TOP 14 bài đánh giá 2 khổ đầu Tràng Giang của Huy Cận là tài liệu nhằm giúp cho các em lớp 11 tự học một cách thuận lợi, đặc biệt là trong việc chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Từ đó đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra, bài thi giữa học kì 2 Ngữ văn 11 sắp tới.

Hai khổ thơ đầu bài Tràng giang mang đến một không gian rợn ngợp với nỗi buồn và sự cô đơn trải dài vô tận. Một sự lẻ loi, đơn côi của con người trước dòng đời, không tìm thấy sự kết nối với thế giới ngoài kia. Vậy sau đây là TOP 14 bài đánh giá 2 khổ đầu bài Tràng Giang hay nhất, mời các bạn cùng theo dõi và tải tại đây.
Đánh giá 2 khổ đầu bài Tràng giang Siêu hay
- Dàn ý đánh giá 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang
- Đánh giá 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang
- Đánh giá khổ 1, 2 bài Tràng giang
Dàn ý phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài Tràng Giang
I. Bắt đầu
- Giới thiệu về tác giả và tác phẩm.
- Phân tích hai khổ thơ đầu.
II. Nội dung chính
1. Khổ thơ thứ nhất
“Sóng nước tràng giang vỗ trôi buồn bã
Chiếc thuyền nhỏ trôi dạt theo dòng nước,
Thuyền trở về, lòng buồn ngập tràn;
Một cành củi khô một mình lạc trôi.”
a. Thiên nhiên
Tạo hình dòng sông sóng nước rộng lớn. Một chiếc thuyền nhỏ trôi dạt trên dòng nước, cành củi khô lơ lửng giữa sóng nước bao la.
Bức tranh thiên nhiên đậm chất cổ điển với hình ảnh dòng sông, sóng nước, chiếc thuyền.
b. Tâm trạng con người
- Thể hiện sự hòa quyện của sóng nước trong câu thơ “điệp điệp” và “song song” đối chiều trên dưới. Câu thơ mở ra một không gian mênh mang và nỗi buồn từ câu đầu đến câu thứ ba trở thành nỗi buồn theo những cơn sóng ùa vào nhau, vừa tập trung vừa lan rộng.
Nhịp 2--23 trầm buồn giống như nhịp trôi của dòng sông cũng là nhịp trôi của thời gian. - Cảm giác như dòng tràng giang đang trôi chảy giữa hai bờ, một bên là vô tận thời gian, một bên là vô cùng không gian.
- Hình ảnh “thuyền trôi dạt” gợi lên cảm giác lênh đênh.
- Thể hiện cảm xúc về sự chia lìa qua cặp từ đối “thuyền về” - “nước lại”. Chiếc thuyền trôi trên mặt nước như đang phản chiếu với dòng nước, kích thích nỗi buồn về sự không chắc chắn.
- Phép đảo ngữ “củi một cành khô” thể hiện nỗi buồn khô héo. Chi tiết thơ đầy tâm trạng vì là kết quả của sự lao động và lựa chọn kỹ lưỡng của nhà thơ.
c. Kết luận
Sự đối lập giữa hình ảnh dòng sông bao la rộng lớn với những vật nhỏ bé hữu hạn gợi lên nỗi buồn về sự lưu lạc chìm nổi.
Hình ảnh Tràng Giang không chỉ là dòng sông mà còn là biểu tượng của cuộc sống trên dòng đời chảy đi. Con thuyền trôi dạt trên mặt nước không chỉ là hiện thực mà còn là biểu tượng cho cuộc sống lênh đênh trên dòng đời trôi.
2. Khổ thơ thứ hai
“Cồn nhỏ lơ thơ gió hiu quạnh,
Tiếng làng xa vẫn vang chợ chiều.
Nắng trải, trời cao vời vợi;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
a. Thiên nhiên
- Không gian mở ra vô tận ba chiều, từng tia nắng chiếu xuống lòng sông đẩy bầu trời cao vút, vũ trụ trở nên vô cùng. “Sông dài, trời rộng” dường như không có ranh giới.
- Giữa không gian bao la những “cồn cát” nhỏ bé đìu hiu và tiếng chợ chiều vọng lại mơ hồ xơ xác như thật như không.
- Thiên nhiên hiện ra như một bức tranh hoang sơ cổ kính, khi đối mặt với thiên nhiên ấy con người dường như ở giữa ranh giới của thế gian và hư không.
b. Tâm trạng con người
- “Lơ thơ” đầu câu, “đìu hiu” cuối câu nhấn mạnh cảm giác cô đơn của cái tôi trữ tình. Nhà thơ thấy mình như những cồn nhỏ bị bao phủ bởi sự trống trải quạnh hiu.
- “Sâu chót vót” là kết hợp từ độc đáo thể hiện cảm nhận mới lạ. “Chót vót” là từ chỉ chiều cao, ở đây tác giả dùng để diễn đạt chiều sâu lạnh lẽo của cái nhìn lên cao như muốn thâm nhập vào vũ trụ để cảm nhận cái thăm thẳm hoang lạnh trong tâm hồn cũng như trong tâm trí con người.
- “Dài rộng”, “cô liêu” ở câu dưới diễn tả tâm trạng cô đơn
- Âm thanh tiếng chợ chiều gợi lên sự sống tan tác tàn lụi, xuất hiện giữa không gian ba chiều mơ hồ giữa hư không và hiện thực.
c. Kết luận
Sự đối lập giữa cái hữu hạn và vô hạn gợi lên nỗi buồn hoang vắng, cô đơn của một cái tôi mất mối liên hệ với vũ trụ, không tìm thấy điểm tựa trong cuộc sống.
III. Kết thúc
Tóm lược cảm nhận về hai khổ thơ.
Đánh giá 2 khổ thơ đầu trong bài Tràng giang
Bài viết mẫu 1
Huy Cận có vẻ như đã đưa tâm hồn thơ của mình, với nỗi buồn cổ điển sâu sắc, vào trong bài thơ để lặp lại những nỗi buồn của con người và đưa vào trong tác phẩm thơ. Tràng Giang có thể xem là bài thơ thể hiện rõ nhất phong cách tâm hồn đó của Huy Cận. Đặc biệt, hai khổ thơ đầu, với những nét vẽ đẹp và sâu lắng, mang chút buồn buồn phủ lên toàn bộ cảnh vật.
“Sóng tràng giang buồn điệp điệp
Chiếc thuyền trôi dạt theo dòng nước,
Thuyền về nước lại, lòng buồn ngập tràn;
Một cành củi khô lạc mấy dòng”
Nỗi ám ảnh về thời gian luôn chuyển động theo quy luật tuyến tính, một khi đã mất thì không thể trở lại, điều này khiến Xuân Diệu luôn sống vội vã, hối hả trong từng nhịp sống. Cũng như nỗi ám ảnh về không gian đã đưa vào thơ của Huy Cận những thế giới rộng lớn, mênh mông buồn sầu của thi sĩ. Ở Tràng Giang cũng không ngoại lệ, bắt đầu bài thơ là hình ảnh sông dài với những đợt sóng buồn điệp điệp kéo dài. Điều đặc biệt ở đây là cách tác giả dùng từ “tràng giang” để mô tả, nó mang lại màu sắc cổ điển, vì vậy con sông trong thơ Huy Cận dường như kêu gọi về bao nhiêu nỗi niềm xưa, bao nhiêu dấu vết lịch sử, bao nhiêu con sông hoàng hà cổ đại, từ đó trôi trên dòng thời gian vô hạn để dẫn người đọc về hiện thực.
