh đặc trưng.
- Người sử dụng có thể cảm nhận sự mịn màng và mềm mại của lụa, khác biệt hoàn toàn so với các loại vải làm từ sợi nhân tạo.
Đặc điểm cơ học
- Tơ lụa là một trong những loại sợi tự nhiên bền nhất, tuy nhiên khi ướt, độ bền của nó giảm xuống còn 20%.
- Tơ lụa có độ co giãn ở mức trung bình hoặc kém.
Đặc điểm hóa học
- Cấu trúc
- Khả năng giữ nước tốt: 11%
- Độ dẫn điện và dẫn nhiệt thấp, phù hợp với thời tiết lạnh, nhưng dễ dính vào da.
- Tơ lụa có thể bị suy giảm độ bền nếu tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời và dễ bị sâu bọ tấn công nếu không được giữ gìn sạch sẽ.
- Tơ lụa không hòa tan trong axit khoáng, nhưng dễ bị vàng bởi mồ hôi và tan trong axit sulfuric.
Cách sử dụng
Các loại vải dệt từ tơ
Ở Việt Nam, ngành dệt lụa đã tồn tại từ lâu, vì vậy tiếng Việt phân loại rất rõ ràng các loại vải dệt từ tơ. Trong đó, lụa là loại phổ biến nhất.
- Đũi (Hán tự:Đề綈) hoặc sồi (䋘) là loại vải dệt từ tơ kém chất lượng hơn, vì tơ có thể bị sần hoặc có cục, tuy nhiên vẫn bền bỉ.
- Lĩnh (綾) là loại vải dày được dệt từ nhiều sợi và phết hồ. Tại miền Nam, Lãnh Mỹ A là một ví dụ nổi tiếng của loại vải này.
- Đoạn (緞) tương tự như lĩnh nhưng dày hơn và có nhiều sợi hơn, tạo nên mặt vải óng ả. Đoạn thường được dùng làm áo nhồi bông trong mùa lạnh.
- The (Hán tự絁) hoặc sa (紗) là loại vải dệt thưa và dùng sợi mỏng, có thể nhìn xuyên qua.
- Xuyến là loại vải dệt tương tự như the nhưng sợi được chia thành nhiều khoảng thưa và mau hơn.
Trang phục
Vải lụa rất lý tưởng cho cả thời tiết nóng và lạnh. Trong thời tiết nóng, lụa có khả năng thấm mồ hôi tốt, trong khi đó, vào mùa lạnh, lụa giúp giữ ấm nhờ khả năng dẫn nhiệt kém.
Trang trí
Nhờ vào vẻ đẹp thanh thoát và ánh sáng của nó, lụa thường được sử dụng để làm màn cửa và rèm trang trí.
Ứng dụng khác
Ngoài việc may quần áo và các sản phẩm thủ công, lụa còn được sử dụng để làm dù nhảy, lốp xe đạp, chăn mền và túi đựng thuốc súng. Trước đây, áo giáp chống đạn cũng được chế tạo từ lụa cho đến khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất. Với một quy trình xử lý đặc biệt, lụa còn được dùng làm chỉ phẫu thuật không hấp thụ. Các bác sĩ Trung Quốc đã từng dùng lụa để chế tạo mạch máu nhân tạo. Lụa cũng được sử dụng trong viết lách.
Công nghệ sản xuất





Ghi chú
- Dâu tằm để lấy tơ
- Vải dệt từ tơ
- Con đường tơ lụa
- Tranh vẽ trên lụa
Sợi | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tự nhiên |
| ||||||||
| Sợi tổng hợp |
| ||||||||
| |||||||||