Thuyền và nước, nỗi buồn của sự chia rẽ được thể hiện rõ trong nỗi buồn ở câu thứ ba. Nỗi buồn của dòng sông, nỗi buồn của dòng chảy vô tận đến vô số con đường, mang theo nỗi lòng của mình để hướng về khắp mọi nơi, sự chia cắt của thuyền và nước, như là sự chia cắt của tâm trí khiến cho sự vật cũng như tan tác, chia lìa. Câu thứ tư, mới thực sự là sự đặc biệt và cẩn trọng trong cách chọn từ của Huy Cận. Củi, đã là vật gợi nỗi khô héo, tàn lụi, thậm chí là mất dần sự sống. Tiếp đến, từ “một’ gợi sự đơn độc và lạnh lẽo trên dòng sông vô hạn, thế nhưng không chỉ là đơn độc, mà cành củi ấy còn vô phương vô trị lưu lạc về phía chân trời. Ở đây có thể thấy, Huy Cận đã mang vào trong thơ những chất liệu từ đời thực, những chất liệu sống để diễn đạt một cách chân thực nhất, mộc mạc nhất sự cô đơn, mất phương hướng, thậm chí là sự tuyệt vọng của chính tác giả, hoặc của những cái tôi thơ Mới lúc bấy giờ. Nếu trong Tràng Giang, Huy Cận mượn cành củi khô để diễn đạt tình cảnh lưu lạc, hoang hoải trong tâm hồn của những cái tôi thơ mới, thì Xuân Diệu cũng từng viết:
“Tôi như con nai bị chiều đánh lưới
Không biết đi về đâu, đứng đó sầu mênh mông”.
Rõ ràng, Huy Cận đã mang vào trong thơ một cách chân thực và riêng biệt những chất liệu của cuộc sống.
“Cồn nhỏ gió đìu hiu,
Làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Thiên nhiên một lần nữa xuất hiện trong thơ nhưng chỉ là những cảnh vật gợi sự khô héo, đìu hiu tàn lụi. Những cồn nhỏ như đang nương vào cơn gió để khe khẽ kể về nỗi buồn của mình. Và ngọn gió, dường như cũng mang trong nó nỗi buồn man mác của cảnh vật mà hồn thơ âu sầu ảo não của Huy Cận đã họa thành. Tiếp đến, chợ vốn là là hình ảnh của không gian sống, là biểu tượng của cuộc sống nhộn nhịp, đông đúc. Nhưng chợ ở đây, cũng là chợ chiều đã vãn. Cảnh vật héo buồn, sinh hoạt và cuộc sống của con người cũng đi dần vào thế nghỉ ngơi, vào sự buồn bã hiu quạnh. Hai câu thơ cuối có thể nói là tuyệt bút nên thơ của Huy Cận, cách dùng từ độc đáo của thi nhân đã lột tả một cách chính xác cảm giác của nhân vật trữ tình khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn. Những chuyển động đối lập nhau : lên-xuống cùng với cách tạo vế đối nắng xuống, trời lên tạo cảm giác như một chiếc tù giam lỏng dồn nén con người ở giữa cảm thấy ngột ngạt, bí bách và chán chường trong sự vận động xoay guồng của tạo hóa. Sâu chót vót là cụm từ độc đáo, vừa diễn tả độ sâu, vừa diễn tả độ cao, vừa tạo cảm giác mở về sự cảm nhận của người đọc. Và rồi tiếp nối mạch cảm xúc ấy, là cảm giác cô liêu, cô đơn đến cùng cực của con người giữa sông dài trời rộng, giữa sự vô tận.
Chỉ với 8 câu thơ, Huy Cận đã đặt linh hồn vào từng câu chữ, để cảnh vật sống dậy với chất buồn thấm đẫm trong từng thớ vỏ, đồng thời tạo nên cảm giác âu sầu ảo não vốn rất đặc trưng trong thế giới thơ Huy Cận.
Bài mẫu số 2
Có lẽ thiên nhiên hùng vĩ và bao la luôn làm xao động lòng người, nó đâm sâu vào tâm trí khiến nỗi buồn càng thêm sâu sắc, vì vậy việc sử dụng vẻ đẹp bao la của thiên nhiên để diễn đạt tâm trạng đã được nhiều thi sĩ thời trung đại áp dụng trong thơ ca. Nhưng Huy Cận đã tiếp thu yếu tố đó vào tác phẩm 'Tràng giang' của mình, phối thêm những đặc trưng mới của thơ hiện đại; thông qua đó, Huy Cận đã tạo ra cho người đọc ấn tượng về không gian của tác phẩm, đặc biệt là trong hai khổ đầu.
Ngay từ tựa đề 'Tràng giang' và lời đề từ 'Bâng khuâng trời rộng sông dài', một không gian sông nước bao la đã hiện ra. 'Tràng' tức là dài, 'Giang' là sông. Sông dài, trời rộng mở ra một không gian bao la, tươi đẹp, nhưng buồn, nhưng dấy lên trong tâm hồn tác giả một nỗi 'bâng khuâng' lạ kỳ.
Khổ đầu tiên, Huy Cận viết:
'Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng'.
Không gian bao la, rộng lớn hiện hữu trước mắt, nhưng cũng bởi vậy mà con người càng cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Giữa bạt ngàn của sông nước, con người nhỏ bé, lặng lẽ, cô đơn. Đứng trước không gian ấy, nỗi lòng Huy Cận cũng dâng trào. Từng đợt sóng xô trên 'Tràng giang' là 'điệp điệp' nỗi buồn trong tâm hồn thi sỹ. Sóng của thiên nhiên vỗ nhẹ thì cơn sóng lòng dào dạt ùa về. Và từ đây, một không gian thứ hai xuất hiện đó là không gian của tình cảm, cảm xúc trong nỗi lòng tác giả. Nhìn về phía sông nước bao la, tác giả thấy một con thuyền cứ trôi theo mái nước song song. Có lẽ con thuyền ấy trôi rất nhẹ, không có chút mệt mỏi, nhưng vô thức và cô đơn. Con thuyền cứ trôi mãi theo dòng nước song song, hai chữ 'song song' như hai đường thẳng dài tít tắp, cứ chạy mãi mà không bao giờ gặp, cũng giống như thân phận của con thuyền kia, vô định và bơ vơ, lạc lõng. Nhìn con thuyền mà nỗi sầu của tác giả như dâng cao, không gian rộng lớn của thiên nhiên đã thôi thúc không gian lòng, khiến tác giả cảm thấy nỗi sầu của mình cũng vô định như con thuyền ấy, 'sầu trăm ngả'
Một hình ảnh buồn hiện ra trước mắt tác giả: 'Củi một cành khô lạc mấy dòng'. Không biết cành củi đó là một vật hữu hình có thực, hay nó là một hình ảnh chợt xuất hiện trong nỗi cô đơn của Huy Cận, bởi nó cũng nhỏ bé và lạc lõng như con người. Giữa dòng đời bao la, giữa sự xô đẩy của từng dòng sóng, nó cứ trôi lạc lõng, lênh đênh. Nỗi sầu trong tác giả càng sâu sắc. Việc sử dụng những hình ảnh thiên nhiên bao la là một nét quen thuộc trong đường thi, nhưng Huy Cận đã nhờ nó mà thầm nói lên nỗi lòng của mình, nhờ không gian thiên nhiên làm nổi bật không gian tình cảm.
Ở khổ thơ thứ hai, vẫn thấy những hình ảnh trải dài theo không gian, nhưng nỗi cô đơn trong tâm trạng tác giả càng trải dài hơn nữa:
'Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu'.
Không gian hiện ra không chỉ được tác giả quan sát bằng thị giác, mà tác giả còn lắng tai nghe và càng sâu sắc hơn - một nỗi sầu về nhân thế, về kiếp người, về cuộc sống thời đó. Đôi mắt tác giả buồn theo và nhìn xung quanh cảnh vật, đôi tai nhạy cảm lắng nghe những âm thanh thưa thớt, vãn dần ở xa xa. Cồn nhỏ lơ thơ, nhỏ bé, cơn gió thì thổi nhẹ nhàng nhưng đìu hiu, như cũng buồn giống tác giả. Huy Cận tinh tế cảm nhận cơn gió ấy, sao mà buồn, sao mà lặng lẽ, cô liêu.
Tiếng làng xa ở nơi đâu thưa thớt vãn buổi chợ chiều, cứ nhỏ dần, nhỏ bé trong sự lớn mạnh của thiên nhiên. Huy Cận đưa mắt nhìn lên bầu trời kia, tâm trạng buồn của Huy Cận cũng tràn vào bầu trời bao la ấy một nỗi buồn sâu thẳm. Bởi vậy khi nắng xuống, trong con mắt Huy Cận, trời không cao mà lại 'sâu chót vót', cùng như không gian sâu thẳm của nỗi buồn. Sự suy tư của Huy Cận như đi vào bầu trời ấy, khoét sâu đến tận vũ trụ xa thẳm ngoài kia, buồn đến lạ lùng. Nhìn lại khung cảnh thiên nhiên bao la ấy, vẫn trời rộng, sông dài, vẫn bến cô liêu và trong lòng tác giả vẫn ồn ào của một nỗi sầu, một nỗi bâng khuâng cô đơn và vắng vẻ. Cảnh quan, không gian bao la của thiên nhiên mở rộng ra trước mắt Huy Cận nhưng mọi thứ đều mờ ảo, mang một cái nét rất trơ trọi, bâng khuâng. Tuy mờ ảo nhưng lại mang một triết lý sâu xa. Mọi vật hữu hình hiện ra trong mắt Huy Cận đều buồn, đều cô đơn, cũng như thời thế đất nước bấy giờ, cũng băn khoăn và lạc lõng, trôi nổi vô định như con thuyền, nguy hiểm và nhỏ bé như cây củi khô lạc giữa dòng sông. Con người như trôi lạc giữa dòng đời, dòng cuộc sống. Bởi vậy, tuy mọi thứ đều mờ ảo như được phủ một lớp khói buồn nhưng đều tô đậm tính triết lý về cuộc sống và con người, cũng như một nỗi buồn của người con yêu nước - Huy Cận.
'Tràng giang' vẫn là một tác phẩm nghệ thuật cao mà khó ai có thể đạt được, bởi sự khéo léo và tinh tế của tác giả trong việc kết hợp giữa không gian thiên nhiên với không gian tâm tình, quan trọng hơn là vì 'Tràng giang' chứa đựng một triết lý sâu xa về cuộc sống, về đất nước. Tuy không diễn đạt trực tiếp nhưng Huy Cận đã in dấu tình yêu quê hương vào 'Tràng giang', cũng sự lặng lẽ buồn trước cuộc sống thời kỳ đó. Vì vậy, 'Tràng giang' luôn nổi tiếng và gợi lại cảm giác sâu lắng trong lòng độc giả sau này. Một nỗi buồn đã qua đi từ lâu, nhưng dư vị ấy, cảm giác ấy, nỗi buồn ấy vẫn còn lại trong lòng người khi đọc 'Tràng giang', khiến họ phải suy ngẫm về cuộc sống và con người.
Bài làm mẫu 3
Nhắc đến nhà thơ Huy Cận là nhắc đến một tinh thần thơ cổ điển với nỗi buồn sâu lắng, mênh mông. Bài thơ 'Tràng giang' là một bức tranh tiêu biểu cho phong cách thơ của ông. Bài thơ viết về cảnh sông nước nhưng sau bức tranh thiên nhiên rộng lớn, u tịch ấy là một tâm hồn cô đơn, thấm đẫm nỗi buồn của người thi sĩ. Đặc biệt, trong hai khổ thơ đầu tiên, Huy Cận không chỉ mở ra khung cảnh sông nước buồn vắng mà còn hé lộ bức tranh tâm trạng thầm kín của chính mình:
'Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng'
Hình ảnh 'sóng'' trong câu đầu gợi ra những con sóng thực trên dòng giang trùng điệp đồng thời gợi cả những cơn sóng lòng đầy ưu tư trong lòng nhà thơ. Sóng trên dòng sông dài rộng kia cũng như lòng người vậy, mãi khắc khoải một nỗi buồn trùng điệp. Từ láy 'điệp điệp' càng gợi tả nỗi buồn cứ lặp đi lặp lại của nhân vật trữ tình, từ ngày này qua tháng khác, nỗi buồn vừa rộng lại vừa dài, vừa sâu lại vừa xa. Con sông thoáng 'gợn' đôi bờ mà lòng người khắc khoải, nỗi u sầu cứ giăng mắc mãi khôn nguôi. Giữa dòng trường giang rộng lớn ấy, hình ảnh 'con thuyền xuôi mái' xuất hiện như một nét điểm xuyết cho bức tranh thơ. Con thuyền cứ lững lờ nhẹ trôi trong không gian mênh mông của sông nước càng làm nổi bật ấn tượng về sự đơn độc, lẻ loi, vô định. Thiên nhiên mênh mông quá, lòng sông dài rộng quá, biết tìm đâu bến đỗ cho con thuyền kia? Thuyền cứ thế thả mình xuôi theo những luồng nước song song, đi về mãi tận cuối chân trời. Nhịp thơ 4/3 kết hợp với các từ ngữ vần bằng càng gợi thêm những nét mênh mang của vùng sông nước vừa như gần gũi lại vừa như xa vắng:
'Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.'
Thuyền và nước thường liên kết, gắn bó, nhưng trong tâm trí của Huy Cận, thuyền và nước lại không cùng đến một điểm cuối 'thuyền về nước lại'. Bằng cách đặt 'thuyền về nước lại' vào tình huống trái ngược, ông đã diễn đạt nỗi buồn xa cách, chia lìa. Cụm từ 'sầu trăm ngả' lan rộng nỗi buồn, phủ kín bức tranh thơ. Liệu thiên nhiên đang gửi gắm 'sầu trăm ngả' hay chính trái tim chứa đựng nỗi buồn? Sóng nước vô biên, thuyền không bến đậu dường như là cực điểm của nỗi buồn, hình ảnh cành củi khô lạc lõng giữa dòng làm cho tâm trí người đọc càng thêm uất ức, khao khát. Phép đảo ngữ được sử dụng với sự tinh tế để nhấn mạnh sự lạc lõng, cô đơn của vật giữa vật, của con người giữa con người, của cuộc đời giữa vũ trụ bao la. Số từ 'một' đưa ra sự đơn độc, cô đơn, ít ỏi, từ 'củi' kết hợp với 'khô' gợi lên hình ảnh nhỏ bé, héo hon, không sự sống. Cành củi khô trôi dạt không biết đi về đâu giữa những dòng nước. Không gian tâm trạng được tác giả vẽ ra bằng những từ ngữ giản dị nhưng khiến người đọc không thể không cảm thấy xót xa, u hoài.
Nếu khổ thơ đầu tiên nhấp nhô hình bóng con người nhưng vẫn mơ hồ, thì khổ thơ thứ hai đã có dấu hiệu của cuộc sống con người nhưng vẫn xa vắng, trống vắng:
'Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.'
Trong cảnh lơ thơ, đìu hiu của cồn nhỏ, tiếng con người nhưng xa xôi, không thể vươn tới, vượt qua được sự yên bình của buổi hoàng hôn trên sông. Âm thanh xa xôi, nhạt nhòa, không rõ ràng càng làm cho nhân vật trữ tình khao khát gặp gỡ, trò chuyện và đồng cảm. Tuy nhiên, hy vọng càng lớn, nhưng càng xa xôi:
'Nắng rọi, trời cao vờn vợt,
Sông dài, trời rộng, bến cô đơn.'
Không gian trải rộng, mênh mông, cao, sâu đến tận bầu trời. Sự đối lập của 'Nắng rọi, trời cao', sông dài trời rộng, làm cho không gian trở nên bao la, ám ảnh, vô tận. Dù sông nước mênh mông, nhưng vẫn không thể che lấp được nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn, từ 'cô đơn' ở cuối câu thơ đã thể hiện hết nỗi buồn không dứt của thi sĩ, nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai.
Nhà thơ Huy Cận đã sử dụng những hình ảnh cổ điển như sông, trời, thuyền, nước; chọn thời khắc hoàng hôn để gợi nên nỗi buồn, kết hợp với các biện pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để làm nổi bật bức tranh cảnh - tình. Hai khổ thơ đầu với 8 câu vần chỉ trong 56 chữ, mỗi chữ đều đầy ý nghĩa, đầy tình cảm. Khi kết thúc câu thơ, người đọc không thể không chìm đắm trong nỗi buồn cùng với thi sĩ.
Bài làm mẫu 4
Huy Cận là một trong những tác giả đáng chú ý trong trào lưu thơ mới. Thơ của Huy Cận không chỉ có đặc điểm cổ điển mà còn chứa đựng nhiều tư tưởng triết học. 'Tràng giang' thể hiện nỗi buồn của cái tôi đối diện với thiên nhiên vô biên, lạnh lùng, nơi mà tâm hồn của thi sĩ chứa đựng tình yêu thương với quê hương, đất nước.
'Sóng trên dòng giang buồn trùng điệp điệp,
Con thuyền nhẹ nhàng trôi theo dòng nước.
Thuyền trôi về phía bến, buồn trăm ngả;
Cành củi khô lạc giữa dòng nước.'
Khổ thơ trên là khổ thứ nhất trong bài thơ 'Tràng giang'. Nghệ thuật so sánh được khai thác sáng tạo, khiến cho một mặt bài thơ vẫn giữ được vẻ đẹp của thơ cổ, tạo ra không gian trang trọng, uy nghi, mặt khác, tạo nên sự uyển chuyển, linh hoạt của giọng điệu thơ, tránh được sự cứng nhắc, khuôn phép dễ thấy trong một số bài thơ Đường thế kỉ trước. Hình ảnh bèo trôi trên dòng nước nối tiếp ý nghĩa của cành củi khô trong khổ thơ đầu, đó là sự trôi chảy không định hướng của cuộc sống con người, mất mát của mỗi con người trong cuộc sống của mình. Từ 'không' xuất hiện hai lần để làm nổi bật sự không hi vọng từng khao khát tìm kiếm một chút kết nối: không con đò trên sông, không cây cầu nối liền hai bờ bến. Tất cả chỉ làm tăng thêm sự bao la, lặng lẽ của công việc và cả sự trống trải, lặng lẽ của cảnh vật. Đặt trong toàn bộ bài thơ, khổ 1, 2, 3 với sự xuất hiện lần lượt của hệ thống hình ảnh nhưng không tạo nên không gian ấm áp, chỉ làm nổi bật nỗi buồn cô đơn, hiu quạnh của tâm hồn con người và cảnh vật.
Vào những năm 30 của thế kỷ trước, đây là những câu thơ mới lạ, bởi trong đó xuất hiện hình ảnh giản dị, 'bình dân' như 'củi một cành khô'. Thơ xưa thường nhắc đến những hình ảnh cao sang mà giới 'trí thức, quý tộc' thường ưa thích như trăng, hoa, tuyết... Đến thời kỳ Thơ mới, những hình ảnh 'bình dân' như 'củi một cành khô', 'con nai vàng ngơ ngác', con hổ 'gặm một mối căm hờn trong cũi sắt' v.v... mới nổi lên, như là một dấu hiệu của một 'cuộc cách mạng trong thơ' (Hoài Thanh). Họ không biết đi đâu, về đâu, giống như cành củi khô giữa ngã ba dòng nước.
Khổ thơ thứ hai, cũng là khổ thơ cuối cùng của bài thơ, hài hoà giữa nét cổ điển và hiện đại, được đánh giá là đặc sắc nhất trong cấu trúc của bài thơ
'Cồn nhỏ trôi lơ thơ gió đìu hiu,
Tiếng làng xa vọng về chợ chiều.
Nắng rọi, trời cao vờn vợt;
Sông dài, trời rộng, bến cô đơn.'
Cùng với những hình ảnh pha trộn giữa sự trang trọng và giản dị, truyền thống và hiện đại, ta còn nghe thấy tiếng vang của buổi chợ chiều từ xa:
“Tiếng làng xa vọng về chợ chiều”
Đoàn Văn Cừ đã mô tả thành công vẻ đẹp đặc trưng của Việt Nam trong bài thơ nổi tiếng về Chợ Tết:
“Ánh nắng vàng trên cỏ trải dài,
Lá đa rụng rơi quanh quán chợ”.
Các từ 'cao', 'sâu', 'rộng', 'dài' được dùng để mô tả không gian rộng lớn và bao la. Đặc biệt, việc sử dụng từ đảo ngữ và đối ngữ giữa 'lên' và 'xuống', 'cao' và 'sâu' tạo ra ấn tượng cho người đọc.
Đây là một bức tranh tuyệt vời, thể hiện tình yêu sâu đậm của nhà thơ dành cho thiên nhiên quê hương. Trong bức tranh với hàng tầng mây núi chồng chất, nổi bật hình ảnh một chú chim nhỏ đang rơi xuống, cánh lấp lánh dưới ánh hoàng hôn như giọt nắng từ trời rơi xuống. Nhà thơ cảm nhận cả không gian vũ trụ đang gánh nặng lên đôi cánh nhỏ bé, khiến chú chim phải chao đảo. Hai câu thơ cuối lấy từ Hoàng Hạc Lâu nhưng chỉ cần nhìn thấy ánh khói trắng trên sông, người xưa đã nhớ nhà. Còn Huy Cận không cần yên bái cũng đủ để ông nhớ nhà thương nhớ. Nỗi buồn hiện đại lớn hơn nỗi buồn của người xưa. Câu thơ về sóng gió tràng giang dường như chỉ còn gập ghềnh một chỗ.
Hai khổ thơ trên sử dụng thể thơ thất ngôn rất hợp lý, hiệu quả kết hợp với từ ngữ, biện pháp tu từ, thủ pháp nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật nỗi buồn cô đơn của cái tôi trước thiên nhiên, thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín. Tràng giang là bài thơ tiêu biểu cho phong trào thơ mới, không chỉ miêu tả quê hương đất nước mà còn thể hiện tình yêu nước sâu nặng và nỗi buồn cô đơn, bơ vơ của con người ngay trên chính quê hương mình.
Phân tích khổ 1, 2 bài Tràng giang
Bài làm mẫu 1
'Trên cánh đồng văn chương màu mỡ, những người nghệ sĩ như những hạt cát bụi bay lượn trong không khí để tìm cho mình những dư vị cuối cùng'. Đối với Huy Cận, ông tìm về nơi yên bình của quê hương, xứ sở màu mỡ đó là dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, nguồn cảm hứng của ông từ đó và đọng lại trong 'Tràng Giang', điều đó được thể hiện trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.
Thơ là tiếng nói của tình cảm và cảm xúc. Nếu không có cảm xúc, người nghệ sĩ không thể sáng tạo ra những bài thơ hay, và ngôn từ chỉ là xác chữ nằm thẳng đơ trên trang giấy. Để sáng tạo, thi sĩ cần phải có tâm hồn giàu rung cảm, cảm thông sâu sắc với cuộc đời, từ đó mới có thể tạo ra những vần thơ sâu lắng. Những cảm xúc đó thôi thúc tác giả sáng tác về quê hương với hình ảnh thiên nhiên quen thuộc. Huy Cận, với tâm hồn rung động, đã biến những cảm xúc đó thành những vần thơ sâu lắng. Tràng Giang là một trong những tác phẩm xuất sắc của ông, bài thơ mang đậm cảm xúc và được viết sau khi tác giả đứng bên bờ Nam Bến Tràng, ngắm sông Hồng mênh mang, cảm nhận những cảm xúc của thời đại đổ về, thi sĩ thấy cái tôi của mình quá nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó là lý do ông viết bài thơ này, và hai khổ thơ đầu tiên của bài thơ là cảnh sông Hồng mênh mang, là nỗi buồn vạn cổ của thi sĩ trước cảnh vật.
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng, Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng Làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến cô liêu”
Mở đầu là cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước, ở khổ thơ đầu tác giả sử dụng một loạt các từ như “thuyền, nước”, là các từ thường dùng để miêu tả cảnh thiên nhiên đẹp đẽ. Đây như là một bức tranh thủy mặc, đầy đủ cảnh sông nước lãng mạn, tĩnh lặng êm đềm nhưng lại buồn đến tê tái. Nói về nỗi buồn đó, Hoài Thanh đã nhận xét: “thiên nhiên trong thơ mới đẹp nhưng lại thấm đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng”. Nỗi buồn ấy lại được Huy Cận lý giải rằng “chúng tôi lúc đó có một nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên kéo dài triền miên”. Đó là nỗi buồn của những con người sống trong cảnh nước mất nhà tan, có lẽ thế nên trong dòng Tràng Giang chỉ có một giải buồn bát ngát.
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song”
Từ “điệp điệp” gợi lên hình ảnh những con sóng vỗ lên hết lớp này đến lớp khác, triền miên vô tận. Buồn điệp điệp miêu tả cái buồn thiên nhiên nhưng thực chất nó đang diễn tả một nỗi buồn của thi nhân, đang gợn lên theo từng đợt sóng. Những con sóng vỗ vào bờ. Thuyền và nước là hai cảnh vật luôn đi cùng nhau gắn bó với nhau không bao giờ xa cách, vậy mà trong mắt Huy Cận nó trở nên bơ vơ lạc lõng. Từ đó mà nỗi sầu của nhà thơ lan tỏa ra vũ trụ “sầu trăm ngả” ở đây không gian vừa được mở ra về chiều rộng, vừa vươn lên theo chiều dài. Vì vậy hình ảnh này khiến ta liên tưởng đến hai câu thơ trong bài “trăng cao” của Đỗ Phủ
'Vô biên niên mộng tiêu tiêu hạ, Bất tận Trường Giang cổ cổ lai'
Thuyền biểu trưng cho sự sống của con người, nhưng cũng chỉ lướt qua trong chốc lát, sau đó lại trở về bến bờ, trả lại sự bình yên. Nhìn những đợt sóng, người ta nhớ đến cuộc sống lưu lạc, liệu tác giả có từng trải qua điều này không.
'Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng'
Ở hai câu thơ này, Huy Cận đã dùng phép đối rất táo bạo. Dù đối ý, đối hình, câu thơ vẫn cân xứng hài hòa giữa con thuyền và cành củi khô trôi trên dòng Trường Giang. Trong thơ của ông, nỗi buồn vạn cổ, buồn thiên thu luôn chiếm ưu thế. Đến đoạn thơ này, nỗi buồn mở rộng khắp cảnh vật. Thay vì sử dụng tùng cúc trúc mai, ông đưa vào thơ hình ảnh rất bình thường và quen thuộc: “Củi khô”. Điều này đã tạo ra một điểm nhấn mới trong thơ của Huy Cận, khiến cho khổ thơ này được xem là đặc sắc nhất trong bài, với âm điệu buồn tê tái, khám phá được sự trống rỗng, mênh mang của cảnh vật thiên nhiên, cũng như nỗi buồn triền miên của Huy Cận.
Tiếp theo nỗi buồn vạn cổ, buồn thiên thu ấy, nỗi buồn càng trở nên sâu sắc hơn. Bức tranh sông nước được vẽ thêm đất, thêm làng nhưng vẫn buồn đến tê tái, nỗi buồn đó được gợi lên từ những cồn nhỏ, sự hiu quạnh của gió và sự tĩnh lặng của cảnh vật.
'Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều'
Huy Cận cho biết ông đã cảm nhận được sự đìu hiu ấy từ Chinh Phụ Ngâm
'Non kì quạnh quẽ trăng treo, bên Phi gió thổi đìu hiu mấy gò'
Cảnh sắc trong Chinh Phụ Ngâm đã yên lặng, hiu quạnh nhưng cảnh trong Tràng Giang lại càng vắng vẻ và hiu quạnh hơn. Từ 'lơ thơ' diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn nhỏ nổi lên giữa không gian trống rộng, thể hiện nỗi buồn man mác theo gió nhẹ lan tỏa lên từng cảnh vật. Nhà thơ muốn tìm đến hơi ấm của con người để xua tan cái lạnh lẽo, hiu quạnh ở đây.
'Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều'
Tiếng chợ đâu vẫn mơ hồ, từ xa xưa Nguyễn Trãi đã sử dụng âm thanh ấy trong bài Cảnh Ngày Hè
'Lao xao chợ cá làng Ngư Phủ, Dắng dỏi Cầm ve lầu tịch dương'
Âm thanh của tiếng chợ vãn đã phai nhạt và không rõ ràng. Như vậy, nhà thơ sử dụng hình ảnh tĩnh để diễn tả nỗi buồn sâu lắng của mình. Hai câu thơ tiếp theo trong khổ thơ Tràng Giang đã đạt đến đỉnh cao của sự tinh tế
'Nắng xuống trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến cô liêu'
Ở đây, Huy Cận miêu tả không gian ba chiều giữa cảnh và người, như một vật nhỏ bé chơi vơi giữa bến đò với những tia nắng chiếu xuống mặt đất trong xanh, khiến ta liên tưởng đến bầu trời xanh được đẩy lên cao hơn, xa hơn. Tác giả không sử dụng từ 'cao chót vót' mà thay vào đó là 'sâu' để diễn tả độ cao của trời xanh, từ đó làm cho con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng hơn giữa cảnh vật. Sự lạc lõng này tạo ra một nỗi buồn tê tái, chứa đựng cảm xúc sâu lắng của tác giả, với nỗi buồn vạn cổ, buồn thiên thu.
Thành tựu của hai khổ thơ chính là sự sáng tạo nghệ thuật, sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Sử dụng nhiều tài liệu trong thơ cổ, từ ngữ đơn giản, giàu hình ảnh. Đọc những trang thơ của Huy Cận, ta không thể không nhớ đến nỗi buồn sâu lắng của thi sĩ trước cảnh vật, cảnh nước mất nhà tan. Bài thơ vừa mang đậm phong cách của Huy Cận, vừa là một dấu son chói lọi trong nền thơ ca Việt Nam và trong lòng độc giả.
Bài mẫu 2
Là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, Huy Cận để lại cho văn học Việt Nam một loạt tác phẩm đặc sắc. Bài thơ “Tràng Giang” được ông viết trong thời kỳ trước cách mạng, với một nỗi u buồn, sự bế tắc của một cuộc đời, trôi nổi lênh đênh không điểm dừng. Nỗi buồn ấy được thể hiện rõ nét ngay trong hai khổ thơ đầu.
Mở đầu bài thơ, Huy Cận cho thấy những hình ảnh rất quen thuộc: sóng, con thuyền, dòng sông để gợi lên cảm xúc:
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”
Tác giả khéo léo sử dụng âm Hán Việt “ang” cho danh từ “tràng giang” gợi một không gian rộng lớn, rờn ngợp. Đây cũng là một trong những phong cách làm thơ rất nổi bật của Huy Cận. Lúc này, tâm trạng của nhà thơ trở nên “buồn điệp điệp” – nỗi buồn được cụ thể hóa, được ví như từng đợt sóng dâng trào gối vào nhau, liên tiếp vào bờ. Nỗi u buồn ấy dường như tồn tại vĩnh cửu, cứ âm ỉ và dai dẳng mãi trong lòng tác giả. Từ láy “song song” như muốn nói đến hai thế giới, dù luôn gần gũi ở bên nhau nhưng chẳng bao giờ được gặp nhau.
Thông qua 2 câu thơ, tác giả đã cho chúng ta thấy được sự cô độc, đơn lẻ của con thuyền trên dòng sông, ẩn dụ cho hình ảnh cô độc của con người trên dòng đời. Huy Cận đã thành công sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để tạo nên nét cổ kính cho câu thơ. Con thuyền và dòng nước luôn gắn bó mật thiết với nhau, nhưng qua cách thể hiện của nhà thơ chúng lại có hành động trái chiều, lạc nhịp gọi cảm giác cách xa, cô đơn,
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Có lẽ Huy Cận là người đầu tiên sử dụng hình ảnh cành củi khô trong lời thơ của mình, một hình ảnh độc đáo và táo bạo. Tác giả muốn cho mọi người thấy những nét phá cách trong phong trào thơ mới, khi mà trước đây những vật tầm thường rất ít được cho vào. Hình ảnh củi khô đời thường với một vẻ đẹp giản dị lại có một giá trị biểu đạt ghê gớm. Huy Cận khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ và chọn lọc những từ đơn để miêu tả sự cô đơn của cảnh củi khô lênh đênh trong sự vô tận của dòng nước.
Trong khổ thơ thứ 2, tác giả miêu tả cảnh vật cô quạnh, vắng vẻ với không gian mở rộng:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Các từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi nên sự nhỏ bé, ít ỏi giữa một không gian mênh mông vô tận – đây chính là sự cảm nhận bằng thị giác. Ngoài thị giác thì tác giả còn có những cảm nhận bằng thính giác với những âm thanh của cuộc sống với tiếng làng xa vãn chợ chiều. Màu nắng chiều cùng với cảnh vật sông dài, trời rộng, bến thuyền cô liêu càng khắc họa nỗi cô đơn, nỗi buồn của con người trước cuộc đời. Người đọc có thể dễ dàng cảm nhận thấy sợ vô vọng của tác giả khi không thể tìm thấy sợi dây liên hệ nào với cuộc đời.
Hai khổ thơ đầu bài “Tràng Giang” của tác giả Huy Cận mang đến một không gian rợn ngợp với nỗi buồn và sự cô đơn trải dài vô tận. Một sự lẻ loi, đơn côi của con người trước dòng đời, không tìm thấy sự kết nối với thế giới ngoài kia. Cũng có lẽ vì vậy mà tác phẩm luôn được nhiều độc giả yêu thích, không bị bụi của thời gian phủ mờ.
Bài làm mẫu 3
Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữa yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.
Ngay từ tiêu đề bài thơ, tác giả đã tổng quát được ý nghĩa và cảm xúc chính của bài thơ. Hai từ “Tràng giang” như một dòng sông dài, rộng lớn và bao la. Từ Hán Việt này gợi lên hình ảnh những bài thơ Đường của Trung Quốc. Nhưng cũng chính con sông này khiến người ta nghĩ đến tâm trạng của con người, muốn nhắc đến những số phận lênh đênh, bé nhỏ trên dòng nước dài tư tưởng và sông của nỗi buồn u uất.
Lời mở đầu từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” một lần nữa đề cập đến chủ đề chính của bài thơ là cảm giác không thể chia sẻ với ai khi đứng giữa trời đất bao la. Toàn bộ bài thơ phản ánh được vẻ đẹp kết hợp giữa hiện đại và cổ điển, điều đặc trưng trong thơ của Huy Cận.
Đầu bài thơ, khổ thơ đầu tiên đã đưa người đọc đến với một dòng sông mang theo nhiều nỗi buồn sâu thẳm:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Với những từ ngữ biểu lộ sự buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu trăm ngả”, “lạc mấy dòng” kết hợp với cụm từ “điệp điệp”, “song song” dường như đã phản ánh hết tâm trạng và nỗi buồn không lối thoát của tác giả trong một thời đại đầy bất công như thế này.
Ngay từ khổ thơ đầu, sự kết hợp giữa nét cổ điển và hiện đại đã được thể hiện rõ. Tác giả sử dụng hình ảnh con thuyền trôi trên dòng nước và đặc biệt là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, cô đơn trên dòng nước bao la, vô tận, vô đáy. Câu thơ thực sự rất sâu sắc, với con sông dài, sâu thẳm mang đến vẻ đẹp u buồn, trầm lặng khiến người đọc cảm thấy xót xa và thương cảm.
Thuyền và nước thường không thể tách rời nhau, nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, có lẽ là sự chia lìa không lời, nghe xót xa và đau lòng quá. Một nỗi buồn sâu thẳm, kết nối với dòng nước lặng lẽ. Điểm đặc biệt của khổ thơ là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” như một biểu tượng cho sự cô đơn, bé nhỏ, yếu đuối, trôi nổi khắp nơi. Câu thơ có thể diễn đạt tâm trạng của những nhà thơ mới thời đó, một cuộc sống đầy sóng gió, đầy khó khăn như thế này.
Ở khổ thơ thứ hai, cảm giác hiu quạnh càng trở nên rõ rệt:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Hai câu thơ đầu đã vẽ nên một khung cảnh cô đơn, buồn bã và yên bình của một làng quê thiếu sức sống. Đây có thể là quê hương của tác giả. Hình ảnh “cồn nhỏ” với tiếng gió đìu hiu, bên dòng sông, như một nỗi buồn vô hình.
Ngay cả tiếng ồn ào của phiên chợ chiều xa xôi cũng không thể nghe thấy, liệu phiên chợ ấy có buồn như vậy không. Một câu hỏi khẽ nhẹ đặt ra, đầy ý nghĩa, hỏi người hay chính tác giả đang tự hỏi mình. Từ “đâu” đặt ra một cách thê lương, không điểm tựa để níu giữ. Khung cảnh hoang sơ, tĩnh lặng với bến nước vắng người, không tiếng động, thật chua xót.
Ở khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng hình ảnh trời và sông để mô tả sự mênh mông, vô tận. Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để biểu thị chiều sâu, thể hiện tài nghệ và tinh tế của Huy Cận. Hình ảnh sông nước mênh mông và từ “cô liêu” cuối đoạn như lột tả nỗi buồn sâu thẳm, không biết chia sẻ cùng ai.
Ở khổ thơ thứ ba, tác giả tìm kiếm sự ấm áp từ thiên nhiên nhưng thiên nhiên không phản hồi như người mong đợi:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không chuyến đò nào ngang qua
Không gợi chút niềm thương nhớ
Bờ xanh im lặng tiếp bãi vàng
Ở khổ thơ thứ ba, có vẻ như có sự thay đổi, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và yên bình như ở khổ thơ thứ hai. Từ “dạt” thể hiện sự biến đổi tinh tế của mọi vật. Tuy nhiên, từ “bèo” kèm theo hình ảnh “dạt về đâu” khiến tác giả thất vọng, vì “bèo” trôi nổi không định, không nơi nương náu, chỉ im lặng dạt đi, không biết đi đến đâu, không biết tồn tại bao lâu. Mặt nước mênh mông không có chuyến đò nào. Tác giả chỉ chờ đợi một chuyến đò để thấy sự sống vẫn tồn tại, nhưng có vẻ như điều này là không thể.
Mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu.
Ở khổ thơ cuối, bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Tư tưởng và tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường, thêm sầu, thêm buồn hơn. Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống.
Phân tích hai khổ thơ đầu bài Tràng giang đầy thi vị nhưng tới hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gửi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của Huy Cận khiến chúng ta liên tưởng đến tứ thơ của Thôi Hiệu:
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Là sóng của sông hay là sóng trong lòng người
Bài làm mẫu 4
Thơ là cây đàn muôn diệu của tâm hồn của nhịp thở con tim, thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, niềm vui, nỗi buồn sự cô đơn tuyệt vọng. Có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ, vì vậy thơ không chỉ nói hộ lòng mình mà thơ còn thể hiện những băn khoăn suy nghĩ về sự biến đổi của thế sự với cảm xúc dạt dào khi thấy cái tôi nhỏ bé trước vũ trụ bao la Huy Cận đã viết nên tác phẩm “Tràng Giang”, đặc biệt qua hai khổ thơ đầu của đoạn thơ ta cảm nhận rõ được điều đó.
Quả không sai khi nói rằng với người làm thơ, thơ là phương tiện biểu đạt cho cảm xúc cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính, cảm xúc càng mãnh liệt, thăng hoa thơ càng có sức ám ảnh trái tim bạn đọc.
Mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà thơ khi sáng tạo nghệ thuật cùng với nỗi buồn thế sự đầy sâu sắc Huy Cận đã xây dựng được một phong cách hoàn toàn mới mẻ, khác với những nhà thơ cùng thời. Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông có thể kể đến “Tràng Giang”, theo lời kể của Huy Cận bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều thu năm 1939 khi tác giả đứng ở bờ Nam Bến Chèm. Trước cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước, những cảm xúc thời đại đã dồn về khi thi sĩ thấy cái tôi của mình quá nhỏ bé so với vũ trụ nên ông đã gửi gắm vào trong tác phẩm.
Và cảm xúc của nhà thơ có lẽ thể hiện rõ nhất qua hai khổ thơ đầu.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót,
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.
Hai khổ thơ là bức tranh thiên nhiên sông nước hùng vĩ đồng thời ẩn chứa trong đó là một trái tim đa sầu, đa cảm với biết bao cảm xúc chan chứa không nói nên lời.
Mở đầu bài thơ Nhà thơ Huy Cận đã sử dụng một loạt các thi liệu trong thơ Đường “thuyền, sóng”. Đây là một bức tranh đẹp nhưng lại buồn đến tê tái, nói về điều này nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét thiên nhiên trong thơ mới đẹp, nhưng lại buồn đến da diết bâng khuâng. Nỗi buồn đó được lý giải trong câu nói của Huy Cận lúc đó chúng tôi mang một nỗi buồn đó là nỗi buồn thế hệ, chưa làm được gì cho đất nước trước cảnh nước mất nhà tan.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song”.
Từ “điệp điệp”, đã diễn tả tinh tế hình tượng của sóng nước. Những con sóng ấy sao hết lớp này đến lớp khác triền miên, vô tận. Ở đây nhà thơ miêu tả cái buồn của thiên nhiên hay cái buồn của con người, có lẽ là cả hai bởi Nguyễn Du từng viết.
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Dường như nỗi buồn của tâm cảnh đã nhuộm vào ngoài cảnh để rồi những nỗi buồn ấy gợi lên theo từng đợt trong lòng thi nhân.
Thuyền và nước là hai sự vật luôn đi cùng với nhau vậy mà ở trong tác phẩm này nó lại trở nên bơ vơ, lạc lõng. Thuyền là hiện diện của sự sống con người, nhưng đó chỉ là sự xuất hiện thoáng qua trong giây lát, “con thuyền xuôi mái” là hình ảnh thực nhưng cũng đầy chất suy tưởng nó gợi cho ta nhớ tới hình ảnh của những kiếp người trôi nổi, lạc lõng không biết đi đâu. Phải chăng chính Huy Cận cũng đã bắt gặp bóng dáng đó trong cuộc đời mình khi.“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước, Chọn một dòng hay để nước trôi đi”.
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
Con thuyền và cành củi khô là hai hình ảnh được sử dụng hết sức táo bạo, chúng đang cùng xuôi trên dòng tràng giang. Trong thơ của mình Huy Cận đã nhiều lần nhắc đến nỗi sầu buồn thiên thu, đến đây ta lại bắt gặp thêm một nỗi sầu nữa đó là sầu trăm ngả, chỉ với 3 từ cùng một cành củi khô đã nói lên được hình ảnh của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ, nếu trong thơ trung đại mỗi hình ảnh chất liệu đưa vào thơ đều phải được gọt giũa, chọn lọc như tùng, cúc, trúc, mai thì trong Tràng Giang Huy Cận đã đưa vào một hình ảnh rất đời thường: củi khô.
Phải chăng cành củi khô ấy cũng chính là nỗi cô đơn lạc lõng trong lòng tác giả, chính lúc bắt gặp cành củi khô ấy tác giả đã đối diện với những cái hữu hạn lớn lao của đất trời từ đó nỗi sầu nhân thế ấy đã được nêu lên trở thành nỗi buồn chung của một thế hệ thanh niên yêu nước. Vẫn là bức tranh thủy mặc sông nước ấy nhưng nó đã được vẽ thêm đất, thêm làng vậy mà nỗi buồn tái tê ấy vẫn hiện diện, nó được gợi lên qua sự tiêu điều của những cồn cỏ, sự hiu hắt của gió và sự vắng vẻ của cảnh vật.
“Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”,
Trong Chinh Phụ ngâm ta đã từng bắt gặp:
“Non kỳ quạnh quẽ trăng treo,
Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò”.
Dường như ngọn gió đìu hiu ấy đã vượt thời gian, xuyên không gian và trôi vào thơ Huy Cận. Từ láy “lơ thơ”, đã diễn tả được sự thưa thớt, rời rạc của những hòn đất nhỏ mọc trên dòng “Tràng Giang”. Trên những cồn đất ấy là hình ảnh của những cây lau, cây sậy mỗi khi gió thoáng qua nó trở nên hắt hiu tiêu điều.
Câu thơ như chùng xuống càng xoáy sâu vào tâm hồn của nhà thơ, khiến ông càng trở nên bất lực và muốn tìm đến hơi ấm của con người. “Đâu tiếng làng xa”, là ở đâu không xác định, âm thanh ấy nghe thật mơ hồ, vậy mà đó lại là âm thanh của chợ đã vãn nghe càng buồn hơn, cũng viết về chợ nhưng trong thơ của Nguyễn Trãi hình ảnh ấy lại hiện lên thật náo nhiệt đông đúc.
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ”
Vui nhất là âm thanh của chợ vui, buồn nhất là âm thanh của chợ vãn. Ở câu câu thơ này cái tinh tế của Huy Cận là ở chỗ ông lấy động để nói tĩnh, lấy tiếng chợ vãn để gợi nên không khí vắng lặng của không gian đồng thời thể hiện mong muốn được giao hòa, giao cảm của con người dù đó chỉ là thính giác.
Đã có ý kiến cho rằng, dòng Tràng giang là một giải buồn mênh mang. Thật đúng như vậy và hai câu thơ tiếp theo cái buồn của thiên nhiên của con người đã được tác giả đặt đến cái khôn cùng của nó.
“Nắng xuống trời lên sâu chót vót,
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.
Đến đây nhà thơ đã vẽ nên một không gian ba chiều rộng lớn là chiều cao, chiều dài, chiều rộng, còn nhà thơ thì đứng ở bến cô liêu nơi giao thoa của vũ trụ đối lập giữa không gian lớn lao với cái tôi nhỏ bé của con người, từng vạt nắng chiếu xuống mặt nước phản chiếu lên bầu trời không gian như được đẩy lên cao hơn đến sự khốn cùng của nó “sâu chót vót”, là từ ngữ không chỉ để nói về độ sâu, mà còn dùng để nói về độ cao, tạo cho người đọc cảm giác về sự rợn ngợp của không gian và đứng trước không gian đó con người càng trở nên nhỏ bé đáng thương hơn.
Cuộc sống là điểm xuất phát là, đối tượng khám phá, là cái đích cuối cùng của thơ ca. Những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt rễ từ đời sống hiện thực và có sức lan tỏa mãi trong trái tim bạn đọc. Đến với Tràng Giang của Huy Cận ta như khám phá được những nỗi niềm nhà thơ ký thác, nghe được tiếng thở dài bất lực của thi nhân trước cảnh nước nhà đang chìm trong khói lửa của chiến tranh, sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, sử dụng nhiều thi liệu trong thơ cổ, từ ngữ giản dị giàu hình ảnh, tất cả đã được làm nên thành công cho Tràng Giang của Huy Cận.
Tác phẩm đã khép lại nhưng mỗi lần đọc bài thơ nói chung và hai khổ thơ đầu nói riêng ta như thấy được nỗi sầu nhân thế của tác giả trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Phân tích hai khổ đầu bài thơ Tràng giang nhưng có lẽ đó chính là lý do tại sao dù ra đời đã lâu nhưng Tràng Giang vẫn không bị bụi thời gian phủ mờ nó vẫn còn sáng mãi trong lòng bạn đọc yêu thơ nhiều thế hệ.
...............
Tải tài liệu để đọc thêm về phân tích hai khổ đầu của bài thơ Tràng Giang
